Bài tổng quan
Huyền Trang thỉnh kinh và Tông Khách Ba dựng lại giới luật
Một nhà sư trốn khỏi Ngọc Môn quan, đi gần năm vạn cây số tới Na Lan Đà rồi thắng cả đại hội mười tám ngày mà không ai phản bác nổi. Xa hơn về phía Tây, một thiếu niên đội chiếc mũ vàng, bắt tăng sĩ bỏ rượu, bỏ chuyện vợ con và lối bùa chú lừa người. Hai con đường tìm lại chính đạo ấy khác nhau ở đâu...
Mục lục · 8 phần
- 01Huyền Trang: một mình ra Ngọc Môn quan đi tìm chân kinh
- 02Năm vạn dặm giữa sa mạc, tuyết và gươm
- 03Hai mươi năm dịch kinh ở Trường An
- 04Duy thức: muôn pháp chỉ là sự hiện ra của tâm
- 05Món quà của Huyền Trang cho đời sau
- 06Tông Khách Ba: vị tăng đội mũ vàng của cao nguyên
- 07"Duyên khởi mà có, tự tính vốn không"
- 08Dựng lại giới luật, đặt Hiển trước Mật
Huyền Trang: một mình ra Ngọc Môn quan đi tìm chân kinh
Huyền Trang (600–664), tục danh Trần Vỹ, người huyện Hầu Thị, Lạc Châu, Hà Nam. Cha ông là Trần Huệ, theo nghiệp Nho. Theo sử chép, ông sớm thông kinh thuật, thân cao tám thước, lông mày đẹp, mắt sáng. Thuở nhỏ ông học Nho, theo cha học Hiếu kinh; sau theo người anh thứ hai là pháp sư Tiệp học kinh Phật ở chùa Tịnh Độ, Lạc Dương, đọc thuộc nhiều bộ như Pháp hoa, Duy ma. Hai mươi mốt tuổi thọ giới cụ túc, rồi theo các pháp sư học Niết bàn kinh, Nhiếp luận, đến mức được cử lên ngồi giảng lại cho cả chúng nghe, ai cũng khen. Sau đó vào Trường An theo các danh tăng học Câu xá luận, Nhiếp luận, Niết bàn kinh; hai mươi bốn tuổi đã học hết các kinh Phật có ở Trung Quốc.
Nhưng ông vẫn thấy chưa chạm tới "chân đế", nhất là muốn học bộ Du già sư địa luận, và nảy ý sang Thiên Trúc tìm kinh. Lúc ấy triều đình lạnh nhạt với Phật giáo; cha con Lý Thế Dân muốn thêm vẻ vang cho Đạo gia nên nhận Lý Nhĩ làm tổ, thậm chí đến Quốc Tử Giám tuyên bố thứ tự: nhất Đạo, nhì Nho, ba Phật. Huyền Trang muốn đi lấy chân kinh, cũng muốn đổi địa vị xã hội của đạo Phật, nên những năm đầu niên hiệu Trinh Quán ông một mình sang Tây Vực.
Năm vạn dặm giữa sa mạc, tuyết và gươm
Một nhà sư gầy gò, không giấy thông hành, đi qua nơi chim không bay, thú không chạy. Điều gì giữ ông đứng vững?
Ông trốn khỏi Ngọc Môn quan một mình, dù biết bị phát hiện sẽ bị bắn chết. Qua cửa ải rồi, ông suýt bị người dẫn đường người Hồ giết. Sau lại suýt chết khát giữa sa mạc, nơi trên trời không chim, dưới đất không thú, nói chi đến nước và cỏ cây. Qua nước Cao Xương, ông bị ép ở lại, phải tuyệt thực mới được đi tiếp; vượt dãy Phạ Mễ Nhĩ phủ băng tuyết, ông suýt ngã mất mạng. Đường đi còn đầy sài lang hổ báo, cướp bóc, đuổi giết.
Tới Thiên Trúc, nhiều lần ông bị đệ tử các giáo khác thách đố, nên viết ra Hội tông luận, Trung quán, Duy thức, và bạn cùng phòng viết Chế ác kiến luận một nghìn một trăm năm mươi bài tụng để bác Tiểu thừa luận, biến hiểm thành yên. Trải gần năm vạn cây số, ông tới chùa Na Lan Đà, nghe pháp sư Giới Hiền giảng Du già luận, thế là toại nguyện học chân kinh. Học xong Du già luận ông học tiếp Trung luận, Bách luận, Câu xá, Bà sa, trong năm năm; rồi sang miền Đông, Nam Ấn Độ thêm bốn năm, học hết luận điển của Đại, Trung, Tiểu thừa và các tông phái.
Trở lại Na Lan Đà, ông giảng kinh cho chúng tăng. Bộ Hội tông luận ba nghìn bài tụng của ông dung hòa hai quan điểm Du già và Trung quán, được hai phái cùng tán thành, nên tiếng vang khắp Ấn Độ. Sau này khi Phật giáo Tiểu thừa phương Nam thách thức Đại thừa, ông được Giới Nhật Vương ủy thác viết Chế ác kiến luận một nghìn sáu trăm bài tụng, khiến vị luận sư chính lượng bộ phải khâm phục.
Năm 643, vua Giới Nhật, người có uy tín nhất Ấn Độ, mở Đại hội Vô già ở thành Khúc Nữ; Huyền Trang làm chủ tọa, chấn động cả nước Ấn. Luật của hội là ai bị bác lại thì bị chặt đầu giữa mọi người, nhưng suốt mười tám ngày giảng kinh không ai phản bác được. Giới Nhật Vương tặng voi cho ông cưỡi đi dạo phố cho dân chiêm ngưỡng; ông đạt địa vị và sự kính trọng mà ngay tăng sĩ Ấn Độ cũng ít người có, và chưa người Trung Quốc nào thời cổ được nước ngoài tôn trọng như thế. Từ biệt Giới Nhật Vương, Giới Hiền và chư tăng, ông dùng bạc và voi được tặng mua mấy trăm bộ kinh Phật cùng rất nhiều tượng Phật đem về nước.
Hai mươi năm dịch kinh ở Trường An
Về đến quê hương, việc khó nhất mới bắt đầu: biến những cuộn kinh chữ Phạn thành chữ Hán.
Năm 645, Huyền Trang về tới Trường An, dâng biểu lên vua Đường Thái Tông; nhà vua mừng, đề nghị ông viết sách và cho chùa Hoằng Phúc làm nơi dịch kinh, phái người cùng giúp. Ông viết bộ Đại Đường Tây vực ký nổi tiếng thế giới, được vua đích thân đề tựa "Đại Đường Tam Tạng Thánh giáo". Gần hai mươi năm sau đó, được nhiều vị hòa thượng phụ giúp, đến năm 663 ông dịch xong bảy mươi lăm bộ kinh Phật, hơn một nghìn ba trăm quyển, gồm Du già sư địa luận, Đại Bát nhã, Thành duy thức luận... Năm 664, vị danh tăng khép lại cuộc đời rực rỡ; tin truyền đến hoàng cung, vua Cao Tông than: "Ôi, ta đã mất bảo vật của nước rồi!"
Duy thức: muôn pháp chỉ là sự hiện ra của tâm
Nếu thế giới ta thấy do tâm hiện ra, thì "thấy" và "bị thấy" thực ra là một chuyện.
Hệ thống Phật học của Huyền Trang thuộc phái Du già Đại thừa, lấy bộ Du già sư địa luận làm tông chỉ. Phái này do Di Lặc sáng lập, truyền cho Vô Trước, Thế Thân; mục đích cuối cùng là vãng sinh Tịnh Độ. Tư tưởng cốt lõi là Duy thức: "muôn pháp chỉ có thức", ngoài tâm không có thức nào khác, nên còn gọi là Pháp tướng duy thức, nghĩa là mọi tướng của các pháp đều do thức biến hiện.
Chữ "pháp" của nhà Phật rộng hơn chữ "vật chất" thông thường. Ví dụ con hươu có đầu có sừng: đó là cái "giữ" tính chất của con hươu; còn sự hiểu biết của ta nhận ra "con hươu có đầu có sừng" là mặt "chuẩn mực" do nhận thức. Chữ "pháp" gom cả hai mặt: tự tính của vật và cái được nhận thức. Pháp gồm cả cái tồn tại và cái không thật sự tồn tại, tức hai mặt "chân" và "ảo". Duy thức học cho rằng ngay cả "chân pháp" cũng không sinh không diệt, huống hồ "ảo pháp". "Thức" là tâm, tức ý thức; vạn pháp duy thức nghĩa là tướng của mọi thứ có không đều là tác dụng của tâm thức; lìa tâm thì không có cảnh ngoài.
Kinh Phật nói có tám thức, trọng yếu nhất là A lại da thức, nghĩa là "nhà kho", tâm chứa mọi hạt giống của pháp, có thể làm hiện ra mọi pháp. Muôn vật đều do hạt giống của chính nó tạo thành; nhân thiện sinh quả thiện, nhân ác sinh quả ác. Tinh hoa của Duy thức là muôn pháp "do nhân duyên mà có, tự tính như không". "Duyên" chính là A lại da thức, tức hạt giống tiềm ẩn trong tâm thức; mọi thức đều sinh nhờ hạt giống của từng cá thể; hạt giống của mọi pháp nằm trong tâm thức, do tâm thức sinh vạn pháp nên gọi là "chỉ có thức". Cho nên cái "thức của ta" cũng là do duyên, "do duyên mà thức chứ không phải thức thật". Thực chất của Duy thức học là dứt chấp ngã và chấp pháp: phủ nhận thực thể của "ta" và "pháp", thấy cả hai đều không, đều do vọng tình mà sinh. Khi "ta" đã không thì vạn pháp biết dựa vào đâu? Mọi pháp chỉ là do duyên mà sinh, do duyên mà diệt, như mặt trăng trong nước, như bóng của vật. Dứt được chấp ngã và chấp pháp thì trừ được chướng phiền não và chướng sở tri, chứng cảnh giới Bồ đề: ngã và pháp đều không, Niết bàn viên mãn. Bởi vậy Duy thức tông tuy thuộc Hữu tông của Đại thừa nhưng thực chất vẫn đi theo lối "không quán" triệt để. Có người tóm cả tông chỉ trong bốn chữ "chân không giả hữu", cái "hữu" ở đây chỉ là "hữu của thức", và cái "không" của Không tông chẳng qua là cùng đường nhưng tới đích khác nhau.
Quan điểm học thuật của Huyền Trang còn là sự dung hòa Phật học Đại thừa và Tiểu thừa của Thiên Trúc: ghép Du già sư địa luận của pháp sư Giới Hiền, Duy thức của cư sĩ Thắng Quân và Tì đàm của Đại, Tiểu thừa. Nhờ mười đức nên ông tinh thông Tam tạng, được tôn làm Tam Tạng pháp sư, và viết Hội tông luận để nối thông tư tưởng Du già với Trung quán. Trình độ của ông lên tới mức cả Ấn Độ không ai chất vấn nổi.
Tuy vậy, ông cũng có điều hạn chế: quá cứng nhắc theo nghĩa kinh, không dám vượt, cho rằng thế mới là thành kính. Ông mang về và dịch rất nhiều kinh, nhưng nhiều bộ chẳng hợp văn hóa Trung Quốc nên đành để đó. Lúc còn ở Ấn Độ, ông từng nêu thuyết "vô tính triệt để" với pháp sư Giới Hiền: không có Phật tính thì không thể thành Phật. Thuyết ấy trái với quan điểm mọi chúng sinh đều thành Phật được, sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của người bình thường, nên bị Giới Hiền quở. Từ đó ông không nêu ý kiến khác với kinh nữa. Pháp tướng Duy thức tông do ông lập tuy lý luận rất sâu, nhưng vì chưa "Trung Quốc hóa" nên sức lan tỏa không bằng Nam thiền của Tuệ Năng, một người không biết chữ. Dù được vua ủng hộ nhiệt tình, nó xa với tình hình nước nhà nên không truyền lâu và nhanh suy.
Món quà của Huyền Trang cho đời sau
Tông của ông tàn, nhưng những gì ông để lại thì còn mãi.
Công lớn đầu tiên là khối kinh điển: bảy mươi lăm bộ, hơn một nghìn ba trăm bốn mươi quyển, dịch có hệ thống trong hai mươi năm, chủ yếu là Du già sư địa luận, Đại Bát nhã, Câu xá, Bà sa, Thành duy thức luận... gồm bốn loại: Bát nhã, Du già, Duy thức, Nhân minh luận. Vì thông cả Phật lý lẫn tiếng Phạn nên kinh ông dịch chuẩn xác, sâu sắc, đạt đến "chân, thiện, mỹ", dường như gói trọn tinh hoa Phật học Ấn Độ, thành tài sản quý của văn hóa Trung Quốc. Ông còn đào tạo nhiều dịch giả và đệ tử như Khuy Cơ (viết Thành duy thức luận thuật ký), Thần Phưởng, Gia Thượng, Phổ Quang, Viên Trắc, Pháp Bảo.
Công thứ hai là cầu nối Trung – Ấn. Học vấn của ông chinh phục cả Thiên Trúc, trong Đại hội Vô già ông khuất phục hàng vạn tăng lữ và cao tăng Đại, Tiểu thừa khắp Ấn Độ, đưa tiếng tăm Đại Đường tới đó. Ông không chỉ mang kinh Phật và văn hóa Ấn Độ về nước, mà còn dịch Lão Tử sang tiếng Phạn để giao lưu với Ấn Độ.
Công thứ ba là bộ Đại Đường Tây vực ký, hai mươi quyển, ghi lại lời ông kể sau khi về nước. Bản Đôn Hoàng còn giữ được là bản chép sớm nhất. Sách ghi tỉ mỉ về một trăm ba mươi tám quốc gia, hai mươi tám thành bang trên khoảng năm vạn cây số: phong thổ, nhân tình, địa hình sông núi, kinh tế, tôn giáo, là tư liệu quý về lịch sử, địa lý Tây Vực, Trung Á, Tây Á, Nam Á thế kỷ thứ bảy, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ông viết theo lời vua Thái Tông dặn, viết xong vua nói đây là sách đáng tự mình xem. Sách ghi nhiều phong tục lạ, thần thoại, truyền thuyết, về sau trở thành hình mẫu cho Tây du ký của Ngô Thừa Ân. Ông không chỉ mang về núi kinh Phật mà còn làm đổi thái độ của các vua Đường đối với Phật giáo; dù Duy thức tông không bền, địa vị đạo Phật ở Trung Quốc nhờ ông có dịp chuyển mình, công ấy lớn ngang công lấy kinh.
Tông Khách Ba: vị tăng đội mũ vàng của cao nguyên
Ở một vùng đất mà giới luật lỏng lẻo đến mức tăng sĩ cưới vợ uống rượu, một thiếu niên đã dựng lại nếp tu.
Tông Khách Ba (1357–1419), tên thật La Tang Trát Ba, người Tháp Nhĩ Tự, Thanh Hải. Cha ông thành kính với đạo Phật. Từ nhỏ ông được hun đúc bằng chuyện Phật. Năm ba tuổi, vị hoạt Phật đời thứ tư phái Cát Mã là Nhiêu Đa Tất Cát thấy trán ông rộng, mặt trắng, mày dài tai lớn, mũi cao miệng vuông, giống tượng Phật, như "hoạt Phật chuyển thế", rất vui mừng và truyền giới cư sĩ cho ông. Bảy tuổi, vị lạt ma Đốn Chu Nhân Khâm xin cha ông cho con theo học; cha thấy con thích Phật pháp nên bằng lòng. Ông được làm lễ quán đỉnh, tặng mật hiệu "Bất không kim cương" và truyền giới sa di. Sau mười năm học hết điều thầy dạy, ông mười sáu tuổi.
Mười sáu tuổi, ông gạt lệ từ biệt thầy, bắt đầu du học khổ hạnh qua các danh sơn từ Thanh Hải, Tây Ninh tới Tây Tạng, tìm học danh sư các tông. Sau mười năm gian khổ, gần ba mươi tuổi ông tinh thông cả Hiển giáo lẫn Mật giáo, thọ giới tỉ khâu, danh tiếng ngày một cao. Năm 1389 ông bắt đầu truyền giảng chính thức tại chùa Môn Khách, học thức uyên thâm và tài biện luận thu hút đông đảo tăng chúng. Điều ông để lại lớn nhất là kêu gọi cải cách đạo Phật Tây Tạng, đấu tranh với suy đồi, trụy lạc, và đội lên đầu chiếc mũ vàng tượng trưng cho tổ chế, khôi phục nếp sống của tăng đoàn.
Cuộc cải cách được Xiển Hóa Vương Trát Ba Kiên Tán ủng hộ. Năm 1409, ông tổ chức pháp hội cầu nguyện lớn với vạn tăng toàn Tạng, chấn động Tây Tạng, được công nhận là người đứng đầu; ông tu sửa ba ngôi chùa Sắc Lạp, Cam Đan, Triết Bạng, thu nhận rất nhiều đệ tử. Phái Cách Lỗ do ông đứng đầu trở thành phái chính thống. Cùng năm đó, vua Minh Thành Tổ ban chiếu thưởng; vì bệnh ông cử đệ tử đi nhận chiếu và được phong Đại Quốc Sư. Bộ sách chính của ông là Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận, trở thành tông điển của Hoàng giáo.
"Duyên khởi mà có, tự tính vốn không"
Hiểu "không" quá tay sẽ dẫn đến buông thả. Muốn giữ giới luật, phải hiểu lại chữ không cho đúng.
Ông lấy Trung quán luận của Đại thừa Ấn Độ làm tông. Phái Trung quán, còn gọi Không tông, do Bồ tát Long Thụ (150–250) sáng lập, kinh chính là Bát nhã, tư tưởng cốt lõi là "duyên khởi tính không". Thời ông, trong đạo Phật có cách hiểu phiến diện về "tính không", tuyệt đối hóa chữ "không", không hiểu rằng "không" mà chẳng phải là không, "có" mà chẳng phải là có, tức "tự tính không, duyên khởi hữu". Từ đó người ta phủ nhận nghiệp thiện ác và quả báo: đã vạn pháp đều không, làm sao có luân hồi nhân quả? Họ phủ nhận cả Phật, trượt ra khỏi đạo Phật, gây rối loạn kỷ cương.
Thấy đạo Phật suy đồi, ông cho rằng muốn cải cách phải tìm căn cứ lý luận trước. Ông nhấn mạnh nghĩa gốc của "Bát nhã tính không": tự tính của vạn pháp là không (tự tính không), nhưng mọi cái có đều do duyên làm nên (duyên khởi hữu). Vậy là ông vừa không thừa nhận "thực hữu" (có tự tính), vừa không thừa nhận "chân không" (không hoàn toàn). Mọi cái "có" đều không phải có tự tính mà là có do duyên; mọi cái "không" cũng không phải hoàn toàn không mà là không có tự tính. Từ nền ấy, ông đặt lại quan hệ nhân quả, đề cao tính liên hệ phổ biến của sự vật: mọi cái có đều là kết duyên, không cô lập, đã có nhân duyên thì tất có nhân quả. Lý luận đó trở thành chỗ dựa để khẳng định nghiệp quả thiện ác, đặt nền cho cuộc cải cách tôn giáo lúc đó, và là đóng góp lớn nhất của ông cho Phật học Tây Tạng.
Ông cũng coi trọng song song Trung quán và Duy thức, lấy Trung quán làm chính, Duy thức làm phụ; tác phẩm "Biện liễu bất liễu nghĩa luận" đề cao quán Duy thức. Ông kết hợp Hiển và Mật: thấy cảnh Phật giáo Tây Tạng đương thời chuộng Mật quá mức, quá đề cao mật chú, ông viết Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận và Mật tông đạo thứ đệ quảng luận, nâng trình độ lý luận của cả hai, khôi phục kỷ cương, uốn nắn lệch lạc, dựng nên nếp "Hiển giáo Mật pháp, Hiển Mật cùng trọng".
Dựng lại giới luật, đặt Hiển trước Mật
Cuộc cải cách không bắt đầu bằng một ngôi chùa mới, mà bằng một đòi hỏi rất cũ: giữ giới.
Thời đó giáo quy lỏng lẻo, tăng nhân không bị phép tắc ràng buộc, cũng lấy vợ, uống rượu như người thường; riêng Mật giáo có người dùng thuật chú để lừa thiên hạ, thậm chí làm nhục phụ nữ, lấy mạng người làm lễ tế, dẫn đến tình trạng sa đọa dục vọng. Tông Khách Ba kiên quyết khôi phục nghiêm giới luật và kỷ cương tôn giáo, nhấn mạnh không sát sinh, không uống rượu, không dâm dục, cải cách triệt để, chấn hưng nếp của phái Cách Lỗ. Từ đó đạo Phật Tây Tạng đổi hẳn dáng vẻ, đi lên trên con đường phát triển.
Trong khi một số tăng mượn việc tuyên dương Mật giáo để làm điều xấu, ông giương cao ngọn cờ Hiển giáo, đề xướng nguyên tắc "lấy Hiển làm chủ, học Hiển trước Mật sau, Hiển giáo Mật tu". Để phát triển Mật giáo cho đúng, ông xây và tu sửa chùa chiền, giảng kinh, mở pháp hội, và dựa vào chính quyền đề xướng đạo Phật trị thế nhằm "làm sạch nếp đạo". Dưới sự ủng hộ của Xiển Hóa Vương, ông tu sửa ba chùa, hai đệ tử của ông là Trát Hi Bối Đan và Thích Ca Dã Thất tu sửa thêm hai chùa, truyền giảng kinh Phật, tăng nhân mấy nghìn người. Có thể nói ông là nhân vật số một của đạo Phật Tây Tạng: nâng cao lý luận, giữ gìn đạo chính thống, đặt giáo quy, tu sửa chùa viện, đào tạo tăng nhân. Đệ tử của ông lên đến mấy nghìn.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
