Bài tổng quan
Đỉnh bạch thoại, tấm gương xã hội, ba dòng Nho Phật Đạo
Một bộ truyện không cần quỷ thần mà vẫn nhắc chuyện đá vá trời, một bộ truyện tả mâm cơm chén trà mà vẫn gánh cả một triều đại trên vai. Nhân vật có nguyên mẫu ngoài đời, nhưng người viết không chép lại mà chọn lọc…
Thành quả lớn của tiểu thuyết bạch thoại
Hồng lâu mộng, với thể văn bạch thoại mới mẻ, đã đột phá toàn diện vào sào huyệt cũ kỹ của tiểu thuyết văn ngôn truyền thống. Nếu "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh là thành quả tập trung lớn của tiểu thuyết văn ngôn, thì Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần là thành tựu cao nhất của tiểu thuyết bạch thoại.
"Kim bình mai" tuy là tác phẩm mở đầu tiểu thuyết bạch thoại Trung Hoa, nhưng Hồng lâu mộng đã nhanh chóng đẩy trình độ ấy lên đỉnh điểm. Nếu nói các bộ bạch thoại như "Thuỷ hử truyện", "Kim bình mai" có nhiều tính truyện, thì Hồng lâu mộng càng có màu sắc văn học. Truyện tuy có văn ngôn xen vào, nhưng đã được nghệ thuật hoá, nên tuy là nửa bạch thoại nửa văn ngôn mà hoàn toàn không nhận thấy.
Nhất là văn bạch thoại ở đây là ngôn ngữ xã hội đã được chất lọc, không như "Kim bình mai" bê nguyên xi lời chợ búa vào. Cho nên cũng là bạch thoại, nhưng tiểu thuyết Hồng lâu mộng là bước phát triển quan trọng trên nền của "Kim bình mai": nếu "Kim bình mai" là cây cầu nối từ tiểu thuyết văn ngôn sang văn bạch thoại, thì Hồng lâu mộng là thành quả tập trung lớn của nghệ thuật tiểu thuyết bạch thoại.
Kiệt tác ngôn ngữ của tiểu thuyết cổ điển
Một kho chữ nghĩa mà trong đó câu đối, thơ, tục ngữ, tiếng quan và tiếng cửa miệng cùng sống chung một nhà.
Tào Tuyết Cần là bậc thầy ngôn ngữ kiệt xuất, và Hồng lâu mộng là kiệt tác ngôn ngữ của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa. Nghệ thuật ngôn ngữ của nó hết sức tinh tuý: vừa có thơ, từ, văn, phú thanh nhã, vừa có lời xã hội bình dân, liên quan đến nhiều hệ thống ngôn ngữ rộng rãi, từ vựng rất rộng, hiếm thấy ở các sách cùng loại. Văn vần, tản văn đều phong phú nhiều màu; biền từ, câu đối được vận dụng rất tự nhiên; thành ngữ, ngạn ngữ dân gian, tục ngữ, tiếng địa phương đều có đủ; lại có tiếng quan, tiếng bình dân, tiếng tục, tiếng cửa miệng, được dùng điêu luyện.
So với lời kiêu hùng cứng cỏi của "Tam quốc diễn nghĩa", Hồng lâu mộng hay ở chỗ lời mượt mà, mềm mại, tràn ngập lời tình yêu với vị thi vị của văn mềm, những câu nói vui khôi hài, những câu tục ngữ buồn cười, đặc biệt là tiếng nói của nữ giới, trong nhu có cương, mang phong cách riêng rất độc đáo trong nghệ thuật đa ngôn ngữ của truyện.
Thành tựu ngôn ngữ của cả bộ có thể nói là hoàn mỹ, nghệ thuật hoá cao. Khi ra mắt, nó vượt lên như bông phù dung nước, khiến mọi người thấy mới lạ. Những áng tản văn như mây trôi nước chảy, những đoạn văn vần như vẽ như thơ, những câu thành ngữ khéo hợp với cảnh, những bài phỏng từ viết rất tự nhiên làm cả bộ toát ra muôn sắc huy hoàng, trở thành mẫu mực cho tiểu thuyết đời sau.
Tấm gương của xã hội, nhưng không phải tập ảnh dán
Người ta hay nhầm một tấm gương với một quyển an-bom, nhưng tấm gương phải chọn điều đáng soi.
Hồng lâu mộng là tác phẩm phản ánh chân thực hiện thực xã hội. Văn học là tấm gương của cuộc sống, nhưng tiểu thuyết không phải tập "an-bom" dán các bức ảnh cuộc sống hiện thực: nó được chắt lọc và nghệ thuật hoá trên cơ sở cuộc sống hiện thực. Nhân vật của truyện tuy là hư cấu, tình tiết tuy là dựng ra, nhưng đều có nguyên mẫu trong đời; trên cơ sở ấy, người viết gia công nghệ thuật và khái quát điển hình để dựng nên. Phản ánh hiện thực càng sâu thì sức sống tác phẩm càng mãnh liệt; sự vĩ đại của truyện là ở chỗ phản ánh sâu bản chất xã hội.
Phủ Vinh trong truyện là hình ảnh thu nhỏ của thời kỳ cuối xã hội phong kiến. Qua sự suy thoái của Giả phủ, truyện vạch trần xu thế lịch sử là sự suy vong tất yếu của xã hội ấy. Người viết đi qua sự phản nghịch của Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, là những người chủ trong bộ truyện, và sự chống đối của những nô tì như Tình Văn, Tư Kỳ, Kim Xuyến, để thấy sự manh nha của tư tưởng dân chủ và sự bừng tỉnh của những người bị áp bức. Lại đi qua sự hoang dâm, hủ bại của phủ Ninh và phủ Vinh để vạch trần bản chất tất phải sụp đổ, như trong truyện có viết "bỗng ầm ầm như sập tòa lầu", phản ánh một quy luật lịch sử không thể cưỡng lại.
Đặc biệt, truyện lấy sự suy thoái của bốn đại gia tộc Giả, Vương, Tiết, Sử để vạch trần sự thối nát từ bên trong, là bản chất của sự sụp đổ. Những hành vi xa xỉ, thối nát, vung tiền như rác, ăn của đút, đánh chết người, bức tử a hoàn, cho vay nặng lãi của Phượng Thư, Giả Trân, nhà họ Giả, cậu cả họ Tiết chính là nguyên nhân dẫn đến sự suy bại, quyết định thế lụn bại không tránh khỏi của mấy gia đình ấy. Đúng như Thám Xuân đã nói:
Thế mới biết những nhà đại gia thế này, chỉ có người ngoài đến thì một lúc không thể giết chết được… Tất phải do người trong nhà giết lẫn nhau trước, mới tan nát sạch sanh!
Cho nên sự hưng thịnh ban đầu của Giả phủ chẳng qua chỉ là ánh sáng rơi rớt ở thời kỳ cuối của xã hội phong kiến, đúng như Thám Xuân đã dự liệu, "con sâu trăm chân chết cũng không ngã" mà thôi, cuối cùng tất sẽ suy bại. Hồng lâu mộng vạch trần sâu sắc quy luật ấy nên thật xứng đáng là tác phẩm hiện thực vĩ đại.
Truyện có nguồn gốc xã hội sâu xa, vạch trần bản chất của xã hội phong kiến và làm nổi bật tư tưởng chủ đề chống phong kiến, và đó chính là chỗ vĩ đại. Việc Lâm Đại Ngọc, Kim Xuyến, Tình Văn, Tư Kỳ, chị ba Vưu, chị hai Vưu, Phan Hựu An bị bức tử đều là những lời tố cáo đẫm máu với xã hội ấy. Chuyện Giả Bảo Ngọc vùng ra khỏi vòng kìm kẹp tinh thần của con đường kinh bang tế thế bằng làm quan, phẫn uất xuất gia, và chuyện Lâm Đại Ngọc chống lương duyên kim ngọc đều là những yếu tố cơ bản tạo nên hình tượng chống phong kiến của bộ truyện. Sự vĩ đại của nó không chỉ ở chỗ vạch trần sâu sắc bản chất cái xã hội đó, mà còn ở chỗ ca tụng và ủng hộ sinh lực mới của thời đại, nên đáng được gọi là tác phẩm của thế kỷ.
Mở lối cho văn học hiện đại
Có tác phẩm ra đời như cuối một con đường cũ, và có tác phẩm ra đời như cái cửa đầu tiên của con đường mới.
Trước Hồng lâu mộng đã có những kiệt tác cổ điển như "Thuỷ hử", "Tam quốc diễn nghĩa", "Tây sương ký". Về tư tưởng thì "mỗi người mỗi vẻ", nhưng về giá trị nghệ thuật thì không thể so sánh với Hồng lâu mộng: chưa bộ nào có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao, hoàn mỹ và thống nhất như vậy.
Trước hết, truyện không theo đuổi chuyện quỷ thần, cũng không nhằm vào truyện lạ kỳ, mà lấy tình tiết từ cuộc sống hiện thực; điều đó quyết định tính xã hội và tính hiện đại của tác phẩm. Dù đầu truyện cũng có viết Bảo Ngọc là viên đá vá trời của Nữ Oa xuống hạ giới, Đại Ngọc là Giáng Châu thiên tử xuống phàm trần, về sau không tô vẽ thêm mà chỉ viết cuộc gặp gỡ của hai người trong hiện thực; đó chẳng qua để thêm cái bay bổng thoát tục cho họ. Vì thế lối thần thoại cao độ của "Tây sương ký" và lối khoa trương truyện lạ kỳ của "Tam quốc diễn nghĩa", "Thuỷ hử" đều không đưa vào đây. Về hình thức biểu hiện, truyện tuy từ "Kim bình mai" mà ra nhưng đã vượt rất xa: nếu "Kim bình mai" phản ánh đời sống kiểu chụp ảnh thì Hồng lâu mộng là sự chắt lọc đời sống hiện thực, và đó là điểm hơn hẳn.
Về mỹ học, truyện là mẫu mực của văn học hiện đại. Dù tả người, tả cảnh hay tả vật đều siêu việt xuất thần, rất giống thật; nét bút như vẽ, không hề có vết gọt rũa, khiến truyện đạt tới vẻ đẹp thiên nhiên chưa từng có, mở ra sắc thái riêng của văn học hiện thực và có ảnh hưởng sâu xa đến tiểu thuyết đời sau. Nhất là việc dựng hình tượng nhân vật theo lối tự bộc bạch nội tâm đã phá cái đơn thuần của đối thoại trong tiểu thuyết truyền thống, làm tăng sự khắc hoạ cá tính; văn học là văn học của con người, và thành công ấy mở ra một trang mới trong việc hiện đại hoá văn học Trung Hoa.
Kết cấu nghệ thuật tổng thể là một bước tiến quan trọng của nghệ thuật kết cấu tiểu thuyết Trung Hoa: sự đan xen nhiều tuyến phá vỡ kết cấu đơn tuyến của tiểu thuyết truyền thống, dựng cột mốc mới cho văn học tự sự hiện đại. Văn bạch thoại hay và đẹp đẩy tiểu thuyết cổ điển lên tầm quan trọng của văn học hiện đại. Truyện không chỉ có thơ, từ, văn vần điển nhã mà còn có lời tình yêu bạch thoại bình dị, làm văn học càng tiếp cận nhân dân, càng chân thực; văn học mãi mãi là văn học của nhân dân, chỉ có hấp thụ đầy đủ ngôn ngữ của nhân dân mới tiếp cận được cuộc sống. Tóm lại, Hồng lâu mộng đã kế thừa truyền thống tốt đẹp của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, cất lên tiếng nói đầu tiên của văn học hiện đại Trung Hoa, có tác dụng quan trọng, kế thừa người trước và mở lối cho người sau.
Một kho văn hoá, và cuộc hoà quyện của Nho, Đạo, Phật
Mở một cuốn truyện, ta bước vào cả một nếp sống: món ăn, áo quần, chén trà, mái nhà, tiếng đàn và quan niệm về đời người.
Hồng lâu mộng không chỉ là một tác phẩm văn học ưu tú mà còn là một tác phẩm văn hoá đồ sộ. Bộ truyện bao gồm đủ cả văn hoá cung đình, văn hoá quý tộc, ẩm thực, trang phục, trà đạo, y học, kiến trúc, nghệ thuật làm vườn, âm nhạc, mỹ học… của Trung Hoa, phản ánh rộng và sâu mọi mặt, là một tư liệu quan trọng để nghiên cứu văn hoá xã hội phong kiến thời kỳ cuối.
Nhất là tư tưởng của Nho, Đạo, Phật trong truyện rất đậm và hoà quyện khéo léo. Cả bộ truyện được quét một lớp màu Phật học dày, nhưng nhìn qua lớp màu ấy lại thấy đó là một bộ tiểu thuyết văn hoá mà chủ thể phản ánh tư tưởng của Nho gia. Đặc biệt nổi bật là quan niệm luân lý hiếu, lễ của Nho gia, được thể hiện đầy đủ từ trên xuống dưới qua Giả Nguyên Xuân, Giả Chính, Vương phu nhân, Tiết Bảo Thoa, Tập Nhân, những người làm vệ sĩ cho xã hội phong kiến thời kỳ cuối. Còn tinh thần chống đối, tiêu biểu là Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tình Văn, là sự thách thức đối với tư tưởng Nho gia ở thời kỳ ấy.
Cho nên truyện vừa phản ánh sự hưng suy của xã hội phong kiến, vừa tập trung biểu thị sự chìm nổi của tư tưởng Nho gia, vốn là tư tưởng chủ thể của xã hội ấy. Qua sự thất bại của Thám Xuân trong việc cải cách trị gia, truyện hàm ẩn mâu thuẫn giữa tư tưởng tư bản còn manh nha với chủ nghĩa phong kiến hủ bại ở thời kỳ cuối. Cái chết của Giả quý phi cũng ám thị hình ảnh gươm dao chém giết trong nội bộ cung đình của vương triều phong kiến. Đủ thấy tính tư tưởng của truyện khá sâu sắc.
Tư tưởng Phật học trong truyện cũng rất sâu. Ngay đầu bộ truyện đã nhấn mạnh "sắc là do không mà ra, rồi tình lại do sắc mà có", vừa tô đậm "sắc" (vật chất) tức là "không", không tức là sắc: vạn vật chẳng qua là "nhân duyên hoà hợp" nên vô thường, vô trú. Từ đó đặt nền tảng tư tưởng thoát tục xuất thế cho truyện; nhân sinh quan thoát tục xuất thế là tư tưởng chủ đạo của nó, phản ánh sự đối lập gay gắt giữa Phật và Nho ở cuối thời kỳ phong kiến. Những điều trên cho thấy Hồng lâu mộng không chỉ là tác phẩm văn học ưu tú mà còn là một tác phẩm văn hoá lớn ở tầng rất cao, có tính tư tưởng sâu sắc.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
