Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Hang đá Đôn Hoàng và bích họa chắt từ hai phương trời

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/202610 phút đọc5 lượt đọc
Hang đá Đôn Hoàng và bích họa chắt từ hai phương trời

Trong những căn phòng đá bít kín của hang Phật ở Cam Túc, một đạo sĩ tình cờ mở ra hơn hai vạn cuốn kinh cùng hàng trăm bức tranh vách. Từ đó, ánh sáng của cả một ngã tư đường tơ lụa tràn ra thế giới. Làm sao một bức tường đá chứa được cả Tây Vực lẫn Trung Nguyên...


Viên ngọc nằm trong những căn phòng đá

Nghệ thuật Đôn Hoàng là niềm tự hào của văn hóa Trung Hoa, bừng sáng cả nghệ thuật lẫn Phật học. Nó là kết tinh của nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, gom trí tuệ của các nghệ sĩ qua hàng nghìn năm, và sức hấp dẫn của nó đã mở cho loài người một con đường nghệ thuật với phong cảnh tráng lệ.

Đôn Hoàng gồm những bức bích họa, những tác phẩm điêu khắc, những bài hát, điệu múa và văn học nghệ thuật trong các hang động ở bảo tàng Thiên Phật. Viên ngọc ấy được tìm thấy trong những căn phòng đá bí mật thuộc quần thể hang tượng Phật ở huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc. Trong đó có hơn hai vạn cuốn kinh Phật, hàng trăm bích họa và tượng Phật, cùng rất nhiều tài liệu văn hóa cổ. Việc phát hiện ra chúng làm văn hóa Trung Hoa rực rỡ thêm.

Người đầu tiên phát hiện ra những căn phòng đá ấy là đạo sĩ Vương Viên Lục. Điều đáng tiếc là kho báu ấy hiện ra vào lúc triều Thanh suy yếu, nên nhiều thứ bị các đoàn thám hiểm từ Anh, Pháp, Nhật, Nga, Mỹ mang đi: kinh sách, tài liệu văn học và lịch sử, những bích họa có giá trị. Chúng nay nằm trong các viện bảo tàng lớn ở Anh và ở Boston. Đôn Hoàng ngày nay chỉ còn hơn tám nghìn cuốn kinh Phật và một số bích họa chưa kịp bị lấy đi.

Phần lớn tài liệu về Đôn Hoàng hiện có là bản sao mua lại với giá rất cao từ các viện bảo tàng nước ngoài. Đứng trước những bản sao ấy, người ta buồn như đứng trước di chỉ vườn Viên Minh, và đó cũng là lý do con cháu Viêm Hoàng quyết tâm khai thác kho tàng văn hóa Đôn Hoàng.

Nghệ thuật dựng trên nền triết học âm dương

Nước chảy đến đâu cũng mang theo bùn đất xứ khác, nhưng dòng sông vẫn gọi tên mình.

Nét riêng của nghệ thuật Trung Quốc là dựng trên nền triết học âm dương, và Kinh Dịch là bức tranh của nghệ thuật âm dương ấy. Hội họa, mỹ thuật, âm nhạc, vũ đạo, điêu khắc cổ điển đều chứa triết lý âm dương. Nghệ thuật Trung Quốc cũng nhận nhiều ảnh hưởng từ nước ngoài, nhưng vẫn đi theo quy luật riêng, trên một con đường mang nét đặc sắc Trung Hoa. Điều đó gắn với lý luận Dịch và những triết học cổ khác như triết học Trang Tử. Cho nên dù bị nghệ thuật phương Tây, tôn giáo và các nghệ thuật ngoại quốc bao quanh, nghệ thuật Trung Quốc vẫn không mất nét riêng và vẫn đứng độc lập trong vườn nghệ thuật thế giới. Bí quyết nằm ở cấu trúc triết học bên trong, ở sự hòa hợp giữa triết học và nghệ thuật.

Bích họa: muôn vàn ngôi sao trong bầu trời Đôn Hoàng

Trong nghệ thuật Đôn Hoàng, bích họa là muôn vàn ngôi sao sáng. Chủ yếu có tượng Phật, tranh thần và các bức vẽ truyện kinh Phật, trong đó có hơn một vạn tượng Phật, hơn một trăm bức tranh về truyện kinh Phật, và hàng chục bức tranh thần thoại truyền thống, phần lớn là chuyện trong Sơn Hải kinh. Nói gọn, bích họa Đôn Hoàng thể hiện Phật học và thần thoại truyền thống, và có một ít nội dung kết hợp đạo Phật với đạo Nho.

Nó là hình ảnh thu nhỏ của lịch sử bích họa Đại Đường. Không chỉ có những bức nói về kinh Phật như "Tây phương tịnh thổ biến", "Đông phương Dược sư tịnh thổ biến", "Di Lặc tịnh thổ biến", còn có tranh cung đình và tranh dân gian như cảnh Trương Nghi Triều thống lĩnh quân, cảnh hai vợ chồng Trương Nghi Triều ra đi, cảnh phu nhân nước Tống ra đi, cùng những bức vẽ đời sống xã hội và tình cảm đời Đường.

Hình tượng gặp nhau giữa Trung Nguyên và Tây Vực

Đôn Hoàng là thị trấn quan trọng nằm giữa Trung Nguyên và Tây Vực, trên tuyến chính của con đường tơ lụa. Nơi này được khai phá từ thời Hán. Nhà Hán kết thông gia để thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Trung Nguyên và Tây Vực, và Trương Khiên đã hai lần đi sứ Tây Vực theo con đường qua Đôn Hoàng. Hơn một nghìn năm nay, nhờ đường tơ lụa và thị trường buôn bán, nó trở thành một thị trấn biên giới nổi tiếng. Buôn bán nở rộ, lụa là qua lại, mỹ thuật và nghề thủ công phương Tây cũng vào theo. Hơn 1600 năm nay, bích họa Đôn Hoàng ngày một nhiều và phong phú.

Đôn Hoàng là cửa ngõ lớn nối Trung Nguyên, lại học những cái hay của Tây Vực và các nước phía Tây, rồi dần thành bích họa mang nét riêng. Tây Vực là vùng Tân Cương nối Tây Trung Quốc với các nước, vừa là cửa ngõ phía Tây, vừa là cửa của đường tơ lụa. Văn hóa phía Tây đi qua Tây Vực vào Đôn Hoàng, rồi theo vành đai Hà Tây vào Trung Nguyên.

Bích họa Đôn Hoàng vì thế vừa sửa lại những bản khắc đời Hán - Tấn, vừa lấy chất lãng mạn của hội họa phương Tây. Sự vào của nghệ thuật phương Tây không chỉ làm giàu đề tài và nội dung mà cách vẽ phương Tây còn làm bích họa rực rỡ thêm. Nhờ kỹ thuật giải phẫu cơ thể người của phương Tây, bích họa tiếp thu lối vẽ hỗn hợp về cảm nhận lập thể, đẩy cảm nhận thẩm mỹ lên nhiều góc độ, mở một lĩnh vực mới cho hình tượng.

Lối vẽ khỏa thân của Tây Vực không trực tiếp hiện ở Đôn Hoàng, nhưng nét đẹp của thân thể con người đã đi vào bích họa. Tranh vừa kế thừa lối tranh lễ giáo của Nho gia Trung Nguyên, lấy y phục làm hình thức chính, vừa nhận lối vẽ khỏa thân Tây Vực, nên thành thể tranh vừa ẩn vừa hiện, vừa trang trọng vừa cởi mở. Nó là mẫu mực của sự kết hợp tranh Trung Nguyên với tranh Tây Vực cổ, và là bảo vật quan trọng để nghiên cứu mỹ thuật hội họa cổ điển Trung Quốc.

Cái thần trong tranh: lấy hình để tả thần

Tranh Trung Quốc rất chú trọng truyền thần. Cố Khải Chi nói về việc mượn hình mà tả thần, và cái thần trong tranh là chuẩn mực thẩm mỹ cao nhất. Thần ở đây là sự truyền thần qua hình thức bên ngoài mà phản ánh nội dung bên trong tác phẩm. Truyền thần không chỉ quý ở con mắt, mà giới hạn cao nhất là cả hình thái lẫn thần thái đều diễn được cái thần, vì hiệu quả của một bức tranh là một chỉnh thể, không có bộ phận độc lập.

Đôn Hoàng là thị trấn quan trọng của Tây Vực, nghệ thuật Phật giáo từ phương Tây ảnh hưởng đến đây trước tiên và đẩy bích họa đi lên. Bích họa Đôn Hoàng tiếp thu phong cách hội họa của Phật và Đạo, nhất là cái thần trong nghệ thuật tôn giáo, làm giàu thêm nghệ thuật truyền thần. Cái thần của tôn giáo phong phú, đa dạng, lại riêng biệt: cái "từ" trong tranh tượng Phật, cái "tiên" trong tranh Đạo đều thể hiện cái thần thông vượt khỏi yêu cầu về "nhân" và "lễ" của nhà Nho. Bích họa còn có vẻ thần linh đặc biệt của đạo Phật, làm tăng cảm nhận thần linh trong hội họa.

Sự tiếp thu đạo Phật, nhất là nghệ thuật Phật giáo, vô hình trung làm tranh Trung Quốc, vốn chịu ảnh hưởng nhà Nho và rất coi trọng hiện thực, thêm sắc thái lãng mạn và sức tưởng tượng. Bố cục các nhân vật thần linh và nhân vật trần tục thêm đa dạng, giới hạn của cái "thần" trong hội họa được mở rộng, làm bích họa Đôn Hoàng thành đỉnh cao của hình tượng thần thánh cổ Trung Quốc.

Ý cảnh: cảnh sinh ra ngoài hình

Một bức tranh chỉ đứng được lâu khi nó nói ra điều mà những nét vẽ không thể nói hết.

Từ "cảnh giới" vốn xuất phát từ kinh Phật, như cảnh giới vô nhiễm, trí cảnh, thiền cảnh, và năm cảnh của nhà Phật là sắc, thanh, hương, vị, xúc. "Ý cảnh" trong mỹ học được rút từ "cảnh giới" của kinh Phật, nghĩa là cảnh sinh ra hình tượng ngoài hình. Ý cảnh là thước đo thẩm mỹ quan trọng của văn học nghệ thuật, cho biết độ sâu của tác phẩm. Từ góc độ thơ ca, ý cảnh là lời có hạn mà ý không cùng, như Nghiêm Vũ nói trong Thương Lãng thi thoại. Trong tranh, phải có họa trong tranh, tượng trong tượng thì mới là bức tranh có ý cảnh sâu. Tranh vốn là loại hình tượng giống nhau về hình thức, chỉ những bức không dừng ở chỗ giống bề ngoài mới đi vào ý cảnh. Vẽ thế nào mới tả được ý? Trước hết phải hợp tình với cảnh, nghĩa là người vẽ phải có cảm xúc.

Những người vẽ bích họa Đôn Hoàng bị phong cảnh và tâm tình Tây Vực cuốn hút, sửa những bản khắc truyền thống, thêm nền trí tưởng tượng, làm nổi bật và thêm ý thơ cho tranh. Đặc biệt là việc nhiều tranh kinh Phật vào Đôn Hoàng, mang theo gợi ý của tranh Phật, nét vẽ truyền thống tiếp thu kỹ xảo ánh sáng của Tây Vực, tô đậm cảm nhận lập thể và sức tưởng tượng. Tranh kinh Phật lập thể, góc cạnh phức tạp tác động đến lối vẽ Trung Nguyên, rồi đưa bích họa sâu vào ý cảnh.

Chẳng hạn trong hang số 249 có tranh lực sĩ thần bí, Tây Vương Mẫu, Đông Vương Công, A-tu-la, làm giàu sức tưởng tượng và sức hấp dẫn. Những bức về chuyện năm trăm tên cướp thành Phật (hang 285), chuyện hươu chín màu ra đời (hang 257), chuyện sa di giữ giới mà tự sát (hang 257) có ý cảnh sâu và sức hấp dẫn nghệ thuật. Ý cảnh của bích họa không chỉ đi sâu vào phương diện thần Phật. Đặc biệt bức "Tây phương tịnh thổ biến" ở hang 331 thể hiện vẻ đẹp của thế giới cực lạc bằng trí tưởng tượng phong phú của người họa sĩ, ở đó họ gửi một nguyện vọng về cuộc sống tươi đẹp hơn.

Bức "Di Lặc biến" (hang 445) vẽ ánh mắt của năm người con trai và năm người con gái muốn cạo đầu đi tu, rất truyền thần: người ngơ ngác, người thận trọng, người rầu rĩ, người bi lụy, mỗi người một tư tưởng và tình cảm khác nhau. Điều đó nâng ý cảnh của bức vẽ và tô đậm hơi thở cuộc sống thường ngày, trong buôn bán, trong chính sự. Những bức như cảnh thương gia người Hồ gặp cướp (hang 420), cảnh thu hoạch (hang 445), cảnh săn bắn (hang 249) đều sinh động như thật, xứng đáng là tác phẩm nghệ thuật quý giá.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện