Bài tổng quan
Đạt Ma diện bích chín năm và mưu lược của Y Doãn
Trong chùa Thiếu Lâm, Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào vách đá suốt chín năm để tìm đạo, còn ở đáy xã hội cuối thời nhà Hạ, một đứa trẻ nhặt được trong bụi dâu lớn lên thành vị tể tướng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc xuất thân từ nô lệ. Giữa hai câu chuyện ấy là hàng chục bức tranh ngắn gọn về đạo lý làm người mà tổ tiên Trung Hoa để lại...
Từ khởi nguồn Thiền tông đến đạo lý nhân sinh Trung Hoa
Sau những quẻ Dịch và lời Lão - Trang, chùm tranh dẫn người xem sang một mạch khác của tâm hồn Trung Hoa: thiền định của nhà Phật, rồi đến luân lý nhân sinh mà Nho gia gửi gắm qua từng câu chuyện đời thường.
Thiền, khởi nguồn của Thiền tông
"Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni cầm bông hoa lên, thì Nhị Tổ là Ma Ha Ca Diếp mỉm cười."
- Truyền đăng lục.
Chính nhãn pháp tạng
Nhị Tổ Ca Diếp được Phật Tổ truyền thụ đạo cho, tức thanh tịnh như Phật tâm, được cái chính pháp tối thượng.
- Ngũ đăng hội nguyên.
Úp mặt vào tường
Tam Tổ là Đạt Ma ở trong chùa Thiếu Lâm Tự, úp mặt vào tường vách chín năm để giác ngộ đạo Phật.
Chặt tay cầu đạo
Tứ Tổ Huệ Khả cầu đạo nơi Đạt Ma, từng đứng trên tuyết chặt đứt cánh tay để tỏ lòng thành.
Lục Tổ Huệ Năng đề kệ
Cây Bồ đề vốn không phải là cây
Cái đài sáng vốn cũng không phải là cái đài
Vốn không phải là một vật
Chỗ nào cũng có thể nhiễm được bụi trần.
Vạn pháp quy nhất
Hỏi: Như thế nào thì được gọi là Phật?
Đáp: Ba cân gai.
Hỏi: Thành Phật chỉ có một, thế một là cái gì?
Đáp: Một cái áo nặng bảy cân.
Đốn ngộ
Bất trứ ngữ ngôn (Không phải ở lời lẽ to tát)
Trực chỉ nhân tâm (Mà chỉ ở chỗ tâm người ta)
Bất lập văn tự (Không phải lập văn tự, chữ nghĩa)
Kiến tính thành Phật (Chỉ cần thấy được cái tính là thành Phật).
Thiền cơ chăn trâu
Mã Tổ hỏi: "Làm gì thế?" Vị hòa thượng đáp: "Chăn trâu." Hỏi: "Chăn thế nào?" Đáp: "Cho trâu đi ăn cỏ." Mã Tổ nói: "Thật đúng là đồ chăn trâu."
- Tranh Mục ngưu.
Thiền ngộ, thổi tắt ngọn nến
Thổi tắt ngọn nến sẽ thấy tâm ta sáng lên.
Thiền ngộ, đốn ngộ
Đốn ngộ là thuật ngữ Phật giáo, nghĩa là đột nhiên giác ngộ đạo Phật.
Tọa thiền
Như thế nào gọi là tọa thiền? Cái phép tọa ấy là ở ngay trong nhà. Không để cho cái gì đến làm vướng bận đến thân, tâm của ta. Ở ngoài tất cả cảnh giới thiện, ác. Trong tâm không để một chút gì vướng bận, ấy gọi là tọa thiền. Tự thấy được cái tính bên trong của mình, ấy gọi là tọa thiền.
- Đàn kinh.
A tự quán, tâm niệm chữ A
Miệng nói chữ A, trong lòng thầm niệm, hơi thở đều đặn, tâm trí yên bình, ngắm thấy trong tim có một vừng trăng sáng nhô lên cao, trong đó có một bông sen trắng tám cánh, trên đài sen lấp lánh chữ A vàng.
Nhân sinh, tình cảm qua từng bức tranh cổ
Dân tộc Trung Hoa từ ngàn xưa đã là một dân tộc coi trọng luân lý và chí khí. Cả nền tảng tình cảm và luân lý của Trung Quốc xưa, đại biểu là Lễ, Nhạc, Nhân, Nghĩa, trải qua mấy ngàn năm tựa như chiếc lò nung vĩ đại của lịch sử đã tôi luyện, hun đúc nên lý tưởng nhân sinh của người Trung Quốc, và tạo nên cái trục cho đời sống tình cảm của ngàn vạn con cháu Viêm Hoàng.
Tự cường không nghỉ
"Người quân tử luôn vươn lên không ngơi nghỉ."
- Tự cường bất tức, Chu Dịch.
Cùng tắc tư biến
"Dịch cùng sẽ biến, biến rồi sẽ thông, thông rồi sẽ trường tồn, vĩnh cửu."
- Chu Dịch.
Tích thiện
"Những người tích thiện ắt gặp điều lành, những kẻ không tích thiện ắt gặp tai ương."
- Chu Dịch.
Cái đạo làm người là nhân và nghĩa
Cái đạo làm người chính là nhân và nghĩa.
- Lập nhân chi đạo, viết nghĩa dữ nhân.
Quý học, ham học
Tuổi nhỏ mà ham học, cũng giống như mặt trời lúc mới mọc.
Khi trưởng thành mà ham học, cũng giống như ánh sáng mặt trời giữa trưa.
Tuổi đã cao mà vẫn học, cũng giống như ánh sáng của bó đuốc lớn.
- Lưu Hướng đời Hán, Thuyết uyển, Kiến bản.
Quý tuổi trung niên
Đời người đi qua thời trung niên, cũng giống như một ngày đi qua buổi trưa.
Chăm chỉ học hành
Không biết chăm học thì tuổi già cũng sẽ đến.
- Luận ngữ.
Phòng ngừa thối rữa
"Nước chảy thì không bao giờ thối, then cửa không bao giờ gỉ mọt."
- Lã Thị Xuân Thu, Tận số.
Nhân sinh vô thường
"Làm sao có thể lường được cái nỗi gió mây của trời, cũng như cái họa sớm chiều của con người."
- Tam quốc diễn nghĩa.
Ba chặng đường của đời người
Tam thập nhi lập (Ba mươi tuổi lập thân)
Tứ thập nhi bất hoặc (Bốn mươi tuổi không còn điều gì hoài nghi)
Ngũ thập tri thiên mệnh (Năm mươi tuổi đã hiểu được cái mệnh trời).
- Vi chính, Luận ngữ.
Nỗi lo đất nước
"Đối với sự hưng vong của thiên hạ, kẻ thất phu cũng phải có phần trách nhiệm."
- Thông sử, Ngô Kiểu Nhan đời nhà Thanh.
Tiếng gió, tiếng mưa, tiếng đọc sách, tiếng nào cũng đều lọt vào tai
Việc nhà, việc nước, việc thiên hạ, việc nào cũng đều quan tâm.
- Cố Hiến Thành đời nhà Minh, câu đối đề ở Đông Lâm thư viện.
Thời gian trôi
"Ba mươi năm nước chảy về đông, ba mươi năm nước chảy về tây."
- Hồi 46, Nho lâm ngoại sử.
Không có con đường cùng
Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.(Đi đến tận cùng sơn thủy ngỡ là không còn đường nữa
Bỗng thấy bóng liễu mờ, hoa lại hiện ra một thôn xóm).
- Lục Du, Du Sơn Tây thôn.
Kính lão
"Chăm sóc người già của ta và của người
Yêu thương con trẻ của ta và của người."
- Mạnh Tử, Lương Huệ Vương thượng.
Thương dân
Vui vì thiên hạ (Lạc dĩ thiên hạ)
Lo cho thiên hạ (Ưu dĩ thiên hạ).
- Mạnh Tử, Lương Huệ Vương thượng.
Nhân ái
Phàn Trì hỏi về điều nhân.
Khổng Tử trả lời: Nhân tức là lòng yêu con người.
- Nhan Uyên, Luận ngữ.
Thượng hiền
"Người ta đều có thể làm Nghiêu Thuấn."
- Mạnh Tử, Cáo Tử hạ.
Phẩm hạnh
Người quân tử bộc trực, thẳng thắn
Kẻ tiểu nhân khúm núm, sợ sệt.
- Luận ngữ.
Nhân tính
"Tính người vốn dĩ như nhau, dần dà qua sự rèn giũa thành thói quen mà trở nên khác nhau."
- Dương Hóa, Luận ngữ.
Cần học
"Cho ta sống thêm vài năm nữa để học sách Kinh Dịch, thì có thể sẽ không phạm những sai lầm lớn."
- Thuật nhi, Luận ngữ.
Hiếu học
"Không biết cái già nó cũng sẽ đến!"
- Luận ngữ.
Giáo học, dạy học
Học không chán ghét
Dạy không mỏi mệt.
- Luận ngữ.
Tiếc thời gian
Thiếu tráng bất nỗ lực
Lão đại đồ bi thương
(Lúc trẻ trung không cố gắng
Đến lúc già, con đường đi chỉ toàn khó khăn, đau xót).
- Trường ca hành, Nhạc phủ cổ từ đời Hán.
Tiết tháo
Phú quý bất năng dâm (Giàu sang không dâm loạn)
Bần tiện bất năng di (Nghèo khó không đổi lòng)
Uy vũ bất năng khuất (Oai vũ không khuất phục).
- Đằng Văn Công, Mạnh Tử.
Hy sinh thân mình vì nghĩa
Sinh mệnh ta cũng muốn có
Nghĩa cử ta cũng muốn có
Hai thứ không thể cùng có
Thì ta sẽ xả thân mình vì nghĩa.
- Mạnh Tử, Cáo Tử.
Vì nước
"Tận tụy hầu hạ, phụng mệnh đến chết mới thôi."
- Hậu xuất sư biểu, Gia Cát Lượng.
Biết đủ
Biết thế nào là đủ thì luôn vui vẻ. Tai họa không có điều gì lớn bằng lòng không biết thế nào là đủ. Cho nên, biết đủ thì đủ, ấy là lẽ thường vậy.
- Lão Tử.
Thủ tiết
"Ba quân có thể đoạt được tướng, kẻ thất phu không thể đoạt được chí."
- Tử Hãn, Luận ngữ.
Quý hòa
"Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa."
- Mạnh Tử, Công Tôn Sửu.
Phẩm đức
"Cái gì bản thân mình không muốn thì đừng làm điều đó cho người khác."
- Nhan Uyên, Luận ngữ.
Quý học
"Trong ba người cùng đi ắt có thầy của ta."
- Luận ngữ.
Thể sát, thử nghiệm và quan sát
Thầy bói xem voi, ếch ngồi đáy giếng.
Mạnh mẫu ba lần dời nhà
"Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng."
Các nhà mưu lược của Trung Quốc cổ đại
Lưu vực sông Hoàng Hà và hai bờ Trường Giang đã sản sinh ra các thế hệ những nhà mưu lược mà đa phần trong số họ đều là những quân sư về chính trị, đều có một đặc điểm chung là túc trí đa mưu, có thể tiên đoán tính toán được mọi việc như thần. Trong lịch sử Trung Quốc, họ là những người lập nên được nhiều công lao to lớn.
Có thể nói, các triều đại của Trung Quốc xưa, thời nào cũng có những nhà mưu lược chính trị trác việt, họ đã đứng thành một đội ngũ đông đảo trên vũ đài lịch sử, thể hiện ở nhiều lĩnh vực xã hội, bao gồm các danh sư mưu lược gia, danh tướng mưu lược gia, danh quân mưu lược gia và danh thần mưu lược gia. Dưới đây chọn giới thiệu ba nhà mưu lược có tính điển hình nhất và đi vào tìm hiểu những nét tinh sâu trong cơ mưu, sự nghiệp của họ.
Y Doãn, bậc khai quốc công thần của nhà Thương
Y Doãn còn có tên là Y Chí. Sách Lã Thị Xuân Thu viết: "Có người con gái họ Tang đi hái dâu, nhặt được đứa bé trong bụi dâu, vì ở bên bờ nước nên đặt tên là Y Doãn." Sách Sử ký nói rằng "Doãn" nghĩa là "chính", giúp vua Thang thu phục thiên hạ, thời cuối Chu đầu Thương, là người nước Thẩm. Y Doãn là phụ thần quan trọng nhất - tể tướng - của vua Thang. Ông cũng là vị tể tướng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc xuất thân từ nô lệ. Ông đã phò tá vua Thang tiêu diệt nhà Hạ, góp công lớn cho sự nghiệp khai sáng và hưng thịnh của nhà Thương. Y Doãn phò tá cả thảy bốn triều vua nhà Thương là Thang, Bốc Bính, Trọng Nhâm, Thái Giáp, trở thành bậc danh sư mưu lược chính nghĩa đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
Y Doãn là bậc anh tài của bộ lạc Tang thị dưới thời mạt Hạ. Mặc dù xuất thân hèn mọn - nô lệ - song lại có một hoài bão lớn lao, ông là người có tài trí và nhân đức, là một ngôi sao sáng dù bị vùi lấp trong những khổ đau tăm tối của giai tầng nô lệ vẫn tỏa lên ngời rạng. Vua Thành Thang - Thương Thang - vị hoàng đế khai quốc của nhà Thương, là bậc minh quân hiền đức và quyết đoán. Thương Thang vốn là một nước chư hầu của vua Kiệt nhà Hạ, đã cường thịnh vượt bậc rồi tiêu diệt nhà Hạ, hưng lập nên nhà Thương. Sự nghiệp vĩ đại đó gắn liền với sự phò giúp của Y Doãn.
"Y Doãn vốn là kẻ sĩ, vua Thang năm lần sai người đến rước đón, sau mới chịu ra giúp. Sau khi nghe Y Doãn nói chuyện về tố vương - vua mà không cần có quân tướng - và cửu chủ, vua Thang đã tin tưởng cử ông coi giữ triều chính."
- Sử ký, Ân bản kỷ.
Y Doãn từng làm nô lệ của họ Tang, vua Thang muốn dùng ông, đã phải cất công ba lần đi mời, cuối cùng nghĩ ra cách kết thân với nhà họ Tang để buộc Y Doãn làm hầu thần theo hầu chủ nhân lấy chồng về nhà Thương của vua Thang, và từ đó bắt đầu được trọng dụng.
Sau khi Y Doãn được vua Thang phá cách đưa lên làm thừa tướng, ông đã bắt đầu sự nghiệp phò tá bốn triều vua nhà Thương, trong đó công lao to lớn bậc nhất của ông chính là đã giúp vua Thang diệt Hạ Kiệt. Trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, có thể nói vua Thang và Y Doãn là đại biểu của một thế lực tích cực và tiến bộ, còn vua Kiệt là đại diện cho thế lực lạc hậu và đồi bại. Vua Kiệt hoang dâm tàn bạo khiến lòng dân oán ghét, vua Thang lại hiền minh nhân hậu nên rất được lòng dân. Y Doãn cùng vua Thang đã phải dồn sức chuẩn bị trong nhiều năm mới tiêu diệt được Hạ Kiệt. Bài văn "Thang thệ" chính là bài hịch văn chinh phạt Hạ Kiệt, thể hiện cuộc quyết đấu giữa hai thế lực đại biểu cho sự tiến bộ và lạc hậu.
"Nhà Hạ tội lỗi chất thành núi, vua Hạ làm hại sức dân, tổn vong xã tắc, thấy dân chúng lâm vào tai nạn mà không cứu giúp. Ý chí ta như mặt trời kia, mặt trời chết thì ta mới vong. Vận nhà Hạ đã hết, nay trẫm phải đem quân đi đánh."
- Thượng thư, Thang thệ.
Bài văn tố cáo Hạ Kiệt quen thói bạo ngược, hại dân thảm khốc, trọng cống phẩm, bắt lao dịch, làm kiệt sức dân, lại dùng cực hình để tàn hại trăm họ, khiến cho lòng dân căm ghét, oán hận, không muốn để sống. Hạ Kiệt khiến dân chúng vô cùng căm phẫn, do vậy sao tránh khỏi sự diệt vong tất yếu. Thương Thang quyết tâm tiêu diệt Hạ Kiệt, ý chí này quyết không lay chuyển, như bầu trời có mặt trời, mặt trời mất thì trời cũng diệt vong. Vua Thương kêu gọi tướng sĩ hăng hái diệt Kiệt, xem cái chết nhẹ nhàng như sự trở về; nếu có ai không thề cũng đánh sẽ chuốc lấy cái chết, tức là nói nếu ai lâm trận mà bỏ chạy thì sẽ không tha mạng.
Sử ký cũng chép rằng: "Kiệt bỏ đức, tàn bạo hãm hại trăm họ, trăm họ không chịu nổi", hay "Hạ Kiệt hội chư hầu ở Nhưng - một địa danh nay là Tế Ninh thuộc tỉnh Sơn Đông - các chư hầu làm phản."
Vua Kiệt nhà Hạ thực sự tàn ác và ngu tối. Y Doãn phò tá vua Thang nhà Thương diệt nhà Hạ là chính nghĩa, phù hợp với quy luật phát triển lịch sử khách quan. Do vậy mà các chư hầu cùng tướng sĩ dự hội thề đều bừng bừng khí thế, ai ai cũng nguyện vì nghĩa cả đạp bằng gian nan. Khi cuộc đại chiến quyết liệt nổ ra ở Minh Điều, vua Kiệt đem Muội Hỷ, Đát Kỷ chạy trốn, về sau lâm bệnh mà chết. Vương triều nhà Hạ trải qua 500 năm lịch sử cuối cùng đã bị nhà Thương thay thế.
Y Doãn vốn là một đầu bếp trưởng. Các nguyên lý nấu nướng làm ra một món ăn đã giúp gợi mở ý tưởng cho mưu lược của ông. Y Doãn cho rằng mấu chốt của việc cầm quân chính là ở chỗ phải biết dưỡng thế chờ thời, phải nắm giữ thời cơ cũng như điều khiển ngọn lửa khi nấu nướng. Còn thuật trị nước cũng chẳng khác gì thủ thuật gia giảm khi nấu ăn. Đúng như Sử ký viết: "Từ việc nấu canh cho đến cái đạo làm vua đều phải qua dạy dỗ."
Trong lĩnh vực quân sự, Y Doãn đặc biệt chú ý nắm bắt chắc thời cơ cũng như biết rõ độ lửa phải thế nào khi nấu nướng. Như trong cuộc chinh phạt Hạ Kiệt, Y Doãn hiến kế ngừng cống nạp để thử sức địch: lần thứ nhất Hạ Kiệt còn điều được binh lực của chín nước chư hầu để kháng cự lại, đến lần thứ ba chỉ có thể điều binh của ba chư hầu, chứng tỏ Hạ Kiệt đã đánh mất khả năng triệu tập chư hầu. Khi đó Y Doãn mới tâu với vua Thang rằng thời cơ diệt nhà Hạ đã đến. Trong thời gian đánh Hạ, Y Doãn luôn ở bên vua Thang, động viên sĩ khí và làm bài "Thang thệ" vạch trần tội trạng của Hạ Kiệt, kêu gọi nhân dân khi ngọn lửa căm hờn đã dâng lên cao độ hãy vùng dậy đấu tranh, do vậy mà giành được đại thắng.
Sử ký Tư Mã Thiên còn viết: "Vua Thang tu đức, các chư hầu đều theo về. Vua Thang đem quân đánh Hạ Kiệt, Kiệt bỏ chạy đến Minh Điều, sau ốm mà chết."
Trong lĩnh vực trị nước, Y Doãn chủ trương một sự hài hòa cân đối: thi hành các chính sách giảm bớt tô thuế, cống nạp, dựa trên ý kiến của dân cũng như căn cứ vào tình hình cụ thể của các bộ lạc để thực hiện một cách hiệu quả nhất các chủ trương chính trị, nhắc nhở các quan lại nhiệt tình làm việc. Chính sách của Y Doãn được nhân dân các bộ lạc ủng hộ và đã có tác dụng củng cố hơn nữa địa vị thống trị của nhà Thương.
Y Doãn còn đề nghị vua Thành Thang nên thi hành hàng loạt những biện pháp chính trị tiến bộ, bao gồm chỉnh đốn dân chính, cổ vũ sản xuất, phát triển thủy lợi, cải cách thi cử quan trường, dời đô về Tứ Hào... giúp cho triều đại nhà Thương trở nên hưng thịnh, phát triển vượt bậc mà trước đó chưa từng thấy trong lịch sử. Đây cũng là bước đi quan trọng đặt nền tảng cho triều đại nhà Thương kéo dài suốt 600 năm lịch sử.
Y Doãn trị quốc rất chú ý cẩn trọng. Ông khuyên răn tù trưởng của các bộ lạc phải cần cù liêm chính và cẩn trọng, như trong "Y huấn" viết, đại ý: phải lấy khoan dung nhân hậu mà thay thế bạo ngược thì mới thu phục được lòng người trong thiên hạ ủng hộ và lựa chọn. Ông luôn nhắc nhở về đạo trị nước, luôn phải cẩn trọng khi mới bắt đầu, nhắc nhở mọi người phải hiếu kính với các bậc già lão, yêu thương kính trọng lẫn nhau, hãy để lòng nhân ái chan hòa trong cả gia đình và xã hội.
"Lấy tình yêu đối với người thân, lòng kính trọng đối với người già, đi ra từ mái ấm gia đình sẽ đến được bốn bể rộng lớn trong thiên hạ."
- Y huấn, Thượng thư.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).
