Bài tổng quan
Hán thư và Sử ký: hai cách viết sử về một thời
Tư Mã Thiên kể chuyện Hồng Môn khiến người đọc nín thở, còn Ban Cố cắt gần hết chi tiết ấy và dùng một bài bàn về sai lầm của nhà Tần để khép lại câu chuyện. Hai người cùng viết về một thời, nhưng cách chọn chuyện, chọn giọng và chọn người để khen chê khác nhau xa. Khác nhau ấy bắt nguồn từ chỗ mỗi người đứng và người mình viết cho.
Nguồn tư liệu phong phú của Ban Cố
Tư liệu lịch sử trong Hán thư vượt xa Sử ký ở chỗ phong phú. Ban Cố giữ chức Lan Đài lệnh sử, có đặc quyền tiếp xúc với quan lại trong triều để lấy sử liệu, nên nắm chắc mọi diễn biến của lịch sử. Lại có hơn hai mươi năm kinh nghiệm ghi chép lịch sử, ông dốc hết tâm huyết, sưu tầm được rất nhiều tài liệu quý để bổ sung vào bộ sử.
Nguồn tư liệu của Hán thư có thể chia làm ba. Một là dựa theo Sử ký của Tư Mã Thiên. Hai là dựa theo “Sử ký hậu truyện” của Ban Bưu. Ba là thu nạp nhiều sách cổ và lời truyền miệng trong dân gian, với phương châm bổ sung những chỗ tiền sử còn thiếu, tránh sai lệch tin tức. Ví dụ bổ sung truyện Hàn Tín, truyện Tiêu Hà. Bộ “Biệt lục” của Lưu Hướng chính là sử liệu cốt lõi của Ban Cố, là một trong những tài liệu chính để phân biệt đúng sai. Vì vậy có thể nói Hán thư kế thừa Sử ký và trở thành bộ tổng hợp lịch sử chính trị Trung Hoa.
Tư liệu của Hán thư không chỉ phong phú mà kiến thức về khoa học tự nhiên cũng rất uyên bác. Trước đây người ta đã tổng kết thành tựu khoa học tự nhiên của thời trước Tây Hán, và từ tư liệu mười Chí trong Hán thư người ta rút ra những nhận định đánh giá quan trọng.
Nhờ có tư liệu phong phú, Ban Cố nắm chắc cụ thể, chu đáo, tỉ mỉ và toàn diện từ triều đình xuống thần dân. Hậu Hán thư có một nhận xét đáng nhớ về hai nhà viết sử:
Văn của Thiên thẳng mà việc cốt lõi, văn của Cố phong phú mà việc tường tận.
Hán thư còn dùng nhiều tư liệu ở các lĩnh vực khác nhau để khảo xét, hiệu chỉnh một số sự kiện, đính chính một số điều sai của Sử ký. Hán thư xứng đáng là một bộ chính sử có tư liệu phong phú, trung thực và kiến thức uyên thâm.
Một bộ sử Nho học, trung với vua, sùng Nho
Mỗi bộ sử là tiếng nói của người viết và của thời đại sinh ra nó. Hán thư sinh ra vào lúc Nho học ở đỉnh cao.
Có thể nói Hán thư là một bộ sử Nho học của triều Tây Hán. Nhà Hán là thời cực thịnh của Nho học. Hán Võ đế đã thu nạp đại sư Nho học Đổng Trọng Thư, bãi bỏ trăm nhà, độc tôn Nho thuật, từ đó Nho học trở thành tư tưởng chính thống của cả triều Hán. Gia tộc họ Ban suốt mấy đời dùi mài Nho học và kinh học, cha con Ban Bưu chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học. Vì vậy Hán thư thấm đầy tư tưởng phong kiến chính thống của Nho gia, thể hiện rõ xu hướng “trung quân sùng Nho”.
Bộ sử hết lời ca ngợi hoàng đế, dùng các đại sư Nho học như Đổng Trọng Thư để răn dạy dân chúng, nhằm giữ vững chính quyền của hoàng thất, đồng thời lên án kẻ ngoại tộc đoạt ngôi. Qua “Ngoại thích truyện”, bộ sử lên án mọi âm mưu xảo quyệt cướp quyền của ngoại tộc. Truyện Hoắc Quang vạch trần tội chuyên quyền của Hoắc Quang. Vương Mãng, người không thuộc dòng chính mà cướp ngôi, bị bỏ tên khỏi hàng các bậc hoàng đế, bị xếp ở cuối cùng trong phần liệt truyện. Ban Cố căm ghét đến mức ấy, và đó là biểu hiện của lập trường Nho gia chính thống. Tư tưởng Nho gia còn thể hiện ở những mặt như trung quân báo quốc, trung nghĩa giữ tiết.
Hán thư còn nổi bật tư tưởng củng cố chính quyền trung ương Tây Hán, giữ vững độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, trong đó nổi bật là cuộc chiến với Hung Nô. Truyện Lý Lăng và truyện Vệ Thanh miêu tả gương chiến đấu dũng cảm chống Hung Nô ở vùng biên giới phía bắc. “Nho lâm truyện” liệt kê hàng loạt nhân vật Nho học kiệt xuất như Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, Phí Trực, Phục Sinh, Âu Dương Sinh, Khổng An Quốc, Mao Công.
Xã hội phong kiến chiếm một khoảng thời gian khá dài trong lịch sử Trung Hoa. Hán thư lấy Nho học làm tư tưởng chủ đạo, và cuối cùng Nho học đã trở thành tư tưởng chính thống, thành tấm gương cho chính sử đời sau noi theo.
Hán thư và Sử ký: thể loại, cách viết, giọng văn
Về thể loại, Sử ký và Hán thư đều thuộc thể truyện ký lịch sử. Thể truyện ký khác với sử biên niên lấy niên đại làm mốc như Xuân Thu. Thể truyện ký mở đầu từ Sử ký, gồm Ký, Biểu, Thư, Thế gia, Liệt truyện. Hán thư dựa theo thể loại của Sử ký nhưng điều chỉnh thành Ký, Biểu, Chí, Truyện. Bốn loại ấy sau khi chỉnh lý trở thành mẫu mực của chính sử, từ đó cho đến hai mươi sáu bộ sử về sau đều thuộc thể truyện ký. Hán thư biên soạn và chỉnh lý lại toàn bộ trên nền Sử ký, đổi “Bát thư” thành “Thập chí”, “Bản ký” thành “Ký”, “Thế gia” thành “Truyện”, khiến tác phẩm có hệ thống và khoa học hơn.
Về cách viết sử, tư liệu của cả hai bộ đều rất phong phú, nhờ tâm huyết của cha con Ban Bưu. Sử ký chép phong phú ở giai đoạn trước Hán Võ đế, Hán thư chép đầy đủ cả giai đoạn sau Hán Võ đế. Sử ký là tư liệu lịch sử quý báu, còn Hán thư là điển tịch quan trọng từ sau Hán Võ đế trở đi. Trong Sử ký ngoài chính sử còn có dã sử và truyền kỳ, còn Hán thư toàn là chính sử, ngoài chính sử không có loại nào khác, nên trở thành bộ sử chính tông.
Sử ký do một người viết, còn Hán thư do hoàng gia sai người chép. Vì thế quan điểm của Sử ký tương đối tự do, còn người viết Hán thư đã thấm nhuần tư tưởng Nho gia chính thống, hay nói cách khác được trang bị một tư tưởng Nho gia nghiêm khắc.
Sử ký là thông sử, nghĩa là “thông suốt chuyện xưa nay”, còn Hán thư là sử đồng đại. Hai bộ như hai chị em ruột cùng viết sử Tây Hán, đều là những tác giả bất hủ trong kho tàng lịch sử. Hậu thế căn cứ vào giá trị của tác phẩm để đánh giá người viết, và việc bàn luận về Tư Mã Thiên cùng họ Ban cũng là điều nên làm.
Về nghệ thuật ngôn ngữ, Sử ký viết phóng bút hơn, Hán thư chú ý tính chân thật hơn. Văn Sử ký sinh động, kết cấu đa dạng, trong nhiều truyện ngắn có cả thơ ca, hò vè, nên người sau gọi Sử ký là “Ly tao không vần điệu” (Ly tao là tác phẩm thơ của Khuất Nguyên). Hán thư viết theo văn phong cổ, trang nhã, thanh khiết, chân thật, theo lối luận chính. Cả hai là mẫu mực của văn học lịch sử, nhưng Sử ký giàu chất văn học và thi vị hơn, còn Hán thư mang sắc thái chính trị, ngữ khí nặng nề hơn.
Hán thư là sự kế thừa và phát triển của Sử ký. Sử ký chép từ thời tam hoàng ngũ đế đến những năm đầu Hán Võ đế, Hán thư chép từ buổi ban đầu Lưu Bang sáng nghiệp đến khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Hai bộ có một đoạn lịch sử chồng lên nhau, từ cuối đời Lưu Bang đến đầu Hán Võ đế. Trên nền Sử ký, Hán thư cải biên, sàng lọc, bổ sung thêm một số chính sách liên quan đến việc trị nước và chế độ điển chương, làm nổi lên mối liên hệ mật thiết giữa lịch sử và chính trị, làm giàu thêm quan điểm trị quốc bằng Nho học của tư tưởng thống trị đương thời.
Giá trị: sử đồng đại đầu tiên, kho tư liệu khoa học, cột mốc văn sử
Thứ nhất, Hán thư là bộ sử đồng đại đầu tiên của Trung Hoa. Sau Hán thư, các sách sử viết theo dạng thông sử chuyển sang dạng sử đồng đại, tức chỉ viết lịch sử của một triều đại. Đặc điểm của loại này là đối với lịch sử một triều đại phải có cái nhìn tổng quát và hệ thống, nhờ đó tăng độ dày của lịch sử và mở rộng lĩnh vực viết sử. Việc ấy có lợi cho nghiên cứu và tổng kết lịch sử xã hội.
Thứ hai, Hán thư là nơi tập trung lịch sử khoa học tự nhiên. Trên nền Sử ký, “Bát thư”, Hán thư xây dựng “Thập chí” nổi tiếng. Mười Chí tổng kết thành tựu khoa học tự nhiên cổ đại, có tác dụng kế thừa điều xưa và chỉ đường cho thế hệ sau, về thiên văn, địa lý, thủy lợi, động đất, nguyệt thực, nhật thực. Các sử đồng đại sau này đều bổ sung cho mười Chí, khiến nó ngày một hoàn thiện, như Thiên văn chí trong Hậu Hán thư, Tùy thư, Đường thư, Lịch chí và Địa lý chí trong Đường thư, Luật lịch chí trong Tống sử. Tất cả đều là tư liệu không thể thiếu khi nghiên cứu lịch sử khoa học.
Thứ ba, Hán thư là bước dẫn đường cho sự hợp nhất giữa sử học và văn học. Nếu văn học trong Sử ký là văn học thiên về mỹ cảm, là nghệ thuật dùng chữ, thì Hán thư chú trọng văn học chính trị. Thể loại của Sử ký phần nhiều là truyện ngắn, thơ ca, còn Hán thư phần nhiều là “sách”, “sớ”. Cùng là truyện Giả Nghị, Sử ký chọn bài thơ viếng Khuất Nguyên và bài phú về chim Bằng, còn Hán thư chọn bài sách văn “Trị an sách”. Kết cấu Hán thư chặt chẽ, cẩn thận, đầy khí phách, lời lẽ trang nhã, trang trọng. Sử ký hoa mỹ sinh động, là mẫu mực của văn học truyện ký. Hán thư nghiêm túc, chân thực, là thước đo của truyện ký chính sử.
Ví dụ “Hạng Vũ bản ký” là một chương nổi tiếng trong Sử ký, viết theo lối kể chuyện, gây ấn tượng rung động lòng người. Trong Hán thư, Hạng Vũ chỉ được viết chung một chương với Trần Thắng, lược bỏ chi tiết Hồng Môn và dùng bài “Bàn về sai lầm của Tần” làm lời kết. Chỉ qua một ví dụ đã thấy óc thẩm mỹ văn học của Tư Mã Thiên và Ban Cố khác nhau. Dù vậy, hai bộ đều đã dựng cho mình một cột mốc riêng trên con đường chung của sử học, đó là sự thống nhất giữa văn học và lịch sử.
Ảnh hưởng với đời sau, và cả những hạn chế
Hán thư là bộ kinh điển mẫu mực của sử đương đại, tiền thân của chính sử, viết theo kiểu truyện ký, mở tiền lệ cho đời sau viết sử theo thể “gói gọn một triều đại”. Sau Hán thư, hai mươi sáu bộ sử đều theo thể sử đồng đại. Tuy văn phong Hán thư không sặc sỡ bằng Sử ký, ảnh hưởng của nó đến đời sau rất lớn, ở chừng mực nào đó còn vượt Sử ký. Ban Cố dùng lời lẽ sáng sủa hoa mỹ để phủ lên sắc u ám của Sử ký, làm Hán thư trong sáng hơn, thành khuôn mẫu lý tưởng cho đời sau noi theo.
Đương nhiên Hán thư vẫn còn những mặt hạn chế. Bộ sử ca ngợi quá mức công đức của tập đoàn thống trị phong kiến. Một điều bất lợi nữa là văn viết theo lối cổ văn chứ không theo kiểu bạch thoại. Đem lối viết khô cứng ấy so với lối viết hoa mỹ sinh động của Sử ký thì thấy ngay chỗ yếu của Hán thư.
Hán thư độc tôn Nho thuật, lấy tư tưởng Nho gia làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt. “Lễ nhạc chí” và các truyện nhân vật đều ca ngợi tư tưởng trung quân và quan niệm nhân nghĩa. Toàn bộ bộ sử ca ngợi hoàng thất nhà Hán, đề cao chế độ quân chủ chuyên chế. Để đánh giá nhân vật, Hạng Vũ từ chỗ “bản ký” các bậc hoàng đế trong Sử ký bị giáng xuống phần truyện nhân vật. Vương Mãng, hoàng đế ngoại tộc cướp ngôi, bị giáng xuống tận phần cuối của truyện. Chỉ mười hai hoàng đế họ Lưu được đưa vào mười hai “ký”. Hán thư còn xóa “Hoài Âm Hầu liệt truyện” của Sử ký, đem Hàn Tín cùng Bành Việt, Anh Bố là những kẻ làm phản bị giết, gộp vào một truyện chung là “Hàn Bành Anh Lô Ngô truyện”, và lập trường người viết hiện ra rõ ràng.
Đứng ở góc nhìn của nhà sử học thì các nhân vật trong Sử ký được nhìn khách quan hơn: xếp Hạng Vũ vào “bản ký” là không lấy thành bại luận anh hùng, đặt Trần Thắng ở đầu phần “thế gia” là ca ngợi người đứng đầu cuộc khởi nghĩa của nông dân, và trong lời tự thuật còn tỏ ra đồng tình với Hàn Tín, Lý Lăng. Điều đó chứng tỏ Tư Mã Thiên có lập trường chính trị rõ ràng, và cũng là điểm vĩ đại của Sử ký.
Thứ ba, Hán thư coi trọng chính trị. Nhìn chung tư tưởng của hai bộ, Sử ký tôn sùng Nho đạo nhưng chú ý nhiều mặt, còn Hán thư nổi rõ tư tưởng Nho gia chính thống. Sử ký thấm đẫm nhân tình thế thái, tình cảm da diết, lời văn hoa mỹ. Hán thư ghi chép trung thực lịch sử, không phóng túng ngôn từ và cảm xúc. Với các nhân vật lịch sử, Sử ký phần nhiều chọn quá trình lịch sử, còn Hán thư chú trọng phương thức trị quốc. Vì vậy có thể nói Sử ký thiên về lịch sử, Hán thư coi trọng chính trị, và tư tưởng coi trọng chính trị ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến sách sử đời sau.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
