Bài tổng quan
Trang Tử thấm vào Đạo gia, huyền học, Phật học và thơ văn
Vợ mất, Trang Tử không khóc mà gõ trống ca hát. Cử chỉ lạ ấy là cửa ngõ dẫn vào một cách nhìn sống chết đã đi một đường rất dài: từ Đạo gia sang huyền học Ngụy Tấn, sang Phật học, rồi vào cả thơ văn. Nhưng có một nơi nó đã không đi tới…
Trang Tử là một tác phẩm triết học rất đặc sắc của Trung Quốc cổ đại. Cùng với Lão Tử, nó trở thành hạt nhân tư tưởng Lão – Trang, không chỉ là khuôn mẫu của Đạo gia mà còn là điển tịch quý của triết học Trung Hoa, đồng thời là một viên ngọc sáng của văn học Trung Quốc.
Từ Lão Tử đến một Đạo gia hoàn chỉnh
Trang Tử phát triển đầy đủ tư tưởng Lão Tử và trở thành hạt nhân của học thuật Đạo gia. Điều đó thể hiện ở ba mặt.
Từ duy tâm khách quan sang duy tâm chủ quan
Thế giới quan của Trang Tử là thế giới quan duy tâm triệt để, thể hiện trước hết ở nhận thức về bản thể vũ trụ. Dựa trên tôn chỉ của Lão Tử, Trang Tử trình bày bản thể vũ trụ là "đạo": vô hình, tồn tại từ xưa, sinh trước trời đất mà chẳng gọi là lâu, dài mà chẳng gọi là già. Điều đó nhất trí với đạo của Lão Tử, vốn là vật không có ảnh, không có hình, hỗn độn mà thành, sinh trước trời đất, đứng một mình mà không đổi.
Tức là cho rằng đạo là bản thể tuyệt đối vượt thời gian và không gian, sinh trước trời đất, thể hiện bản thể vũ trụ của chủ nghĩa duy tâm khách quan. Nhưng về nhận thức luận, Trang Tử đã duy tâm hóa triệt để quan điểm của Lão Tử và biến nó thành chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Tề vật luận của ông nhấn mạnh vật và ta đều là một, vạn vật đều là một. Mộng điệp Trang Châu phản ánh đầy đủ quan điểm duy tâm chủ quan không tách chủ quan khỏi khách quan. Tóm lại, Trang Tử đã đưa vũ trụ quan duy tâm khách quan của Lão Tử thành vũ trụ quan duy tâm chủ quan, tạo cơ sở cho hệ thống triết học duy tâm của Đạo gia, có ảnh hưởng sâu đến sự hình thành và phát triển tư tưởng Đạo gia.
Từ nhận thức tiêu cực sang thủ tiêu nhận thức
Quan điểm bản thể của Lão Tử phản ánh chủ nghĩa hư vô trong nhận thức về thế giới khách quan. Câu "vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ có, có sinh ra từ không" nhấn mạnh "không" là chủ đạo, "có" là phụ thuộc. Trên nền hư vô ấy, Lão Tử chủ trương "tuyệt học", "bỏ trí", thể hiện nhận thức luận tiêu cực.
Trang Tử thì qua "Tề vật luận" tuyên bố rằng giữa sự vật không có khác biệt nào, căn bản không cần có nhận thức. Nhờ vậy ông đẩy nhận thức luận tiêu cực của Lão Tử thành chân lý luận không khách quan. Lý luận này tạo cơ sở cho nhận thức luận của Đạo gia và làm căn cứ cho triết lý nhân sinh "vô dục, vô vi".
Từ lánh đời sang bỏ đời
Triết lý nhân sinh của Lão Tử là ở ẩn, lánh đời, vì chủ trương nước nhỏ ít dân, đề xướng không muốn, không làm, không tranh, không học. Dẫu vậy, ở Lão Tử vẫn còn tinh thần "lấy yếu thắng mạnh, lấy nhu thắng cương". Trang Tử thì làm cho triết lý ấy tiêu cực hơn một cách triệt để.
Trước hết, Trang Tử đánh đồng sống và chết, cho rằng đã có sống và chết thì không cần đau thương khi chết. Vợ ông mất, ông trái lại gõ trống ca hát, phản ánh quan điểm ấy. Đã vậy thì không cần quý sự sống, mà sống đã không có giá trị thì cũng chẳng cần cầu danh lợi. Cho nên trong "Tiêu dao du", Trang Tử nhấn mạnh "vô công, vô danh", kêu gọi tinh thần tự do tuyệt đối, hưởng một đời tự tại "vô đãi, vô kỷ", cuộc sống lãng mạn "không tranh, không đấu".
Tóm lại, về triết lý nhân sinh, Trang Tử không chỉ tán thưởng quan điểm lánh đời của Lão Tử mà còn phát triển nó thành quan điểm "tiêu dao du" không bị gò bó. Nhất là ông đề xướng "ngồi mà quên", "tâm du", chủ trương vật với ta là một, vạn vật là một, tạo cơ sở lý luận cho việc tu luyện thành tiên của Đạo gia. Ông viết: nghìn năm chán đời thì lên tiên, cưỡi mây trắng về quê hương thượng đế. Vì thế quan điểm xã hội của học phái Lão – Trang cuối cùng, do nhân sinh quan tiêu cực mà đi đến phạm vi tôn giáo; cũng vì thế, Lão Tử và Trang Tử đều trở thành kinh điển của Đạo gia. Tóm lại, Trang Tử kế thừa và phát triển tư tưởng học thuật của Lão Tử, cấu thành tư tưởng Lão – Trang trong hệ thống tư tưởng Trung Quốc, và có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành, phát triển của Đạo gia.
Trang Tử với huyền học, Phật học và lý học
Trang Tử không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành Đạo gia mà còn ảnh hưởng lớn đến huyền học, Phật học và lý học Trung Quốc.
Với huyền học
Huyền học là trào lưu tư tưởng thời Ngụy Tấn lấy Chu Dịch, Lão Tử, Trang Tử làm kinh điển. Đặc trưng của nó là chủ trương Dịch và Lão hòa làm một, Nho và Đạo quy tụ. Để quy tụ hai bên, các nhà huyền học luôn dùng tư tưởng Lão – Trang giải thích Dịch, đưa Dịch vào hệ thống tư tưởng Lão – Trang. Đại biểu là Hà Yến và Vương Bật. Thế là Trang Tử trở thành một trong những kinh điển chủ yếu của huyền học.
Tư tưởng "quý vô" của Trang Tử và Lão Tử là hạt nhân của chủ nghĩa hư vô trong huyền học, còn sự tôn sùng "tự nhiên vô vi" mang tính tiêu cực của Lão – Trang trở thành triết lý nhân sinh của các nhà huyền học. Nó ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của nhóm Trúc Lâm thất hiền, cũng như quan điểm "vô vi tự nhiên" vượt ra ngoài danh giáo mà về với tự nhiên của Nguyễn Tịch, Kê Khang.
Với Phật học
"Vô" của Trang Tử và "không" của Phật học về bản chất đều là "hư", nên tự nhiên khớp nhau ở hạt nhân lý luận. Thời Đông Tấn quốc gia phân liệt, xã hội biến động, huyền học Lão – Trang hưng thịnh, Phật giáo cũng hưng thịnh cùng với huyền học, dùng huyền học để giải thích Phật học mà sinh ra Phật giáo huyền học. Tư tưởng "có sinh ra từ không" của Lão – Trang ảnh hưởng lớn tới thuyết "có bắt đầu từ tính không" của Tăng Triệu, một đại biểu huyền học, người đề xướng lý luận này: vạn vật trong vũ trụ đều đi ra từ "không".
Cái gọi là "có" không phải giả như có nhân duyên, căn nguyên của nó vẫn là không có duyên cớ. Điều ấy khớp với quan điểm bản thể "có sinh ra từ không" của Lão – Trang. Nhờ sự thống nhất của thế giới quan duy tâm mà huyền học Lão – Trang hưng thịnh, ảnh hưởng đến Phật giáo huyền học, và sự phát triển của nó lại thúc đẩy Phật giáo Trung Quốc lan rộng. Đó là ảnh hưởng sâu sắc của Trang Tử với Phật giáo.
Với lý học
Lý học là trào lưu tư tưởng hình thành qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, lấy "lý" làm phạm trù, với Trình – Chu là đại biểu; nhất là Chu Hi thời Nam Tống đã nối tiếp tư tưởng Nho gia. Về bản thể luận, lý học có liên quan đến đạo học, nhưng đạo học đây không phải học thuyết của Đạo gia mà là học thuyết dò tìm bản thể vũ trụ, nơi Nho, Dịch, Đạo đều có mặt. Điểm khác là lý học coi trọng hiện thực và xã hội, khác với huyền học Lão – Trang xa hiện thực, xem nhẹ xã hội.
Lý học, nhất là lý học Chu Hi, thống trị Trung Quốc 800 năm, ảnh hưởng xã hội của Nho học lên đến tột bậc. Vì thế lý học Chu Hi là sự phát triển của Nho học và không liên quan tới Đạo gia Lão – Trang. Ngay cả bản thể luận siêu hình của hai họ Trình cũng có nguồn gốc từ Dịch truyện; còn thuyết tâm tính của tâm học Vương – Lục chịu ảnh hưởng của tâm tính Phật học, mà tâm học này tuy bản thể là duy tâm nhưng không phủ nhận việc coi trọng hiện thực xã hội. Cho nên, dù tư tưởng Lão – Trang có ảnh hưởng nhất định đến bản thể luận của lý học, nó không tạo ra quan điểm xã hội nào cho lý học, và nhìn chung ảnh hưởng với lý học Tống, Minh không lớn. Tóm lại, tư tưởng Lão – Trang trong Trang Tử, Lão Tử ảnh hưởng lớn tới việc hình thành, phát triển huyền học và Phật học thời Ngụy Tấn, nhưng chỉ có tác dụng cổ vũ nhất định với bản thể luận của lý học.
Dòng thơ văn lãng mạn chảy ra từ Trang Tử
Với văn hóa Trung Quốc, Trang Tử không chỉ có ảnh hưởng lớn về triết học mà còn có giá trị lớn về văn học, từng ảnh hưởng sâu sắc tới dòng văn học lãng mạn cổ đại.
Nối tiếp văn hóa nước Sở
Văn học của Trang Tử kế thừa và phát triển văn học nước Sở. Văn hóa Sở nằm dọc sông Trường Giang và sông Hoài, tạo nên phong cách giàu ảo tưởng và sắc thái lãng mạn. Sơn Hải kinh, Trang Tử và Ly tao của Khuất Nguyên là những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Trang Tử và tác phẩm của Khuất Nguyên đều là mẫu mực của văn học lãng mạn nước Sở, nhưng Khuất Nguyên là lãng mạn tích cực nên quay về với Nho gia, còn Trang Tử là lãng mạn tiêu cực, tôn sùng huyền học và Đạo gia. Văn của Trang Tử đặc biệt thách thức lối văn điển nhã nghiêm túc truyền thống. Từ ngữ giàu sắc thái, trí tưởng tượng phong phú của nó làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học Sở, ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của văn học Sở.
Với văn học Ngụy Tấn
Dù Trang Tử chủ trương "diệt văn chương, tán ngũ sắc", phủ định lý luận văn học và bài xích nghệ thuật, tư tưởng văn học trong đó vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến văn nghệ đời sau, nhất là văn học huyền học Trúc Lâm thời Ngụy Tấn. Xã hội Ngụy Tấn đang phân liệt, suy thoái; không ít trí thức bi quan với xã hội mà lui về ở ẩn, có người thất cơ lỡ vận mà đi ở ẩn. Tư tưởng lạnh nhạt với hiện thực dẫn đến việc lãng mạn hóa và ảo tưởng hóa phong cách văn học. Trong bối cảnh ấy, lối văn lãng mạn được trọng, nên văn học huyền học thời Ngụy Tấn lấy phong cách Trang Tử làm đặc trưng là điều tất yếu của lịch sử.
Dưới ảnh hưởng của văn học phản nghịch và huyền hư của Trang Tử, thời Ngụy Tấn xuất hiện một loạt danh sĩ như nhóm Trúc Lâm thất hiền gồm Kê Khang, Nguyễn Tịch, Hướng Tú, và những nhà văn theo phong cách tự nhiên như Đào Uyên Minh. Đặc điểm của dòng văn này là nội dung thoát tục, lãng mạn. Sự hưng thịnh của huyền học thúc đẩy văn học Đạo gia, mà văn học Đạo gia cũng ảnh hưởng ngược lại sự hình thành và phát triển văn học huyền học.
Giữa văn học Nho và văn học Đạo
Từ sau đời Hán, Nho học được coi là quan học, văn học Nho bị lễ giáo câu thúc, đi theo con đường nghiêm túc. Tư tưởng xuất thế, xem nhẹ hiện thực của Trang Tử tất dẫn đến say đắm trong ảo tưởng, xa rời thực tế, rồi đi về hướng lãng mạn. Nho và Đạo có chỗ khác nhau giữa triều đình và dân gian, giữa trói buộc lý luận và xem nhẹ lý luận, nên văn học của hai bên cũng đi hai đường. Văn học Nho nhấn mạnh trách nhiệm của cá nhân với xã hội nên thành văn học giáo hóa, văn học lễ nhạc. Còn văn học Đạo gia lấy Trang Tử làm đại biểu, theo tự nhiên, nhấn mạnh giải phóng cá tính, theo đuổi văn học tự do "vô đãi vô kỷ".
Văn học hiện thực hình thành lâu dài lấy Khổng – Mạnh làm đại biểu, ưu thế ở tính tư tưởng; văn học Đạo gia dùng phong cách nghệ thuật đặc sắc của lãng mạn Trang Tử. Hai dòng ấy xưa nay đối lập mà bổ sung cho nhau, đều có cống hiến bất hủ cho văn học. Văn học cổ điển Trung Quốc nhờ vậy phát triển đa sắc thái, không khiên cưỡng, điều đó không thể tách rời văn học Đạo gia mà Trang Tử là đại biểu. Trang Tử có ảnh hưởng sâu sắc tới phong cách văn học lãng mạn Trung Quốc, đến Tống Ngọc, Giả Nghị, Nguyễn Tịch, Đào Uyên Minh, Lý Bạch, Tô Thức. Rõ ràng, Trang Tử có giá trị về tư tưởng triết học, văn học nghệ thuật, và ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng chính trị, tôn giáo, văn hóa Trung Quốc.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
