Bài tổng quan
Tiền chôn theo người chết, phiếu mua đất và cây lắc tiền
Người đời Thương nhét vỏ ốc vào miệng người chết, người Mục Lao cho người chết ngậm bạc và nắm tiền giấy, còn người Dao ném tiền giấy xuống sông để trả tiền mua nước. Dưới âm cũng phải có tiền tiêu, và đã mua đất thì phải có giấy tờ đàng hoàng. Rồi có người nghĩ ra cả một cái cây biết tự sinh ra tiền…
Vỏ ốc, đồng bán lượng và đồng xu nằm cạnh người chết
Tiền và kinh tế là thước đo cho thấy sức sản xuất của một xã hội đã đi tới đâu. Mỗi lần kinh tế tiền tệ khởi sắc là diện mạo xã hội đổi thay, và chuyện chôn cất cũng không đứng ngoài. Dấu vết dễ thấy nhất là trong mộ của mọi thời đại đều có tiền chôn theo. Người ta luôn tin dưới âm cũng như trên trần: dương gian dùng tiền thì âm gian tất nhiên dùng tiền, và chôn tiền cùng người chết là để họ có tiền mà tiêu.
Nhiều dân tộc ở Trung Quốc có tục này từ rất sớm. Trong mộ Phụ Hảo ở Ân Khư, An Dương, Hà Nam, người ta khai quật được hơn 7.000 vỏ ốc biển. Ở mộ thời Thương, vỏ ốc thường được nhét trong miệng người chết hoặc đặt trong lòng bàn tay họ, như trao tận tay người chết món tiền để tiêu dưới âm. Từ cuối Thương đến Xuân Thu, Chiến Quốc, nhiều nơi phổ biến dùng đồng và bạc để mạ vỏ ốc; ngôi mộ thời Thương ở thôn Giả Du, rừng Bảo Đức, Sơn Tây, khai quật năm 1971, có tới 109 vỏ ốc mạ đồng. Thời Thương, Chu, một số món bằng ngọc là vật quý, được chôn cùng nhiều đồng tiền mệnh giá lớn; mộ quý tộc thì phổ biến chôn theo đồ ngọc.
Trên những vật bằng đồng đen khai quật trong mộ Tây Chu, chữ khắc nói rõ làm món đồ ấy đã tốn bao nhiêu vỏ ốc. Người ta lấy con số đó để phô sự giàu có của chủ mộ và lòng hiếu thuận của con cháu. Tiền trở thành tiêu chí quan trọng để xác định thân phận, địa vị, thậm chí là thước đo hiếu thuận, thước đo phẩm chất đạo đức. Sang Xuân Thu, Chiến Quốc, mỗi nước đúc tiền kim loại riêng của nước mình, và điều này cũng hiện ra trong mộ. Trên các đồng tiền thời đó thường có tên nước, địa danh, tên thành, là tư liệu quý để tìm hiểu chế độ địa lý thành ấp, quá trình đúc tiền thời cổ; nó cũng là mấu chốt để nghiên cứu việc buôn bán và giao thông thời cổ.
Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước thì cũng thống nhất tiền tệ. Đồng bán lượng thời Tần trở thành vật thường gặp trong các mộ ở Trung Quốc. Từ Hán Vũ Đế đến thời Tùy, suốt hơn 730 năm, tiền đồng là thứ được chôn theo chủ yếu. Triều đại của Vương Mãng chỉ kéo dài hơn mười năm nhưng có tới bốn lần cải cách tiền tệ, lần lượt phát hành hơn ba chục loại tiền, nhiều loại phát hành chưa bao lâu đã bị tuyên bố hủy bỏ. Khi vương triều Đông Hán lập nên, tiền của Vương Mãng bị bỏ hết ngay. Vậy mà điều đáng chú ý là trong mộ Đông Hán, kể cả giai đoạn muộn, người ta vẫn thường thấy một lượng lớn tiền xu thời Vương Mãng với đủ chủng loại; chủ yếu là để thỏa lòng muốn phô sức mạnh về tiền tài.
Ở Ba Thục, chính quyền Thành Hán thời mười sáu nước chư hầu, vào đời Hán Hưng (năm 338 đến 343), đã đúc tiền lưu hành khắp nước. Từ thời Đường, tiền đúc có thêm niên hiệu như Thông Bảo, và những đồng tiền ấy cũng được tìm thấy khá nhiều trong mộ. Từ Hán đến Minh, Thanh, các vương triều phong kiến gần như đều từng trải qua "khủng hoảng tiền tệ": tiền lưu thông ngày càng ít đi, trong khi vẫn có một lượng lớn đồng xu nằm im dưới đất. Nguyên nhân có nhiều, nhưng việc đem chôn một lượng lớn đồng xu vào mộ cũng là một nguyên nhân quan trọng.
Với nhiều ngôi mộ khó đoán thời đại qua các thông tin khác, chỉ cần dựa vào tiền chôn theo là có thể xác định niên đại khá chuẩn. Trên điêu khắc, hoa văn trang trí quan tài thời Đông Hán thường thấy hoa văn hình đồng xu. Niềm sùng bái tiền bạc hòa vào ý tưởng nghệ thuật ấy kéo dài mãi đến thời Thanh, khoảng một nghìn tám trăm đến một nghìn chín trăm năm.
Phiếu mua đất, cây lắc ra tiền và tiền giấy cho cõi âm
Có tiền rồi thì người chết cần thêm một thứ: giấy tờ chứng minh mảnh đất mình nằm là của mình.
Văn khế mua bán đất tìm thấy trong các lăng mộ Hán là biểu hiện quan trọng cho việc kinh tế tiền tệ làm đổi tập tục chôn cất. Thời Hán Tuyên Đế, loại văn khế này đã thấy ở Ba huyện, Tứ Xuyên, có dòng chữ: dân Dương Lượng người Ba Châu mãi mãi được quyền sử dụng mảnh đất này. Đến Đông Hán, phong tục ấy biến thành việc chôn theo phiếu mua đất. Đó là văn bản mang tính thông báo cho quan lại và các ngôi mộ xung quanh dưới âm phủ, tượng trưng cho quyền sở hữu của người chết đối với phần mộ của mình. Một đoạn văn điển hình, ghi vào năm 161, kể rằng một người tên Tô Thế qua đời; văn bản báo cho các quan dưới đất biết rằng mộ đã có chủ, chủ mộ đã tự mua ba mươi mẫu ruộng nhà, trị giá chín vạn chín nghìn, tiền đã trả đủ, có tiền xu chôn cùng người chết, từ nay không ai được quấy nhiễu người sống.
Thật ra diện tích đất mua và giá cả cụ thể trong những đoạn văn ấy đều là con số hư cấu, không hề có thật. Nói là tiền đã trả hết thì cũng chỉ mang tính tượng trưng, bằng cách chôn kèm một ít đồng xu. Trong văn bản loại này ở các đời sau còn thường thêm mấy chữ: Đông là Thanh long, Tây chỉ Bạch hổ, Nam là Chu tước, Bắc chỉ Huyền vũ. Từ Đông Hán, dù là đất nhà mình, đất dựng mộ chung hay đất vô chủ trên núi, đều phải chôn phiếu mua đất. Đến thời Tống, Nguyên, một cuốn sách âm dương tên là Thanh điều quy lưu hành trong dân gian đã quy định rất rõ: nếu chôn mà không mua đất, không lập phiếu thì chính là chôn trộm.
Sự thịnh hành của phiếu mua đất cho thấy người ta tin rằng cõi âm cũng có quyền tư hữu đất đai và mua bán đất đai; hơn nữa, ở dương gian có bao nhiêu đất đi nữa cũng không mang xuống âm được. Muốn có đất dưới âm thì phải mua lại. Ở đây, người sở hữu ruộng đất mênh mông và người dân nghèo, kẻ ăn mày, đều bình đẳng. Ở Trung Quốc xưa, tài sản nào chuyển dịch được thì có thể mang về cõi âm, còn tài sản không chuyển dịch được thì không thể mang đi. Quan niệm ấy phản ánh ảnh hưởng của kinh tế tiền tệ đối với chuyện chôn cất, và cả chủ nghĩa bình quân đã ăn sâu vào tận gốc rễ trong lòng người.
Trong các mộ vùng Tây Nam Trung Quốc thời Đông Hán còn xuất hiện một loại vật chôn theo đậm màu thần thoại: cây lắc ra tiền. Đó là một cái cây làm bằng sứ, mạ đồng. Trên cành lá bằng đồng mạ có hình các nhân vật thần thoại truyền thuyết như Tây Vương Mẫu, cùng nhiều hình ảnh may mắn. Trên cành treo những đồng xu bằng đồng. Dưới gốc cây có ống trúc mạ đồng dùng để chọc tiền, và cả hình một người đang đi nhặt tiền. Món đồ này mang một hàm ý: tiền chôn theo dù nhiều đến đâu cũng có ngày dùng hết, còn chôn cây lắc tiền thì cây sẽ luôn sinh ra tiền, giúp chủ mộ dưới âm gian lúc nào cũng có tiền để dùng.
Từ khoảng đầu thời Đường, Tống, tục đốt tiền âm phủ cho người chết trở nên phổ biến. Không chỉ đốt lúc chết, lúc chôn, mà đến ngày lễ tết, ngày giỗ, lúc tảo mộ, thăm mộ người ta cũng đốt. Tiền âm phủ xưa của Trung Quốc chủ yếu có hai loại: tiền giấy mô phỏng hình dáng đồng xu, và vàng giấy mô phỏng hình thỏi bạc. Cách đưa tiền xuống cõi âm đều là đốt cháy. Về sau lại nảy sinh tục "tiền mua đường đi": trên đường đưa tang người ta rắc tiền giấy để trả tiền mua đường, mượn đường cho các cô hồn dã quỷ dọc tuyến ấy, để linh hồn người chết đi suôn sẻ đến phần mộ.
Không chỉ người Hán, mộ của các dân tộc thiểu số cũng thường chôn đồng xu. Trong các mộ đá lớn ở Tây Nam, mộ quan tài đá, mộ quan tài thuyền độc mộc, nhiều lần thấy đồng bán lượng và đồng ngũ thù thời Tây Hán. Các dân tộc thiểu số ở nhiều nước phương Đông thời cận hiện đại vẫn giữ tục ấy. Người Mèo thường dùng vài đồng bạc trắng chôn cùng người chết. Người Bố Y khi niệm kinh siêu độ thường buộc một sợi dây trói con lợn giống vào tay người chết, nghĩa là giao cho người chết một ít vốn dưới âm. Người Mục Lao cho người chết nằm trong quan tài ngậm đồ bằng bạc, tay nắm chặt tiền giấy. Người Băng Long và một bộ phận người Nạp Tây đổ vụn bạc vào miệng người chết, để họ có tiền đi đò qua sông. Người Dao phổ biến tục múc nước sông rửa thi thể người già; lúc đi múc nước phải ném mấy đồng tiền giấy xuống sông và nói đó là tiền mua nước, gửi đến thần sông. Rất nhiều dân tộc thiểu số cũng như người Hán, hằng năm theo định kỳ đều đốt tiền giấy và thỏi bạc giấy cho người chết.
Đồng tiền đổi vai thầy cúng và đổi cả chữ hiếu
Khi tiền bạc chạm vào lễ tang, người đứng giữa hai cõi cũng thay đổi.
Trước khi kinh tế tiền tệ phát triển, các thầy pháp nắm quyền thống trị về chính trị nên trong nghi thức chôn cất, họ thường không nhận hoặc nhận rất ít thù lao. Sau khi khủng hoảng về kinh tế và tiền tệ xuất hiện, thầy pháp bắt đầu trượt khỏi vai trò chính trị và thần quyền, và biến việc chôn cất thành cơ hội quan trọng để thu lợi lớn. Các tăng lữ, đạo sĩ cũng đều lợi dụng việc an táng để vơ vét tiền tài. Nói cách khác, đồng tiền đã đổi vai người đứng giữa hai cõi: từ kẻ cầm quyền không đòi thù lao thành người kiếm lời từ đám tang.
Tiền bạc và kinh tế còn để dấu lên nhiều chuyện khác trong tập tục chôn cất: huyệt mộ to hay nhỏ, táng cụ đơn giản hay cầu kỳ, vật tùy táng ít hay nhiều, tiệc tùng trong lễ tang.
Ảnh hưởng của kinh tế và tiền tệ lên mai táng cho thấy mối liên hệ sâu bên trong giữa văn hóa và kinh tế. Ở một khía cạnh nào đó, nó cho thấy con người chỉ theo mô hình, áp lực và thủ đoạn chính trị của xã hội mà biến mối quan hệ vốn là nghĩa vụ: cha mẹ nuôi con, con chôn cất và thờ cúng cha mẹ, thành mối quan hệ kinh tế mang tính trao đổi qua lại; từ đó dấy lên phong trào làm lễ chôn thật lớn. Chính nó cũng khiến việc chôn cất, vốn có thể làm tăng sự hợp tác giữa người với người, biến thành mối quan hệ gắn với lợi ích và thiệt hại về kinh tế.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
