Bài tổng quan
Gỗ cạn, quan tài thuyền biến mất và hàng cây trên mộ
Nhà Tần đóng hàng vạn chiếc thuyền chở mười vạn quân đánh nước Sở, rồi gỗ núi Thục lại kéo về dựng cung A Phòng. Đến đầu thời Hán, lối chôn trong quan tài hình thuyền ở đất Thục bỗng biến mất…
Táng cụ nào cũng cần có nguyên liệu dễ kiếm
Muốn có táng cụ, trước hết phải có nguyên liệu. Một loại táng cụ mà một dân tộc dùng phổ biến suốt một giai đoạn lịch sử khá dài thì nguồn nguyên liệu của nó tất phải đầy đủ và dễ lấy. Nơi nào thịnh hành quan tài đá, nhà đá, mộ xây bằng đá, lều đá dựng trên mộ thì nơi ấy trước hết phải có nhiều đá và đá phải dễ khai thác. Vùng thảo nguyên thường phổ biến hỏa táng, nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu liên quan đến việc vùng này thiếu đá và thiếu gỗ. Còn nơi lấy quan tài gỗ làm táng cụ thì phải có nguồn gỗ phong phú.
Trung Nguyên cạn rừng, người giàu phải mua gỗ nơi xa
Có thời, giàu đến mấy cũng phải đi xa mới tìm được tấm ván cho quan tài.
Vùng Trung Nguyên xưa từng có nguồn rừng rất phong phú, nhưng vì khai thác tương đối sớm lại đông dân, nguồn ấy nhanh chóng cạn. Đến thời Xuân Thu, Chiến Quốc, rất nhiều dân thường bất đắc dĩ phải chôn người thân mà không có quan tài. Sang thời Hán, một số quan lại và quý tộc đua nhau tới vùng khác mua và chở gỗ về; có ghi chép nói quý tộc ở kinh thành phải xuống Giang Nam mua gỗ. Sách Diêm thiết luận chép:
"Người giàu ngày nay phải đi lấy gỗ ở nơi khác."
Đời Đường, Tống, vùng Trung Nguyên có thời thịnh hành hỏa táng, và điều đó có liên hệ nhất định với việc thiếu gỗ. Gỗ ở phương Nam thời xưa phong phú hơn nhiều, dân số lại ít, nên táng cụ gỗ của các dân tộc phía Nam phần nhiều là cả khúc gỗ lớn được khoét rỗng. Nhưng ở một số nơi cá biệt, do khai thác sớm và nhanh nên nguy cơ cạn kiệt cũng đe dọa.
Quan tài hình thuyền biến mất cùng cánh rừng đất Thục
Một lối chôn thịnh hành mấy trăm năm rồi tắt hẳn, khi cây gỗ lâu năm không còn đủ để khoét thành thuyền.
Lối chôn quan tài hình thuyền từng thịnh hành ở Ba Thục, đến đầu thời Hán thì đột ngột biến mất. Nguyên nhân có thể gắn mật thiết với sự đổi thay của nguồn rừng nơi ấy. Sau khi người Tần vào làm chủ Ba Thục, một lượng lớn dân di cư tràn tới, kinh tế phát triển nhanh. Mật độ dân cư các huyện vùng đồng bằng Thành Đô thời Tần rất lớn, và thời Tây Hán, dân số Thành Đô chỉ đứng sau Trường An, thứ hai cả nước. Dân số đồng bằng tây Tứ Xuyên tăng nhanh, đồng thời làm cạn nguồn rừng ở đồng bằng này và các vùng lân cận. Rừng rậm xưa biến thành đất trồng lương thực.
Kỹ thuật luyện sắt, đào giếng và làm muối xuất hiện và phổ cập nhanh, khiến một lượng lớn gỗ bị dùng làm chất đốt. Nghề đóng thuyền cũng phát triển nhanh: thời Tần, Tư Mã Thác một lần thống lĩnh mười vạn quân Ba Thục đã dùng đến hàng vạn chiếc thuyền vượt sông đánh nước Sở, và một lượng lớn gỗ lâu năm bị đốn để đóng thuyền. Tần Thủy Hoàng xây cung A Phòng còn phải dùng gỗ của nước Kinh và nước Thục (theo Sử ký, Tần bản kỷ). Đỗ Mục viết trong A Phòng cung phú:
"Gỗ ở núi Thục đều về cung A Phòng."
Những nhân tố này đều góp phần làm nguồn rừng đất Thục nhanh chóng cạn, trong đó cây gỗ nam cạn kiệt rõ nhất. Đầu Tây Hán, cùng với sự bùng nổ dân số ở đồng bằng tây Tứ Xuyên, những quan tài hình thuyền làm bằng gỗ nam rất ít xuất hiện. Các vùng khác ở phía Nam khai thác chậm hơn, dân ít hơn, rừng được giữ tương đối tốt, nên việc dùng gỗ nam làm quan tài kéo dài lâu hơn, có nơi đến tận thời cận hiện đại.
Một nhánh người Tạng ở tây Tứ Xuyên trước kia chủ yếu hỏa táng, mà hỏa táng cần một lượng lớn gỗ và dầu. Khi dân số một số vùng tăng lên và rừng ngày một ít đi, họ buộc phải chuyển sang thiên táng, thủy táng. Cách phân bố các phương pháp chôn ở vùng này gắn chặt với nguồn gỗ: nơi gỗ phong phú thì chủ yếu hỏa táng, ngược lại thì chủ yếu thiên táng, thủy táng, thổ táng không quan tài.
Ngày nay khắp các miền Trung Quốc đều thiếu gỗ, nguồn nguyên liệu làm táng cụ truyền thống đã rơi vào khủng hoảng. Thêm vào đó là lý do vệ sinh và quỹ đất, nên cũng như nhiều dân tộc và một bộ phận người Hán từng làm trong lịch sử, xu thế hiện nay là bỏ tục chôn truyền thống mà theo một tục mới hợp với tài nguyên thiên nhiên, điều kiện địa lý, sự phát triển của khoa học và yêu cầu vệ sinh.
Đồ chôn theo kể chuyện tài nguyên của mỗi vùng
Mở nắp một ngôi mộ cổ ra, người ta có thể đoán được chủ nhân từng sống bên cánh đồng, mặt hồ hay sườn đồi cỏ.
Mối quan hệ giữa mộ táng và tài nguyên còn hiện ra trong chủng loại và số lượng đồ chôn theo. Mộ cổ phương Nam thường chôn theo đồ sơn và hàng dệt; mộ vùng cao nguyên, thảo nguyên thường chôn theo dụng cụ chăn nuôi; mộ hai bờ sông hồ thường thấy đồ đánh cá. Ở Vân Nam, trong các mộ cổ từ Xuân Thu đến Hán, công cụ bằng đồng đen rất phổ biến, đúng với nguồn đồng đen và thiếc dồi dào của nơi đây.
Hàng cây trên mộ và nỗi lo thiếu gỗ
Người ta kể một chuyện huyền bí về hàng cây ấy, nhưng gốc rễ của nó có thể rất đời thường.
Người xưa còn lợi dụng việc mai táng để thay đổi điều kiện tài nguyên. Nguồn nguyên liệu táng cụ vùng Trung Nguyên từ sớm đã gặp khủng hoảng; tương ứng với điều đó, văn hóa Trung Nguyên cổ nhấn mạnh việc trồng cây trên mộ. Có lúc số cây trồng trên mộ còn thành tiêu chí quan trọng để đánh giá đẳng cấp của chủ mộ: người đẳng cấp cao thì trên mộ cây nhiều như rừng.
Quanh tục này sinh ra nhiều truyền thuyết, thần thoại, và dân gian khoác lên nó một vẻ ngoài thần bí. Trên thực tế, công dụng thực tế của nó là trồng cây gây rừng, với mong muốn giải quyết nguồn gỗ làm quan tài.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
