Bài tổng quan
Thai tức dựng dục và ba nơi khí dừng của long mạch
Núi phủ phục thì huyệt nằm trên đỉnh, núi ngẩng cao thì huyệt nằm dưới chân, núi không phủ không ngẩng thì huyệt nằm giữa sườn. Người xưa gọi đó là huyệt trời, huyệt đất và huyệt người, và dặn thầy địa lý phải có đôi chân khỏe để lần từ tổ sơn đến nơi mạch nhập huyệt. Vì sao ngại mỏi chân mà bỏ dở giữa chừng thì việc xem đất không thành?
Mục lục · 11 phần
- 01Hai khí chung một lý, chân khí thì xem lúc kết
- 02Thai, tức, dựng, dục
- 03Chôn người phải nhờ sinh khí, nên tìm long trước hết
- 04Ba nơi khí dừng: huyệt trời, huyệt đất, huyệt người
- 05Mắt người và những cặp âm dương khó tường
- 06Tám phương, bốn thế, đi và đến, động và tĩnh
- 07Vào núi tìm cửa nước, lên cục xem minh đường
- 08Đôi chân khỏe và con mắt tinh của người tìm đất
- 09Cùng một thân cây, khác nhau nơi cành
- 10Ba nhánh, chín khúc, tình ý và tụ tán
- 11Chân long ẩn tích, mạch đến và mạch dừng
Hai khí chung một lý, chân khí thì xem lúc kết
Hai khí âm dương vận hành trong trời đất là một đạo lý không được trái.
Nhẹ mà trong gọi là trời, nặng mà đục gọi là đất. Tĩnh là núi, động là nước. Tất cả đều là kết quả vận hành của hai khí âm dương. Nhưng khi âm dương chưa tách thành hai khí thì vốn chung một lý: trong âm có dương, trong dương có âm.
Chân khí phải xem lúc nó kết, đạo lý phải hiểu đến chỗ tĩnh lặng huyền diệu.
Núi giao kết với núi, nước giao hội với nước, gió khí được giấu kín, đó là điều gọi là xúc kết. Trong thân người có chân khí, và người có trăm xương chín khiếu. Trong trời đất có chân hình, và trời đất có muôn nước ngàn núi. Tất cả đều từ một gốc mà ra, khi ẩn khi lộ, có tông có tổ, cùng một thân cùng một gốc rồi chia ra nhiều dạng. Có cái hiển lộ dễ thấy, có cái ẩn tàng khó thấy. Chỉ cần xét nguyên nhân ẩn hiện của long mạch ở phía sau thì dù căn bản giống hay khác, dù ẩn hay lộ, cũng không qua được mắt người.
Thai, tức, dựng, dục
Thai, tức, dựng, dục là sự biến hóa vô cùng của thần linh.
Phàm núi, nơi bắt đầu phân mạch gọi là thai. Nơi phục xuống gọi là tức, tức là hơi thở. Nơi nhập thủ thành hình gọi là dựng. Nơi vào đến miệng huyệt gọi là dục. Cái máy trời vận hành liên tục: Mộc dương sinh ở Hợi, vượng ở Mão, hưu tù ở Ngọ, Mùi. Mộc âm sinh ở Ngọ, vượng ở Dần, hưu tù ở Tí, Hợi. Những dáng vận hành ấy của hình và khí nối nhau không dứt, không lúc nào ngừng.
Đất linh thì người kiệt, đều do chân khí biến hóa mà thành muôn hình.
Chân khí biến hóa mà sinh ra các nhân vật. Phú quý, nghèo hèn, thọ yểu, hiền ngu, thiện ác của con người đều tùy ở khí sinh ra hình. Ai bảo điều vi diệu thì khó làm cho người ta hiểu rõ? Ai bảo điều mơ hồ thì không khiến người ta tin? Đạo lý âm dương tuy vi diệu, nhưng dựa vào hình có thật mà xét khí hư vô, dựa vào tình huống có thật mà xét đạo lý thì cũng có thể đoán và hiểu được. Dù vậy, ngay cả những điều rõ ràng vẫn có người chưa chịu tin.
Chôn người phải nhờ sinh khí, nên tìm long trước hết
Mai táng người chết phải dựa vào sinh khí. Hãy xét lai lịch mạch lạc của chân long, xét chỗ cùng tận và tụ hợp của hình thế chân long: có dòng nước làm ranh giới, không bị gió thổi tan, ấy gọi là chỗ sinh khí tụ hội. Tìm đất quý chủ yếu căn cứ vào long mạch chạy đến, xem phong thủy phải để ý đến long trước.
Long luôn biến hóa, mạch lúc ẩn lúc hiện. Có long từ giữa đến, có long từ hai bên đến, muôn hình muôn vẻ khó nói cho hết. Vì vậy phải theo cách long vận hành mà phân biệt mạch lạc, và nơi long tụ kết thì cắm huyệt.
Ba nơi khí dừng: huyệt trời, huyệt đất, huyệt người
Huyệt cuối cùng dừng ở ba nơi. Thế núi phủ phục thì đỉnh núi nhất định cao mà tròn, phần trên tụ tập còn phần dưới phân tán, huyệt phần nhiều nằm trên đỉnh nên gọi là thiên huyệt. Thế núi ngẩng cao thì đỉnh núi nhất định thấp mà rộng, phần dưới tụ tập còn phần trên phân tán, huyệt phần nhiều nằm dưới chân núi nên gọi là địa huyệt. Thế núi không phủ phục cũng không ngẩng cao thì đỉnh núi không tròn cũng không nhọn, phần giữa tụ kết còn hai đầu trên dưới đều tản ra, nên gọi là nhân huyệt. Đó là ba nơi khí dừng, và khi tìm phải tùy chỗ khí mạch kết tụ mà cắm huyệt.
Thế núi cũng chia theo bát quái. Hai mươi bốn loại hình núi đều biến hóa âm dương, và không ra ngoài sự chi phối của bát quái.
Mắt người và những cặp âm dương khó tường
Mắt người là công cụ tốt nhất để nhìn ra sự huyền diệu của địa lý phong thủy.
Xem địa lý phong thủy thì không gì sánh được mắt người. Nếu không thấy nơi sinh khí dừng tụ, không thấy rõ hình thế thì làm sao đạt đến chỗ huyền diệu, tinh vi?
Bốn chữ âm dương thuận nghịch gồm nhiều khía cạnh. Nói về hình thể của núi thì gò cao là dương, đất bằng là âm. Chỗ kết huyệt nhô lên là dương, lõm xuống là âm. Cao mà chúi xuống là dương, thấp mà ngẩng lên là âm. Nói về sự phối hợp núi nước thì núi tĩnh lặng là âm, nước lưu động là dương. Thế núi theo dòng nước chảy xuống gọi là thuận, ngược dòng nước đi lên gọi là nghịch. Nói về phép táng thì có long dương huyệt âm, long âm huyệt dương, thuận đến thì nghịch tiếp, nghịch đến thì thuận tiếp.
Nói về âm dương của lý khí thì cũng có nhiều loại, có tĩnh âm, tĩnh dương, và phải xem đốt sau của long mà quyết. Nói về âm dương của quái khí tức là nạp giáp: thuận mà quay sang trái là dương, nghịch mà quay sang phải là âm. Có âm dương của ngũ hành sinh vượng: Mộc dương sinh ở Hợi đi thuận, Mộc âm sinh ở Ngọ đi nghịch. Còn nói đến chính âm dương thì Tí dương mà Sửu âm, Càn dương mà Khôn âm, Giáp dương mà Ất âm, và đều là âm dương thuận nghịch của lý khí. Thể và dụng lại khác nhau, cũng có nhiều nghĩa, nên mới bảo là khó tường.
Chuyện quỷ thần cũng khó thấy. Núi nước kỳ diệu đẹp đẽ, chân khí cát lợi tụ trong cục thì gọi là thần. Núi nước xấu xí mà khí hung ác thì gọi là quỷ. Kinh Thư nói phải nghênh thần mà tránh quỷ, nghĩa là đón thần và né quỷ.
Tám phương, bốn thế, đi và đến, động và tĩnh
Bát quái bày ra tám phương và bốn thế. Tí, Ngọ, Mão, Dậu là Khảm, Ly, Chấn, Đoài, gọi là bốn thế vì chúng ở giữa trời đất, là thế chính của tám phương. Càn, Khôn, Cấn, Tốn là bốn góc, vì ở bốn giới hạn, có quan hệ như kinh vĩ với tám phương.
Có đi có đến, có động có tĩnh. Từ tổ sơn phát ra rất nhiều nhánh mạch. Có nhánh quay trở lại hộ vệ cho thân long, có nhánh chạy đi kết thành cục khác, và mỗi nhánh đến hay đi đều có cách kết tạo riêng. Núi vốn là vật tĩnh, nhưng thế của nó nhấp nhô mà đến nên trong tĩnh có động. Nước vốn là vật động, nhưng hình thể của nó hàm súc ngưng tụ nên trong động có tĩnh. Núi từ xa chạy đến là tổ tông sơn sinh ra con cháu sơn. Tổ tông sơn đẻ ra các nhánh chạy tới từ xa, gặp dòng nước thì dừng lại, ắt thành huyệt.
Vào núi tìm cửa nước, lên cục xem minh đường
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là bốn cửa nước. Khi vào núi phải xem cửa nước ở hướng nào. Nếu ở vị Thìn thì phải tìm cục thế sáu long dương Thân, Tí, Thìn, Khôn, Nhâm, Ất hoặc sáu long âm Tị, Dậu, Sửu, Tốn, Canh, Quý mới có thể kết huyệt. Nếu không thì dù sa và nước có đẹp cũng không thể kết huyệt. Đó cũng chính là câu Dương công nói rằng trước hết phải xem long của Kim động hay bất động.
Lên đến vị trí cục thì phải xem minh đường. Bất kể đông, tây, nam, bắc đều có thể lập hướng cắm huyệt. Nếu nước ở vị Thìn thì khá hợp với Kim âm, cho nên không câu nệ sáu hướng âm Tốn, Canh, Quý, Tị, Dậu, Sửu vẫn có thể cắm huyệt. Nhưng nhất định phải xem minh đường có vuông vức, bằng phẳng, chầu đối hay không.
Núi và nước đều hội linh khí của tinh tú, khách và chủ phải có tình.
Khách là núi chầu, chủ là long đến. Ý nói quan hệ chủ khách quý ở chỗ có tình với nhau.
Đôi chân khỏe và con mắt tinh của người tìm đất
Long mạch từ lầu xuống điện, từ xa ngàn dặm lặn lội chạy đến. Khi tìm long, tìm tổ tông sơn thì không được bỏ dở giữa chừng. Long mạch có tông sơn, tổ sơn, nhô lên thành đỉnh lớn. Đỉnh cao mà nhọn gọi là lầu, cao mà phẳng gọi là điện. Long mạch vận động, nhấp nhô lên xuống, chia nhánh bố cục trong trăm dặm, ngàn dặm, vạn dặm. Chỗ cuối của long mạch là nơi chân khí kết tụ, không dễ thấy. Thầy phong thủy nhất định phải có đôi chân khỏe, để lần từ tổ tông sơn đến chỗ long mạch nhập huyệt, hoặc từ huyệt lần ngược về nơi khởi tổ, xem rõ sự phân hợp của dòng nước, sự khởi dừng của núi. Long mạch mới lạc huyệt, sắp lạc huyệt hay đã lạc huyệt đều có chỗ đứng chỗ dừng. Nhất định phải xét sự khởi dừng của long mạch mới biết huyệt thật hay giả. Nếu ngại đi mỏi chân mà bỏ dở giữa chừng thì không thể thành.
Nếu tổ tông sơn nhô lên cao sừng sững thì con cháu đại phú đại quý. Tổ tông sơn nhô cao nguy nga thì các nhánh con cháu sinh ra nhất định tú lệ. Khách chủ cúi chào nhau thì nhất định có tình ý hợp nhau: Huyền Vũ là núi chủ đối diện với Chu Tước là núi khách. Bên phải cúi thấp, bên trái phủ phục thì tinh thần mạnh lên bội phần. Bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ, đều phải thu liễm, mềm mỏng, thư thái, phủ phục. Phía trước hỗ trợ nhau, phía sau ứng nhau thì khí thế hùng tráng: núi chầu và núi án trùng điệp ở phía trước, đỉnh núi lớp lớp hộ tống ở phía sau, trước hô sau ứng nên khí thế vô cùng hùng tráng.
Cùng một thân cây, khác nhau nơi cành
Phân biệt sơn mạch thì có chuyện cùng thân khác nhánh. Thân và nhánh của long mạch giống như cây mọc cành, có thân lớn, nhánh lớn, nhánh nhỏ. Thân chính dài thì khí lực thịnh vượng, nhánh phân ra ngắn thì khí lực nhỏ yếu. Họ Đồng từng nói rằng thân cây tuy giống nhau nhưng khi chia cành lại có chỗ khác nhau.
Huyệt có loại kết ở đầu long, có loại kết ở giữa long, có loại kết ở cuối long. Có long thân chính kết cục mà lấy long nhánh làm hộ tống. Có long nhánh kết cục mà lấy long thân chính làm hộ tống. Có long tự mình phát ra mà thành núi Long, núi Hổ, núi chầu, núi án. Có nhánh long từ bên ngoài phát ra mà thành la thành phối hợp. Giống nhau và khác nhau có đủ kiểu, cần phân biệt cho rõ.
Ba nhánh, chín khúc, tình ý và tụ tán
Nói về phép nước thì có tam thoa và cửu khúc. Thoa là giao nhau, khúc là uốn lượn. Tam thoa nghĩa là hai bên trái phải trước huyệt có ba dòng nước hội ở minh đường. Cửu khúc nghĩa là có nước uốn lượn chảy vào minh đường. Thầy bói quẻ nói cát lợi thì nơi đó ẩn giấu cát địa. Đất nhà cát lợi là do thần cai quản, người tích thiện sẽ được trời ban cho. Vì vậy công hầu khanh tướng, phú quý vinh hoa đều xuất hiện ở nơi đất nhà cát lợi. Cần hiểu hình thế phân hợp: có đại phân hợp và tiểu phân hợp.
Phải xem tình ý của núi với nước.
Núi nước quay lưng hay hướng mặt vào nhau giống tình ý giữa hai người. Hướng mặt vào nhau là có tình nghĩa, quay lưng vào nhau là không có tình nghĩa. Nếu ly tán thì loạn, nếu tụ hợp thì kề bên nhau. Tán là núi nước chia lìa, hợp là núi nước tụ họp.
Hình thế núi nước tuy cùng xuất phát từ một gốc, nhưng giữa chừng chia ra các nhánh khác nhau, có cái hướng nam, có cái hướng bắc, tản loạn mà không nhìn nhau. Rốt cuộc có cái hộ tống nghênh đón, có cái che chở, có cái là núi Long, núi Hổ, núi chầu, núi án, tụ lại với nhau hoặc đón nhau, rồi gặp nhau ở minh đường.
Chân long ẩn tích, mạch đến và mạch dừng
Vì vậy phải xem kỹ sự ẩn giấu của long mạch. Sự vận hành của chân long thường giấu dấu vết, không lộ liễu. Dù ở núi cao hay bình dương, ở đất bằng nó càng ẩn kỹ hơn, nếu không chăm chú quan sát thì e khó nhận ra.
Phải biết rõ mạch đang đến và mạch đã dừng. Mạch xộc tới như sói, như hổ đói vồ mồi là mạch đang đến. Hoa trong cỏ lộ ra ở phần đuôi mà hương vị của hoa tập trung ở nhụy thì đó là mạch đã dừng hẳn.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
