Bài tổng quan
Lý Đỉnh Tộ gom lời chú Dịch của ba mươi lăm nhà
Nhiều bộ chú Dịch thời Hán Đường đã mất hẳn, chỉ còn trong trí nhớ của người đời sau. Một viên quan đời Đường gom lời của ba mươi lăm nhà vào mười quyển, và nhờ thế những dòng chữ ấy còn đến nay. Vì sao ông cố ý nghiêng về tượng số trong khi người đương thời đang chuộng nghĩa lý?
Lý Đỉnh Tộ là nhà kinh học và Dịch học đời Đường, người huyện Bàn Thạch, nay thuộc Tứ Xuyên. Ông từng giữ chức bí thư tỉnh hiệu thư lang và điện trung thị ngự sử. Bộ Chu Dịch tập giải của ông gồm mười quyển, Tân Đường thư phần Nghệ văn ghi thành mười bảy quyển. Trong bộ ấy có lời chú Dịch của ba mươi lăm người như Tuân Sảng, Ngu Phiên. Ngoài ra ông còn viết Cửu gia Dịch và Càn tạc độ.
Một kho lời chú gom từ Hán đến Đường
Bộ tập giải thu gom lời chú của rất nhiều người: Tử Hạ, Mạnh Hỉ, Kinh Phòng, Tuân Sảng, Ngu Phiên, Can Bảo, Vương Bật, Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt, Thôi Cảnh, Ngụy Bá Dương, Vương Túc, Hầu Quả, Lưu Biểu, Diêu Tín, Tống Trung, Lục Tích và nhiều nhà khác. Dù nổi danh hay ít người biết, hễ là Dịch học gia từ Hán đến Đường thì ông đều gom quan điểm của họ vào sách mình. Trong sách còn có Cửu gia Dịch, Càn tạc độ, Chu Dịch chính nghĩa, Chu Dịch chú, nên về mặt học thuật khá toàn diện. Tuy lấy tượng số làm chủ, ông không bài xích phái nghĩa lý, và phản ánh tổng hợp thành tựu nghiên cứu Dịch thời Hán Đường. Vì vậy bộ sách là tư liệu quý cho người nghiên cứu Dịch học.
Nghiêng về tượng số, nhưng không đóng cửa với nghĩa lý
Một người chọn gom lời chú, thật ra cũng đã chọn xem lời chú nào đáng để giữ.
Lý Đỉnh Tộ thu góp mọi thuyết, nhưng vẫn lấy tượng số làm chủ, nhất là thuyết của Ngu Phiên và Tuân Sảng, nên bộ sách dẫn rất nhiều quái biến để giải Dịch. Đồng thời ông cũng thu lý luận âm dương giải kinh của Vương Bật và Khổng Dĩnh Đạt. Chẳng hạn, ông dẫn quái biến của Ngu Phiên để giải câu lợi, hanh, trinh của quẻ Ly. Ông cũng chú ý ngũ hành. Lời Tượng quẻ Gia nhân nói gió từ lửa ra là tượng người trong nhà, ông dẫn lời Mã Dung rằng mộc sinh hỏa, hỏa lấy mộc làm nhà, hỏa được gió mà thịnh, như đạo vợ chồng, hai bên đều chính thì mới làm nên việc.
Nhưng với thuyết quái khí của Mạnh Hỉ và Kinh Phòng thì ông dẫn không nhiều. Điều đó cho thấy tượng số trong sách chưa toàn diện, và gọi sách là tập đại thành tượng số Hán Đường chỉ đúng khi đem so với Chu Dịch chính nghĩa, bộ thiên về nghĩa lý của Khổng Dĩnh Đạt. Thực ra không thể coi Chu Dịch tập giải là bản tổng kết toàn diện tượng số Dịch học thời Hán Đường.
Vì sao ông chọn tượng số
Câu trả lời nằm ở một lời nhận xét ngắn về hai người đi trước.
Ông gom nhiều lời của các nhà tượng số vì muốn sửa khuynh hướng nghiêng về nghĩa lý của một số người đương thời. Ông nhấn mạnh quan niệm tam tài của Chu Dịch, kiên trì giải Dịch toàn diện qua cả thiên tượng lẫn nhân tượng. Theo ông, Chu Dịch là bộ sách uyên áo, cần coi trọng thiên tượng và cả nhân tượng. Ông nhận xét rằng Trịnh Huyền phần nhiều bàn rộng về thiên tượng, còn Vương Bật lại chỉ chú giải về nhân sự, mà Dịch đâu có nghiêng riêng về trời hay về người. Vì thế ông phê phán khuynh hướng nhân sự của Vương Bật và chủ trương chấn chỉnh bằng cách nghiêng về thiên tượng. Quan điểm ấy hiện rõ trong bài tự của ông, nơi có câu:
Nguyên khí nhân uân, tam tài thành tượng.
Câu này cho thấy ông coi trọng bản thể nguyên khí nhân uân mà Hệ từ nhấn mạnh, nghĩa là sự giao cảm của khí, nền vật chất của tượng số Chu Dịch. Tam tài là chỉnh thể trời, đất, người; tam tài thành tượng nghĩa là vừa coi trọng nhân tượng, vừa nhấn mạnh thiên tượng. Đó là lý do ông dẫn lời của nhiều nhà tượng số.
Giữ lại những gì sắp mất
Công của ông được thấy rõ nhất ở những thứ không còn nữa.
Ông thu thập tác phẩm của các Dịch học gia từ Hán Đường trở về trước. Những bộ Dịch đời Hán ghi trong phần Nghệ văn của Hán thư, gồm mười ba nhà và hai trăm chín mươi bốn thiên, đều đã thất tán. Dù vậy, bộ tập giải của ông vẫn có đóng góp lớn vì giữ lại được lời chú của các danh gia.
Vương Bật, Khổng Dĩnh Đạt và Lý Đỉnh Tộ đều là Dịch gia nổi tiếng. Nhưng Vương và Khổng chú trọng nghĩa lý và xã hội nhân sự, còn Lý Đỉnh Tộ muốn hội tụ lời tượng số của Dịch Hán, nhằm bác sự phiến diện thiên về nghĩa lý của hai người ấy và khôi phục sự tương ứng giữa thiên tượng và nhân tượng. Cho nên muốn hiểu trọn sự phát triển Dịch học thời Hán Đường, phải đọc cả ba bộ tiêu biểu của ba người.
Bộ tập giải còn mở ra một tiền lệ là nghiên cứu tổng hợp các nhà. Chịu ảnh hưởng của ông, đời sau có Hán Ngụy nhị thập nhất gia Dịch chú của Tôn Đường, Dịch Hán học của Huệ Đống và những bộ khác theo con đường ấy.
Tóm lại, Lý Đỉnh Tộ là Dịch học gia nổi tiếng đời Đường, giữ địa vị quan trọng trong lịch sử Dịch học. Chu Dịch tập giải của ông là một tập đại thành của Dịch học và mở ra tiền lệ nghiên cứu tổng hợp các nhà.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
