Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bình Giải

Bài tổng quan

Chôn cất là chiếc gương soi cái tôi của mỗi dân tộc

Đạo Học - Bình Giải15/10/202612 phút đọc0 lượt đọc
Chôn cất là chiếc gương soi cái tôi của mỗi dân tộc

Một vị vương ở Thành Đô nằm trong ngôi mộ dựng đủ cổng, đình, điện như phủ vương lúc còn sống, và người Cảnh Pha dựng cả túp lều cỏ trên mộ. Có người tù binh chẳng sợ gông cùm, chỉ sợ chết rồi không được hỏa thiêu…


Ngôi mộ dựng theo hình ngôi nhà của người sống

Chôn cất gắn với văn hóa dân tộc theo những sợi dây rất rối. Một tộc người chôn người chết thế nào là cách họ nói ra mình là ai; đó cũng là nơi các nền văn hóa gặp nhau, va chạm và học lẫn nhau, đồng thời là tấm gương soi quan hệ giữa các tộc người. Nhìn qua ngôi mộ, ta có thể nhận ra nhiều chuyện về dân tộc và nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc.

Tộc người nào cũng cho rằng tục chôn cất của mình là đặc sắc nhất. Và có một điều lạ: trong cả một thời gian lịch sử rất dài, một dân tộc thường giữ một lề lối chôn cất thống nhất, cố chấp đến mức khi chết vẫn một mực theo đúng lệ. Có những nhóm người nghèo đến chết vẫn không bỏ lề thói, nhưng ngôi mộ của họ lại bắt chước cả nội cung của hoàng đế. Mộ Minh Thục Vương, tìm thấy ở Thành Đô năm 1970, có cổng lớn, đình trước, hai cửa, đình chính, điện chính, đình giữa, viên điện, điện sau, mái hiên hai bên, phòng phụ; những khối đá lớn và hai tấm ngọc lưu ly đúc sẵn ghép thành cổng điện và hành lang, về cơ bản giống hình thức phủ vương lúc bấy giờ.

Phương Đông thời cổ có thói quen dựng nhà ngay trên mặt mộ, gọi là đình đường, tẩm điện, tất cả đều phỏng theo nơi ở của người lúc còn sống. Tư liệu dân tộc học cũng ghi những tục tương tự. Người Cảnh Pha ở Vân Nam dựng trên mộ một túp lều cỏ hình chiếc chùy, cao chừng ba mét, tái hiện cảnh nhà ở xưa của họ. Một bộ phận người Tạng vẫn theo thổ táng thì xây nhà trên mộ hoặc cạnh mộ, trát bùn lên vách và treo hình hổ trắng lên tường.

Táng cụ cũng thường dựng theo kiểu nhà ở. Ở Tùy Huyện, Hồ Bắc, thời Tam Quốc phổ biến loại quan tài gỗ chia bốn gian Trung, Bắc, Tây, Đông, trong gian có treo rèm, tượng trưng cung thất lúc sinh thời của chủ nhân. Quan tài bằng đồng tìm thấy ở Đại Ba Na, Trường Vận, Vân Nam năm 1964 giống hẳn kiểu nhà sàn của các tộc người phương Nam. Năm 1979, ở Tiên Nhạc, Ngư Đường, Quý Khê, Giang Tây, người ta phát hiện một loạt quan tài làm từ nguyên một thân gỗ lớn, có nắp đậy, hình dáng đa dạng; có loại hình chữ Nhân, nóc dài như nóc nhà, đáy gắn ba cặp chân như một cây cầu đặt ở hai đầu và giữa, chân cao tám phân.

Chôn cất và nhà ở khớp nhau như thế là biểu hiện rất sinh động của quan niệm sau khi chết cũng giống như lúc còn sống. Cũng từ đó mà có câu hỏi: hơn hai nghìn năm trước, ở Trung Quốc đã có tục hỏa táng, vậy vì sao ngày nay dù nhiều nước khuyến khích, một số vùng nông thôn và vùng núi vẫn gặp nhiều trở ngại? Câu trả lời liên quan chặt chẽ đến văn hóa dân tộc, đến tâm lý của một tộc người và đến ý thức về cái tôi của họ. Dân tộc hay bộ tộc nào trên thế giới cũng có văn hóa và tâm lý riêng; chôn cất là cách trọng yếu để phản ánh, bày tỏ, củng cố và đề cao chúng.

Hán thống nhất, vùng biên phức tạp: bản đồ các lối chôn

Mở bản đồ lối chôn cất ra, ta thấy một quy luật gọn: tộc người càng đông đúc, đan xen, thì lối chôn càng nhiều màu.

Mối liên hệ nội tại ấy cho thấy giữa các dân tộc có chỗ khác nhau về tục lệ, nhưng cũng có chỗ nhiều dân tộc khác nhau lại có tục giống nhau. Xu thế chung là vùng nào dân tộc càng phức tạp thì tục chôn cất càng phong phú. Ngay trong một khu vực, lịch sử phân bố dân tộc càng rối thì tục chôn càng rối. Khi các dân tộc hòa vào nhau, tục chôn cũng hướng tới thống nhất.

Nhìn từ góc độ dân tộc học, bản đồ mộ táng xưa ở Trung Quốc có đặc điểm như sau: vùng Trung Nguyên khá thống nhất, các vùng biên giới bốn phía thì phức tạp hơn; người Hán chiếm đại đa số dân số cả nước nên tục lệ khá nhất quán, còn các dân tộc thiểu số thì đa dạng. Kể từ thời người chết còn được đặt trong hang trên đỉnh núi, tục chôn cất ở Trung Quốc đã có mười tám nghìn năm lịch sử, đi từ đơn giản đến phức tạp rồi đến tương đối thống nhất. Tương truyền ở Tây Tạng, trước khi Phật giáo du nhập có tới ba trăm sáu mươi kiểu chôn; sau này dần quy về một lối, và hiện nay cách chôn phổ biến cũng chẳng còn mấy. Nhiều tục lệ đã lần lượt biến mất trong quá trình các nền văn hóa hòa vào nhau.

Bảng khảo cứu các dân tộc cho thấy sự đa dạng ấy. Người Tạng trên cao nguyên Thanh Tạng dùng thổ táng, thiên táng, thủy táng và hỏa táng. Người Mục Lao ở Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam từng có nhai táng, quan tài treo và quan tài đá, rồi sau này phổ biến thổ táng. Người Dao trước đây có hỏa táng, thổ táng, và trẻ nhỏ chết yếu thì chôn dưới gầm giường. Người Môn Ba có thổ táng, hỏa táng, thủy táng, trẻ chết yếu thì bọc vải hoặc cho vào hũ rồi chôn ngay trong nhà. Người Ngạc Luân Xuân ở vùng Đông Bắc để thi thể phong táng rồi sau mới nhặt xương. Không ít tộc còn có cách xử lý riêng cho người chết bất thường. Bảng này vừa chỉ ra sự khác biệt giữa các dân tộc, vừa cho thấy văn hóa các dân tộc đã ảnh hưởng qua lại ra sao.

Với hệ văn hóa Trung Nguyên, diễn biến của tục chôn có những đặc điểm sau. Trước đời Hán, phương pháp chôn khá thống nhất, về cơ bản đều là thổ táng, còn tư thế thì đa dạng: ngoài nằm ngửa duỗi thẳng chân tay còn có co chân tay, nằm sấp, nằm nghiêng. Từ đời Hán, do chịu ảnh hưởng của các dân tộc thiểu số, phương pháp chôn trở nên phức tạp hơn, xuất hiện nhai táng, sau này xuất hiện cả hỏa táng. Trong khi đó phương thức đặt thi hài lại thống nhất dần: hầu như đều nằm ngửa, chân tay duỗi thẳng.

Chiếc quan tài và dấu ấn của từng tộc người

Ngay cả cái hòm gỗ đựng người chết cũng có quê quán, và nhìn vào nó có thể đoán ra chủ nhân thuộc nền văn hóa nào.

Loại táng cụ và nơi phân bố của nó cũng theo một quy luật. Với hệ Trung Nguyên, từ cuối thời đồ đá mới người ta dần dùng quan tài gỗ làm chính, quan tài bằng sành và chum vại làm phụ. Hơn một nghìn năm sau, quan tài sành đã ít gặp từ thời Chiến Quốc, rồi lại thịnh hành từ đời Đường, Tống theo đà phổ biến của hỏa táng; còn các kiểu quan tài khác không đổi nhiều.

Táng cụ của các dân tộc thiểu số thì phức tạp hơn, đại thể chia ba loại: gỗ, đá và kim loại. Táng cụ gỗ có hai kiểu chính. Kiểu nguyên thủy nhất làm bằng vỏ cây; kiểu cao cấp hơn khoét ruột một thân cây như chiếc thuyền độc mộc, hoặc là quan tài gỗ đơn, hình dáng khác hẳn quan tài của người Hán. Táng cụ đá gồm quan tài đá, nhà đá, mộ đá, lều đá, được ghép từ những tảng đá lớn chồng lên nhau. Táng cụ kim loại rất ít, nhưng cũng từng thấy quan tài đồng, trống đồng, rìu đồng, rìu sắt.

Hai loại đầu phân bố ở những nơi các dân tộc thiểu số định cư; loại cuối chỉ tìm thấy trong một vài ngôi mộ riêng lẻ ở vùng Tây Nam. Người nghèo, dù là Hán hay thiểu số, đều quen kiểu chôn không táng cụ. Quy luật phân bố của việc này đồng nhất ở người Hán và phức tạp hơn ở các dân tộc thiểu số.

Người Hán coi tục mình là văn minh nhất

Khi một tộc người đã vững thì cái tôi của họ cứng lại thành luật lệ, và đôi khi cứng đến mức ép cả người khác phải đổi theo.

Dùng nghi thức chôn cất để tỏ ý thức về cái tôi của dân tộc, trước hết thể hiện rõ nhất ở người Hán. Phương pháp chôn, cách đặt thi hài và táng cụ đều biểu hiện sự thống nhất hành chính theo vùng và sự thống nhất văn hóa của người Hán, tức ý thức về sự thống nhất dân tộc. Trong lịch sử, người Hán thường cho rằng tục tang táng của mình là văn minh, tiên tiến nhất, nên hay nhìn tục của người khác bằng con mắt chê cười, khinh miệt và dùng chính sách cưỡng bức các dân tộc khác đổi theo mình. Tuân Tử có ghi một câu đáng nhớ:

Tù binh người Đê, người Khương không sợ bị đeo gông cùm, chỉ sợ chết rồi không được hỏa thiêu.

Câu ấy cho thấy nỗi lo của những người tù bị bắt về. Về sau, các triều Tống, Minh, Thanh không chỉ cấm người Hán hỏa táng, thủy táng mà còn ép một số dân tộc vùng Tây Nam vốn quen hỏa táng phải đổi sang thổ táng. Đó là biểu hiện sâu sắc của ý thức cái tôi dân tộc.

Còn về mối quan hệ giữa chôn cất và lễ chế, ảnh hưởng của văn hóa dân tộc cũng hiện rõ. Người Hán xưa rất coi trọng lễ nghi chôn cất: báo tang, đưa tang, khóc tang, phát tang đều long trọng; kích cỡ cao thấp của mộ, màu sắc và số lớp quan tài, chủng loại và số lượng vật tùy táng, tảo mộ, giỗ chạp, cúng bái đều có quy định nghiêm ngặt. Làm sai thì pháp luật can thiệp, thậm chí gây tai họa. Những quy chế ấy tập trung thể hiện sự thống nhất về nếp nghĩ, về quan niệm giai cấp và chế độ đẳng cấp của văn hóa Hán.

Tộc ít lễ chế, tộc giữ bản sắc, và vùng Tây Nam muôn kiểu chôn

Cùng một việc chôn người, có nơi buộc từng cái huyệt vào thứ bậc, có nơi để chủ nhà tự quyết, và có nơi dùng nó làm tấm lá chắn giữ mình giữa đám đông.

Các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc ít có lễ chế nghiêm như người Hán, nhưng cũng chú trọng dùng chôn cất để củng cố ý thức dân tộc. Ở một số tộc, khi người thân mất, đào huyệt lớn cỡ nào, chôn theo bao nhiêu đồ đều tùy khả năng kinh tế và ý muốn của chủ nhà, không ai can thiệp. Nhiều ngôi mộ thời thị tộc tuy đã bước sang xã hội có giai cấp nhưng vẫn không thấy lễ chế và sự cách biệt đẳng cấp rõ rệt. Trong các mộ đá lớn ở Tây Nam, thủ lĩnh thị tộc, người nghèo, thậm chí nô lệ cùng được chôn chung. Nguyên do có thể là văn hóa của những tộc này vốn thiếu hẳn lễ chế và chế độ đẳng cấp ngặt nghèo như của người Hán.

Nhưng nếu một tộc bỏ lối chôn của mình mà theo tộc khác thì có thể gặp lắm phiền toái. Người Hồi ở Trung Quốc phần nhiều sống xen với nhiều dân tộc khác như người Hán, nên rất chú ý giữ nét riêng của mình giữa cảnh sống tạp cư. Chôn cất thành một biện pháp quan trọng giúp họ làm điều đó. Họ cũng thổ táng như nhiều tộc khác, nhưng đưa vào đó một loạt nghi thức độc đáo, đậm bản sắc văn hóa và tôn giáo.

Vùng Tây Nam Trung Quốc gồm Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Tây Tạng, Quế Lâm có hơn ba mươi dân tộc thiểu số như Tạng, Di, Ha Nê, Lật Túc, Nạp Tây, Phổ Mễ, Cảnh Pha, Bạch, Khương, Môn Ba, Bố Y, Thủy, Choang, Mục Lao, Thổ Gia, Dao, Đồng, Mèo, cùng nhiều dân tộc khác còn đang được tìm hiểu. Dân số khoảng ba mươi lăm triệu người, chiếm hơn sáu phần mười dân số các dân tộc thiểu số cả nước. Cục diện đó không phải ngẫu nhiên, và tục chôn ở vùng này cũng phức tạp nhất. Chỉ riêng loại mộ phổ biến đã có thổ táng, chôn trong quan tài hình thuyền, nhai mộ, chôn trong hang đá, mộ đá lớn, mộ quan tài đá, mộ gạch, mộ trống đồng, thiên táng, thủy táng, thụ táng, hỏa táng và chôn trong quan tài sành sứ. Tính chất dân tộc phức tạp thì tục chôn cũng phức tạp, và sợi dây nối chúng lại là ý thức về cái tôi trung tâm của mỗi tộc.

Tục chôn cất là một công cụ mạnh để tăng cường bản sắc văn hóa và tâm lý chung của tộc người. Từ xưa đến nay, việc chôn cất thực chất là một hoạt động xã giao, một nghi lễ của dân tộc, nơi người thân, người trong dòng họ và dân cùng làng xã của người chết đều đến dự. Nhiều dân tộc có trọn một bộ nghi thức từ báo tang, chạy tang, khóc tang, phát tang, đưa tang đến hạ huyệt, đậm màu sắc văn hóa riêng. Mỗi nghi thức đều khiến ý thức cái tôi của cả tộc thêm đậm, và tâm lý chung của họ thêm chắc.

Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bình Giải