Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vàng ắp rương chẳng bằng dạy con một quyển kinh

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Vàng ắp rương chẳng bằng dạy con một quyển kinh

Cổ nhân tính rằng cho con nghìn vàng không bằng dạy con một nghề, và nuôi con mà không dạy thì chính là chưa biết yêu con. Nhưng dạy thế nào là đủ nghiêm, và đến tuổi nào thì đứa trẻ phải học nhường nhịn, học ngồi xếp sau người lớn…


Dạy con là lẽ sống còn của một nhà

Dạy con là gây dựng mối sinh tồn về sau, nối dài sinh mệnh của bản thân và tương lai của đất nước. Vì vậy việc giáo dục trong gia đình và ở trường học rất quan trọng, không chỉ là nghĩa vụ của bậc làm cha mẹ, bậc làm thầy mà còn là niềm vui lớn của đời người. Câu cổ nói rằng việc cần nhất không gì bằng đọc sách, việc vui nhất không gì bằng dạy con. Tục ngữ ta cũng có câu: nuôi con chẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.

Tư Mã Quang, tức Tư Mã Ôn Công, học giả và danh thần đời Tống, người đứng đầu phe chống lại chủ trương biến pháp của tể tướng Vương An Thạch, đạo đức trọng hậu, học vấn uyên thâm, soạn bộ Tư Trị Thông Giám công phu, để lại một bài dạy cho lớp hậu sinh:

Dưỡng tử bất giáo, phụ chi quá. Huấn đạo bất nghiêm, sư chi nọa.

Phụ giáo, sư nghiêm lưỡng vô ngại, học vấn vô thành tử chi tội.

Noãn ý bão thực cư nhân luân. Thân ngã tiếu đàm như thổ khối. Phan cao bất cập, hạ phẩm lưu. Sảo ngộ hiền tài vô ngữ đối.

Miễn hậu sinh lực cầu hối. Đầu minh sư, mạc tự muội. Nhất triêu vân lộ quả nhiên đăng. Tính danh á đẳng hô tiên bối.

Thất trung nhược vị kết nhân thân. Tự hữu giai nhân cầu thất phối.

Miễn chi tai! Nhữ đẳng các tảo tu. Mạc đãi lão lai không tự hối.

Nuôi con mà không dạy là lỗi của cha, dạy dỗ không nghiêm là lỗi của thầy biếng nhác. Cha dạy, thầy nghiêm đầy đủ mà con học không nên thì đó là tội của con. Cơm no áo ấm sống giữa loài người, nói cười như cục đất, với cao thì không tới, với thấp thì chẳng màng, gặp bậc hiền tài thì không có lời đối đáp. Ông khuyên lớp hậu sinh phải ra sức học, tìm thầy giỏi, đừng tự để mình u tối. Một ngày kia đường mây quả nhiên bước lên được, tên tuổi ngang hàng bậc trên. Trong nhà nếu chưa kết nhân duyên thì tự có giai nhân tìm đến sánh đôi. Các ngươi hãy sớm sửa mình, đừng đợi tuổi già mới ăn năn vô ích.

Nuôi con phải dạy, dạy phải nghiêm

Cha mẹ nào cũng thương con, và cổ nhân hỏi thương như thế nào mới đúng.

Liễu Đồn Điền, trong bài khuyến học, đặt ra một chuỗi liền nhau:

Phụ mẫu dưỡng kỳ tử nhi bất giáo, thị bất ái kỳ tử dã. Tuy giáo nhi bất nghiêm, thị diệc bất ái kỳ tử dã.

Phụ mẫu giáo nhi bất học, thị tử bất ái kỳ thân dã. Tuy học nhi bất cần, thị diệc bất ái kỳ thân dã.

Thị cố: Dưỡng tử tất giáo. Giáo tắc tất nghiêm. Nghiêm tắc tất cần. Cần tắc tất thành.

Học tắc thứ nhân chi tử vi công khanh. Bất học tắc công khanh chi tử vi thứ nhân.

Cha mẹ nuôi con mà không dạy là không yêu con, dạy mà không nghiêm cũng là không yêu con. Cha mẹ dạy mà con không học là con không thương thân mình, học mà không chăm cũng là không thương thân mình. Cho nên nuôi con ắt phải dạy, đã dạy ắt phải nghiêm, nghiêm thì ắt chăm, chăm thì ắt nên. Có học thì con dân thường thành khanh tướng, không học thì con khanh tướng thành dân thường. Bạch Thị Lang cũng viết cặp ruộng vườn và con cháu:

Hữu điền bất canh, thương lẫm hư,

Hữu thư bất giáo, tử tôn ngu.

Thương lẫm hư hề, tuế nguyệt phạp,

Tử tôn ngu hề, lễ nghĩa sơ.

Nhược vi bất canh dữ bất giáo,

Thị nãi phụ mẫu chi quá dư.

Có ruộng không cày thì kho trống, có sách không dạy thì con cháu ngu. Kho trống thì quanh năm thiếu thốn, con cháu ngu thì lễ nghĩa thưa thớt. Nếu ruộng chẳng cày và con chẳng dạy thì đó là lỗi của cha mẹ. Cảnh Hạnh Lục có một đôi câu đối:

Tân khách bất lai môn hộ tục,

Thi thư bất giáo, tử tôn ngu.

Khách khứa không đến thì nhà trở nên thấp hèn, kinh thi kinh thư không dạy thì con cháu ngu. Trang Tử, tên Chu, sống khoảng ba trăm ba mươi chín đến hai trăm tám mươi sáu trước Công nguyên, nhà tư tưởng đạo gia lớn thời cổ, viết bộ Nam Hoa Kinh khoảng hai chục vạn lời, cùng Lão Tử tề danh và được tôn là tổ đạo gia, nói ngắn:

Sự tuy tiểu, bất tác bất thành. Tử tuy hiền, bất giáo bất minh.

Việc dù nhỏ, không làm thì không nên. Con dù hiền, không dạy thì không sáng.

Vàng đầy rương không bằng một quyển kinh

Của cải cha mẹ để lại có lúc cạn, nhưng điều đã học thì không ai lấy mất.

Hán Thư chép:

Hoàng kim mãn doanh, bất như giáo tử nhất kinh.

Tứ tử thiên kim, bất như giáo tử nhất nghệ.

Chí lạc mạc như độc thư. Chí yếu mạc như giáo tử.

Vàng ắp rương không bằng dạy con một quyển kinh, cho con nghìn vàng không bằng dạy con một nghề. Vui sướng nhất đời là đọc sách, quan trọng nhất đời là dạy con. Mạnh Tử kể một thói người xưa:

Cổ giả dịch tử nhi giáo chi. Phụ tử chi gian bất trách thiện, trách thiện tắc ly. Ly tắc bất tường mạc đại yên.

Người xưa đổi con cho nhau để dạy, vì giữa cha và con không nên đòi hỏi nhau điều thiện, đòi hỏi thì chia lìa mà chia lìa là điều chẳng lành lớn nhất. Lữ Vinh Công thì cảnh báo về người không có nơi nương tựa:

Nội vô hiền phụ huynh. Ngoại vô nghiêm sư hữu. Nhi năng hữu thành giả tiển hỹ.

Trong nhà không có cha anh hiền, ngoài không có thầy bạn nghiêm mà nên người thì rất hiếm. Thái Công có một đoạn dài về phép nuôi con:

Nam tử thất giáo, trưởng đại ngu ngoan. Nữ tử thất giáo, trưởng đại thô sơ.

Dưỡng nam chi pháp, mạc thính cuống ngữ. Dưỡng nữ chi pháp, mạc giao ly mẫu.

Nam niên trưởng đại, mạc tập lạc tửu. Nữ niên trưởng đại, mạc giáo du tẩu.

Nghiêm phụ xuất hiếu tử. Nghiêm mẫu xuất xảo nữ.

Liên nhi đa dữ bổng. Tăng nhi đa dữ thực. Liên nhi vô công, tăng nhi hữu lực.

Tang điều tòng tiểu uất, trưởng đại uất bất khuất.

Nhân giai ái châu ngọc. Ngã ái tử tôn hiền.

Con trai không được dạy thì lớn lên ngu bướng, con gái không được dạy thì lớn lên vụng dại. Phép nuôi con trai là đừng cho nghe lời dối, phép nuôi con gái là đừng để rời mẹ. Con trai lớn đừng cho tập rượu chè, con gái lớn đừng cho đi chơi rong. Cha nghiêm thì sinh con hiếu, mẹ nghiêm thì sinh con gái khéo. Thương con thì cho nhiều roi, ghét con thì cho nhiều ăn. Thương con mà cưng thì chẳng nên công, ghét con mà nghiêm thì nên người có sức. Cành dâu uốn từ bé thì lớn lên uốn cũng không cong. Người ai cũng yêu châu ngọc, còn ta yêu con cháu hiền.

Đất cằn ra hoa muộn, rắn không sừng biết đâu thành rồng

Có những đứa trẻ chậm hơn bạn, và cổ nhân dành một lời cho cha mẹ của chúng.

Bàng Đức Công có bốn bài mà người đọc dễ nhớ. Bài đầu nói về người đến muộn:

Sấu địa khai hoa vãn, bần cùng phát đạt trì.

Mạc đạo xà vô giác, thành long dã vị tri.

Đãn khan thiên thượng nguyệt. Đoàn viên hữu khuyết thì.

Đất cằn thì hoa nở muộn, nhà nghèo thì phát đạt chậm. Đừng bảo rắn không có sừng, thành rồng hay không chưa ai biết. Cứ nhìn vầng trăng trên trời, có lúc tròn và có lúc khuyết. Bài thứ hai là một lời khuyên về mưu cầu:

Vạn sự do thiên mạc cưỡng cầu,

Hà tu khổ khổ dụng tâm mưu.

Tam xan phạn nội hưu hồ tưởng,

Đắc nhất phàm phong tiện khả thu.

Sinh sự sự sinh hà nhật liễu,

Hại nhân nhân hại kỷ thời hưu.

Oan gia nghi giải bất nghi kết,

Các tự hồi đầu khán hậu đầu.

Muôn việc do trời, đừng gượng cầu, sao phải khổ nhọc dùng tâm mưu. Cơm ba bữa thì đừng mơ hão, gặp một cánh buồm gió thuận thì thu hoạch được. Bày chuyện thì chuyện sinh, đến bao giờ mới xong, hại người thì người hại, đến bao giờ mới nghỉ. Thù oán nên cởi chứ không nên kết, mỗi người hãy quay đầu nhìn phía sau. Bài thứ ba cảnh tỉnh về bài bạc:

Phàm nhân bách nghệ hảo tùy thân,

Đổ bác môn trung mạc khứ thân.

Năng sử anh hùng vi hạ tiện,

Giải giao phú quý tác cơ bần.

Y sam lam lũ thân bằng tiếu,

Điền địa tiêu ma cốt nhục sân.

Bất tín đãn khan hương đảng nội,

Nhãn tiền suy bại kỷ đa nhân.

Người ta trăm nghề nên mang theo mình, còn cửa cờ bạc thì đừng đến gần. Nó có thể khiến anh hùng thành kẻ hèn, khiến phú quý thành đói nghèo. Áo quần lam lũ thì bạn bè cười, ruộng đất tiêu tan thì anh em giận. Không tin thì cứ nhìn trong làng xóm, trước mắt bao nhiêu người đã sa sút. Hai câu ngắn khác:

Tước trác tứ cố thực. Yến tẩm vô nghi tâm.

Lượng đại phúc diệc đại. Cơ thâm họa diệc thâm.

Sẻ mổ ăn thì phải nhìn bốn phía, yến ngủ thì lòng không nghi ngại. Lượng lớn thì phúc cũng lớn, mưu sâu thì họa cũng sâu. Bài thứ tư kết bằng một nhận xét về lòng người:

Nhất dạng nhân thân kỷ dạng tâm,

Nhất ban trà phạn nhất ban nhân.

Đồng thời thiên quang đồng thời dạ,

Kỷ nhân phú quý kỷ nhân bần.

Quân tử bần thời hữu lễ nghĩa,

Tiểu nhân sạ phú tiện khi bần.

Đông hải long vương thường tại thế,

Đắc thời hưu tiếu thất thời nhân.

Đại gia nhẫn nại tùy thời quá,

Tri tha thùy thị bách niên nhân.

Cũng một thân người mà bao nhiêu thứ lòng, cũng cơm trà như nhau, cũng một người như nhau. Cùng nắng ban ngày cùng bóng đêm, mà người giàu sang kẻ nghèo khó khác nhau. Quân tử khi nghèo vẫn giữ lễ nghĩa, tiểu nhân chợt giàu liền khinh người nghèo. Long vương Đông Hải đâu ở mãi ở đời, được thời chớ cười người hết thời. Mọi người cứ nhẫn nại mà qua theo thời, ai biết ai sống được trăm năm.

Phép dạy trẻ từ lúc lọt lòng đến mười tuổi

Một đứa trẻ mười tuổi đã đi qua những bậc mà cổ nhân canh từng năm một.

Thiên Nội Tắc trong Lễ Ký ghi một lộ trình dạy con từ lúc mới sinh:

Phàm sinh tử, trạch ư chư mẫu dữ khả giả, tất cầu kỳ khoan dụ, từ huệ, ôn lương cung kính, thận nhi quả ngôn giả, sử vi tử sư.

Năng thực, giáo dĩ hữu thủ. Năng ngôn, nam dụy, nữ du, nam bàn cách, nữ bàn ty.

Lục niên giáo chi số dữ phương danh. Thất niên nam nữ bất đồng tịch, bất cộng thực.

Bát niên, xuất nhập môn hộ cập tức tịch ẩm thực, tất hậu trưởng giả, thủy giáo chi nhượng.

Cửu niên, giáo chi số mục. Thập niên xuất tựu ngoại phó, cư túc ư ngoại.

Hễ sinh con thì chọn trong các bà mẹ và những người khá một người khoan dung, hiền từ, hay làm ơn, ôn hòa dịu dàng, lễ phép, cẩn thận mà ít nói để làm thầy cho con. Con biết ăn thì dạy dùng tay phải. Con biết nói thì con trai dạ, con gái vâng, con trai thắt dây da, con gái thắt dây tơ. Sáu tuổi dạy số đếm và tên phương hướng. Bảy tuổi trai gái không ngồi chung chiếu, không ăn chung. Tám tuổi ra vào cửa và ngồi tiệc ăn uống phải đi sau người lớn, bắt đầu dạy tính nhường nhịn. Chín tuổi dạy các con số. Mười tuổi ra học với thầy bên ngoài, ở ngủ bên ngoài.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện