Bài tổng quan
Nguyên khí, nhân uân và tinh khí: gốc rễ Chu Dịch của văn hóa khí
Người xưa cho rằng trước khi có trời đất đã có một làn hơi mịt mù, chưa thấy, chưa nghe, chưa nắm được. Từ làn hơi ấy, một dòng tư tưởng chảy qua hàng nghìn năm, và dừng lại ở cả hơi thở của người bệnh...
Khí đứng sau âm dương và vì sao khí là gốc rễ của văn hóa khí
Nếu âm dương là hai bàn tay, thì khí là hơi thở làm cho chúng cử động.
Tác giả mở chương mới bằng nhận xét rằng, trong các phạm trù triết học truyền thống Trung Hoa, ngoài âm dương có ảnh hưởng rất lớn còn có khí. Văn hóa về khí là hiện tượng văn hóa độc đáo của Trung Hoa và giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa truyền thống. Theo ông, khí là vật chất quan trọng của triết học, đồng thời là tinh thần căn bản của dân tộc, và cái khí dương cương chính là hồn của dân tộc ấy. Không có khí thì không có gì cả, điều đó cho thấy ý nghĩa to lớn của nó.
Ông giải thích mối quan hệ như sau: khí là cơ sở của âm dương, khí hóa là hình thức biểu hiện của sự vận động âm dương. Vì thế văn hóa khí là trọng tâm của văn hóa âm dương, hai thứ kết hợp tạo thành nét đặc sắc chính của văn hóa Trung Hoa. Ông cũng cho biết thêm rằng ngoài âm dương, phạm trù khí cũng không thể bỏ qua. Khí là nguyên khí, là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật Trung Hoa, và trong khía cạnh triết lý về khí, Chu Dịch đóng vai trò đặt nền móng quan trọng.
Từ chữ nguyên trong Kinh Dịch đến thuyết nguyên khí
Trước khi có chữ khí, đã có một chữ nói về cái đứng ở điểm đầu của mọi sự.
Chữ nguyên và hai quẻ Càn, Khôn
Kinh Dịch, từ hơn ba nghìn năm trước, rất coi trọng buổi khởi đầu của vạn vật vạn sự. Sách dùng bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh để cầu cho mọi khởi đầu được thuận lợi, may mắn. Nguyên nghĩa là lớn, đứng đầu, hanh là thông, lợi là thuận lợi, trinh là chính. Trong bốn chữ ấy, nguyên nói lên sự bắt đầu của vạn vật, và đây là điều Kinh Dịch đặt ra lần đầu. Kinh Dịch lấy quẻ Càn và quẻ Khôn để quy về khởi đầu của dương và âm, tức là Càn nguyên và Khôn nguyên được xếp đứng đầu hai quẻ, một dụng ý rất sâu.
Thoán truyện đã phát huy sáng suốt ý ấy. Về Càn, lời Thoán truyện cảm thán rằng lớn thay Càn nguyên, muôn vật nhờ đó mà bắt đầu, và nó thống trị cả trời. Về Khôn, lời Thoán truyện nói rằng đến thay Khôn nguyên, muôn vật nhờ đó mà sinh, thuận theo trời, đất dày chở vật, đức hợp không bờ, rộng lớn bao la, mọi loại vật đều rạng rỡ. Rồi sách nhắc ngựa cái là loài thuộc đất, đi trên đất không biên giới, mềm mà cứng, thuận mà có lợi, và người quân tử có nơi để đi, trước thì lạc đường, sau thuận theo mà được lẽ thường.
Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thủy, nãi thống thiên.
Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên.
Từ vạn vật đến vạn quốc, từ mọi loại vật rạng rỡ đến ứng với đất không bờ, theo tác giả, các lời ấy đều cho thấy quan hệ mật thiết giữa Càn nguyên, Khôn nguyên, tức nguyên dương và nguyên âm, với mọi sự vật nhờ đó mà bắt đầu và sinh ra. Kinh Dịch không nói thẳng hai chữ nguyên khí vì ở thời ấy chưa có chữ khí, mà chỉ nói gộp chữ nguyên. Nhưng từ tác dụng của Càn nguyên Khôn nguyên đã thấy ẩn chứa vai trò của khí. Dịch truyện, qua cái mịt mù của khí, bộc lộ cái ý ẩn của nguyên khí trong Kinh Dịch.
Thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố
Hệ thống Dịch vĩ nêu rõ hơn nữa ý ấy. Sách Càn tạc độ chép rằng thái sơ là điểm bắt đầu của khí. Trước thái sơ có giai đoạn thái dịch, trạng thái hỗn luân, tương đương giai đoạn trời đất mịt mù trong Dịch truyện. Văn sách nói có thái dịch, có thái sơ, có thái thủy, có thái tố. Thái dịch là lúc chưa thấy khí, thái sơ là lúc khí bắt đầu, khí, hình, chất đều đủ mà chưa tách lìa nên gọi là hỗn luân. Hỗn luân nghĩa là vạn tượng trộn thành một mà chưa tách, nhìn không thấy, nghe không nghe, theo cũng không bắt được, vì thế gọi là Dịch.
Càn khôn tạc độ nghĩa là mở mang càn khôn, phá vỡ thái dịch hỗn độn, bắt đầu khí hóa, vạn vật mới được sinh ra. Sách nhấn đi nhấn lại rằng có thái sơ rồi mới có thái thủy, có thái thủy rồi mới có thái tố. Tác giả giải thích: từ thái dịch đến thái sơ là thế giới vô hình còn hỗn mang, từ thái sơ đến thái tố là thế giới khí chất hữu hình, nơi càn khôn đã được mở và vạn vật đã sinh ra. Đó là bản thể luận vũ trụ và biến hóa luận đơn giản của thời cổ.
Ảnh hưởng của quan điểm thái sơ là điểm bắt đầu của khí đến các nhà tư tưởng đời sau rất lớn. Trương Tải đời Tống nói thái hư tức là khí, Ngụy Hiệu đời Minh nói thái hư là khí, Khang Hữu Vi trong Đại đồng thư nói muôn vật sinh ra đều gốc từ nguyên khí. Lão Tử gọi cái khí ấy là xung khí, như các chương nói đạo rỗng mà dùng không đầy, vạn vật cõng âm ôm dương, xung khí để hòa. Từ ngữ nguyên khí xuất hiện lần đầu trong Hạt Quan Tử thời Chiến Quốc, nhưng xét như một phạm trù triết học thì ảnh hưởng lớn của nó chủ yếu đến từ các nhà tư tưởng thời Hán, nhất là Đổng Trọng Thư trong Xuân thu phồn lộ, Công Dương học, và nhà duy vật Vương Xung.
Đổng Trọng Thư trên cơ sở chữ nguyên của Chu Dịch đã nêu chính xác thuật ngữ nguyên khí. Ông nói nguyên là gốc của vạn vật, và coi nguyên cũng là khí. Bản thể luận nguyên khí của Chu Dịch ảnh hưởng thẳng đến Vương Xung và Trương Hành đời sau. Trương Hành dùng nguyên khí trong lĩnh vực thiên văn cổ. Vương Xung trong Luận hành nói người bẩm thụ nguyên khí, khẳng định nguyên khí là tự nhiên, cũng như đạo trời là tự nhiên. Hoài Nam tử có câu nói khoảng hư không sinh ra vũ trụ, vũ trụ sinh ra khí, mà theo tác giả cũng có thể hiểu là nguyên khí. Từ nguyên hanh lợi trinh, Càn nguyên Khôn nguyên của Chu Dịch cho đến nguyên khí luận của Vương Xung, ông nói tư tưởng bản thể luận nguyên khí đã đến đỉnh cao, và Chu Dịch đặt nền cho nó.
Nhân uân, và quãng đường từ Hệ từ đến Vương Phu Chi
Có một chữ trong Hệ từ mô tả khí chưa thành vật, như hơi nước còn bồng bềnh trước khi tụ thành sương.
Tác giả nói quan niệm nhân uân của Dịch truyện, xuất hiện từ khoảng Xuân Thu đến Chiến Quốc, là một đóng góp lớn cho bản thể luận vũ trụ đời sau. Hệ từ chép rằng trời đất nhân uân, muôn vật hóa thuần. Nhân uân là cái mịt mù của khí. Theo chú giải trong từ thư cổ, nhân uân chỉ trạng thái của khí trước khi vạn vật sinh ra, tức nguyên khí. Đó là trạng thái sớm nhất của khí hóa, và mệnh đề này nêu rõ trạng thái ban đầu của bản thể khí, tỏa sáng cho bản thể luận vũ trụ duy vật giản đơn.
Ảnh hưởng của nó với khí bản thể luận đời sau rất lớn. Nhà lý học Trương Tải đời Tống, người nghiên cứu Chu Dịch rất sâu, nêu ra mệnh đề thái hư tức khí, và nói rõ bản thể luận về khí của ông bắt nguồn từ Dịch. Trong Chính mông, thiên Thái hòa, ông nói rằng biết hư không tức là khí thì có và không, ẩn và hiện, thần và hóa, tính và mệnh đều thông làm một, chứ không phải hai. Ông bàn chuyện tụ tán, ra vào, hình và không hình, và nói ai suy ra được cội nguồn thì sẽ thâm hiểu nghĩa của Dịch. Tư tưởng ấy liên hệ mật thiết với mệnh đề khí là bản thể của nhân uân của Vương Phu Chi đời Thanh.
Tác giả gọi Vương Phu Chi là đại biểu kiệt xuất của triết học duy vật cổ đại Trung Hoa, người mang thành tựu của chủ nghĩa duy vật cổ đại lên đỉnh cao. Nhất là nhân uân khí bản thể của ông thực sự từ Chu Dịch mà ra. Ông nói thái hư tức khí, là bản thể của nhân uân. Trên cơ sở thái hư tức khí của Trương Tải, ông nối bản thể nhân uân của Dịch truyện với khí, hoàn chỉnh tư tưởng khí bản thể của chủ nghĩa duy vật cổ đại Trung Hoa. Vương Đình Tương đời Minh cũng hết sức tán đồng quan niệm nhân uân. Ông viết rằng trời đất không hình, chỉ có thái không, mọi hình đều ở trong cái không ấy, và từng cái từng cái ủ mầm mà muôn vật thành chất. Từ trời đất nhân uân, muôn vật hóa thuần của Chu Dịch đến khí là bản thể của nhân uân ở Vương Phu Chi, tác giả thấy sự phát triển của quan điểm khí bản thể luận duy vật Trung Hoa, đồng thời chứng minh tác dụng đặt nền của Chu Dịch, đặc biệt là Dịch truyện.
Tinh khí tạo nên con người và vạn vật
Từ mây khí mịt mù, bài toán thu hẹp lại: cái gì trong khí khiến một thân thể sống được?
Tác giả cho rằng trước nay người ta tưởng Quản Tử là người đầu tiên nói đến tinh khí, nhưng thực ra chính Dịch truyện đặt cơ sở cho tinh khí của Quản Tử, xung khí của Lão Tử và tinh khí của Hoàng đế nội kinh. Trên cơ sở nhân uân, Dịch truyện đưa ra khái niệm tinh khí và chỉ ra hình thức vận động biến đổi cụ thể của khí, với mệnh đề tinh khí là vật, du hồn là biến. Đó là cơ sở để đời sau phân tích phạm trù khí và nguyên khí.
Trên khái niệm tinh khí của Dịch truyện, Quản Tử đi sâu hơn. Thiên Nội nghiệp nói tinh là phần tinh của khí. Có câu nói mọi vật có tinh, hóa thì sinh ra. Lại có câu một khí biến đổi mỗi ngày gọi là tinh. Hơn nữa, trên ý nam nữ giao tinh, vạn vật hóa sinh của Dịch truyện, Quản Tử chỉ rõ con người do tinh khí tạo thành, và thiên Thủy địa nói rằng khi tinh khí của nam và nữ hợp thì hình thể bắt đầu chảy ra.
Lão Tử không trực tiếp nhắc hai chữ tinh khí, nhưng khi nói về đạo cũng nói đến tinh. Chương hai mươi mốt tả cái đạo mơ hồ, trong đó có tượng, có vật, tối tăm sâu thẳm mà trong đó có tinh, tinh ấy rất thật, trong đó có tín. Tác giả giải thích rằng đã gọi tinh là vật rất thật, thì vật này chính là nguyên tố của vũ trụ, tiền thân của tinh khí.
Hoàng đế nội kinh thì đúc rút thành tựu về tinh khí của Chu Dịch và Quản Tử trước thời Hán, rồi phát triển sáng tạo, kết hợp lý luận tinh khí với sinh lý và bệnh lý của người, vận dụng thành công vào y học, lập nên học thuyết tinh khí của Đông y, đặt cơ sở lý luận cho khí trong Đông y. Chẳng hạn sách cho rằng điều căn bản của sinh mệnh con người là tinh, và nói tinh là gốc của sự sống. Trên cơ sở kết hợp thuyết tinh khí nguyên tố với tinh khí thần, sách sáng lập ra tinh khí, thần khí, doanh khí, vệ khí, huyết khí, khí của ngũ tạng, rồi gắn với lý luận Đông y mà nêu các khái niệm chính khí, tà khí, kinh khí, chân khí, lục dâm khí. Tác giả nói những điều ấy đặt nền cho sự hình thành và phát triển lý luận về khí của Đông y.
Vương Xung cũng trình bày vai trò của tinh khí với sinh mạng. Ông viết rằng điều làm người ta sống là tinh khí, chết thì tinh khí diệt. Thứ làm nên tinh khí là huyết mạch, người chết thì huyết mạch cạn. Cạn rồi thì tinh khí diệt, diệt rồi thì hình thể trống rỗng, rỗng rồi thì thành tro đất, còn dùng vào việc làm quỷ sao được. Tác giả nhận xét rằng cách phân tích của Vương Xung, cùng quan điểm duy vật, đã bác lý luận thần học sai lầm của sấm vĩ thời Hán.
Tư tưởng tinh khí là vật, du hồn là biến của Dịch truyện còn vang lên trong quy luật vật chất không diệt của đời sau. Vương Đình Tương đời Minh phát huy lý luận này, ông viết rằng sống là tinh khí kết thành vật, tụ lại, chết là du hồn biến đi. Quy là trở về vị trí gốc, trở về gốc rồi lại vào hư không. Tác giả giải rằng chỗ này chỉ ra sự tồn vong của sinh mệnh là biến hóa của du hồn trong tinh khí, không phải tư tưởng tôn sùng quỷ thần, mà là nêu quy luật vật chất bất diệt. Nhà duy vật nổi tiếng đời Thanh là Cố Viêm Vũ cũng bổ sung rất sáng tạo, nói tinh khí là vật là từ không mà có, du hồn là biến là từ có mà thành không. Theo tác giả, từ Dịch truyện về sau, nhiều nhà triết học qua các đời đều lấy thuyết tinh khí nguyên tố làm nền để trình bày và phát huy, và đó là dấu ấn của Chu Dịch trong sự phát triển học thuyết về khí của Trung Hoa.
Hào âm và hào dương, cái nôi sớm nhất của hai khí
Hai nét vẽ đơn giản nhất của Kinh Dịch hóa ra chứa sẵn nhịp thở của khí.
Hào âm và hào dương trong Kinh Dịch là phạm trù âm dương sớm nhất. Thời Kinh Dịch chưa có chữ khí, nhưng từ quy luật thăng giáng của hào âm dương và ý nghĩa chứa trong quẻ từ, hào từ, người ta thấy nổi bật quy luật chuyển hóa tăng giảm giữa hai khí. Nhìn sự biến đổi của bát quái và sáu mươi bốn quẻ, quy luật tăng giảm biến hóa của hai khí được phản ánh tinh tế, riêng mười hai quẻ tiêu tức cũng đủ thấy ý nghĩa chứa trong hào âm hào dương đối với hai khí.
Kinh Dịch tuy không nói hai chữ âm dương, nhưng từ nghĩa hai quẻ Càn Khôn có thể thấy điều nó phản ánh là sự phát triển từ nhỏ đến lớn, từ thịnh đến suy, quy luật chuyển hóa tăng giảm. Ở quẻ Càn, từ hào sơ đến hào trên cùng, các chữ ẩn, hiện, nhảy, bay, quá cao của con rồng chỉ quy luật biến hóa của dương khí. Ở quẻ Khôn, hào sơ lục nói giẫm sương thì băng cứng sắp đến, phản ánh quá trình từ sương đầu đến băng cứng. Những phạm trù như hào âm, hào dương, trời đất, rồng, ngựa cái, rùa được dùng để phân tích quy luật vận động hàm chứa, và không nghi ngờ gì, đó là quy luật vận động của hai khí âm dương.
Trên cơ sở ấy, Dịch truyện nêu sâu sắc quy luật vận động của hai khí và coi đó là quy luật căn bản của vũ trụ. Hệ từ nói một âm một dương gọi là đạo. Âm dương không thể đo lường gọi là thần, càng cho thấy tính phức tạp của sự biến đổi vận động và nguồn gốc sinh ra vạn vật là tác dụng qua lại giữa khí âm và khí dương. Rồi đến câu Dịch có thái cực, sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái.
Hai khí trong Dịch truyện ảnh hưởng sâu đến đời sau. Lão Tử có câu vạn vật cõng âm mà ôm dương. Trang Tử nói âm dương là cái lớn nhất của khí. Quản Tử viết mùa xuân là lúc dương khí bắt đầu lên, mùa thu là lúc âm khí bắt đầu xuống, dùng sự biến đổi hai khí để phản ánh khí hậu tự nhiên. Hoài Nam tử suy rộng khí âm dương thành đạo trị nước, đưa ra nguyên tắc điều hòa âm dương. Đạo gia coi khí âm dương là nguồn gốc của việc nuôi dưỡng thân thể. Hoàng đế nội kinh đưa khí âm dương vào y học để phân tích sinh lý và bệnh lý của Đông y, coi đó là lý luận nền quan trọng, xuyên suốt toàn bộ hệ thống và chỉ dẫn cách chẩn trị. Tố vấn có câu rằng âm dương là đạo của trời đất, là giềng mối của vạn vật, là cha mẹ của biến hóa, là gốc đầu của sinh sát, là nơi chứa thần minh, trị bệnh phải tìm ở gốc:
Phù âm dương giả, thiên địa chi đạo dã, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thủy, thần minh chi phủ dã, trị bệnh tất cầu ư bản.
Sách còn nói người sinh ra có hình thể thì không rời âm dương. Người lạnh thì dương khí ít, âm khí nhiều, người nóng thì dương khí nhiều, âm khí ít. Linh khu, thiên Mạch biến, nhắc rằng âm khí quá thịnh thì dương khí không nổi lên được, dương khí quá thịnh thì âm khí cũng không nổi lên được, mà cả hai cùng thịnh quá thì không cái nào nổi lên được. Tác giả kết rằng khí âm dương bắt nguồn từ Kinh Dịch, phát triển từ Dịch truyện và Bách gia chư tử, và có ảnh hưởng sâu đến văn hóa âm dương Trung Hoa.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
