Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Từ xuất mạch đến nhập thủ: năm thế nước trước huyệt

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Từ xuất mạch đến nhập thủ: năm thế nước trước huyệt

Nước chảy tới trước mặt, nước chảy đi, nước tụ thành ao, nước vắt ngang như đai ngọc, và cả cảnh không thấy nước: năm thế ấy quyết định túi tiền của một dòng họ. Còn phía sau, mạch núi phải chọn một trong mười hai dạng để bước vào huyệt. Vì sao một thế nước chảy đi lại làm nhà sa sút suốt mấy năm đầu?


Có những người đi tìm huyệt đến tận chỗ núi cùng nước tận, rồi hạ táng, và về sau chỉ thấy nhà mỗi ngày một nghèo đi. Họ nhầm vì tin rằng rồng cứ chạy thẳng thì chỗ cuối là chỗ ngồi. Còn người hiểu long thì biết rồng thật hay nghiêng mình, né một bên, rồi mới đặt chỗ nằm.

Ba cách xuất mạch: giữa, trái, phải

Long nào cũng có chỗ xuất mạch, chia làm ba cách: trung xuất, tả xuất và hữu xuất. Lực lượng tụ kết nhiều hay ít khi xuất mạch quyết định nó thuộc cách nào. Đây là điểm cốt yếu của thuật xem đất, cần nắm cho vững. Liêu công nói lạc mạch ở sau địa huyệt phải là trung xuất; trung xuất mới cát lợi, tả xuất kém một chút, hữu xuất càng kém hơn; nặng nhẹ đều do đây mà ra.

Trung xuất là mạch xuất ra từ chính giữa, khí tụ tiềm ẩn khá lớn, chủ đại phú quý. Hữu xuất là long xuất thân từ bên phải: hình thế sơn mạch bên tả ít, bên hữu nhiều, hai bên không quân bình, do hướng ra phía trước nên lệch; cũng có tinh khí kết thành huyệt. Tả xuất là long xuất thân từ bên trái: hình thế sơn mạch bên hữu ít, bên tả nhiều, hai bên không quân bình, thuộc cách "thiền dực tiền", cũng có tinh khí kết tụ thành huyệt. Hai bên tả hữu long mạch có dáng như bảo vệ che chở cho mạch xuất thân thì gọi là "thiền dực", và sa hộ mạch ở hai bên thiền dực thì phải cao hơn.

Mỗi hình dạng còn có cách đọc riêng. Long mạch toàn bộ là trung xuất thì cực tôn quý. Phần trước trung xuất mà phần sau thiên lệch thì bất cát lợi; ngược lại phần trước thiên lệch mà phần sau trung xuất thì có thể xem là cát lợi nhưng hơi kém. Long mạch duỗi dài tương hỗ thì chủ phú quý. Long mạch duỗi dài thiên lệch mà một tả một hữu tương ứng, lại tương thừa thì ứng điểm cát lợi. Có loại long trông tựa thiên xuất mà thực tế là trung xuất, chủ con cháu đời sau văn chương xuất thế, danh khí thịnh vượng. Có loại thực sự thiên xuất, đốt nào cũng tương xứng, thân long uốn khúc, cũng cát lợi nhưng hơi kém. Có loại trung xuất thoắt ẩn thoắt hiện, cũng là cát lợi. Còn loại thiên lệch hẳn một bên, gọi là "toàn thiên", thì tinh khí không thể kết tụ thành huyệt.

Ba cách thụ huyệt: chính, bàng và phân

Cùng một con rồng, huyệt nằm ở thân, ở sườn hay ở nhánh sẽ cho ba kết quả rất khác nhau.

Long có ba cách thụ huyệt là chính thụ, bàng thụ và phân thụ. Lực lượng ẩn tàng trong địa huyệt của chính thụ cực lớn, phân thụ kém hơn một chút, bàng thụ kém nhất. Họ Bốc nói phàm đại phú đại quý ắt do thụ dụng đại huyệt, tiểu phú quý do thụ dụng tiểu huyệt. Về chính thụ, long thể dù từ ngàn dặm xa tới, phân tán nhiều tinh khí nhưng vẫn có nơi để thu dụng, trong trăm ngàn dặm tinh khí đều tụ kết ở đây, nên chính thụ có lực lượng cực lớn. "Chí Bảo Kinh" nói chính long truyền thụ tinh khí thì phú quý vĩnh viễn trường tồn. Dương công nói long từ ngàn dặm tới chỉ kết một địa huyệt, chính huyệt cực tốt, bàng huyệt kém đi một ít.

Phân thụ là khi trên mình chính long phân ra một chi sơn mạch, đơn độc dựng lên một tinh phong, có chi cước, khi quá hiệp, chuyển biến đều có hộ vệ, tự kết thành hình huyệt, lực lượng tỷ lệ theo độ dài ngắn của long mà thay đổi. Phân thụ cũng có thể sinh phú quý nhưng không bền bằng địa huyệt của chính thụ, vốn phát phúc lâu dài. "Chí Bảo Kinh" nói theo long phân thụ thì phú quý khó bền lâu; dư khí của Long Hổ, nơi quan quỷ, nơi có tiểu huyệt, hoặc kề cận thành quận, thừa tiếp chủ mạch khác, tách riêng độc lập mà kết hình huyệt theo sự lớn nhỏ của nó, có thể sinh phúc khí nhưng khí lực suy nhược, dễ phát tán mất. "Tróc Mạch Phú" nói khi chân huyệt chưa hạ táng, huyệt ở bên cạnh tuy cũng có thể phát phúc, nhưng sau khi chính huyệt hạ táng xong thì sẽ thu hồi tất cả tinh khí của sơn mạch. Tử Vi nói cũng có một long mạch sinh ra nhiều địa huyệt, có nhẹ có nặng.

Năm cách nhập thủ: thẳng, ngang, cong, bay, chìm

Nhập thủ của long có năm cách là trực, hoành, khúc, phi và tiềm. Năm cách này chỉ là một đốt long nhập thủ, được quy nạp thành thức. Liêu công nói trực long từ phía sau tiến tới, xem từ trong xuyên ra là tôn quý, núi bốn phía phải bao bọc quấn quýt. Hoành long từ mặt bên kéo dài ra, khí thế nghịch chuyển phải hào hùng. Khúc long vốn khúc chiết trở mình, quay đầu nhìn về tổ sơn chứ không dám tiến. Phi long là khí thụ hợp, ngẩng đầu ưỡn ngực, khí thế kỳ dị. Tiềm long vốn giáng xuống bình dương, tản mác trên bình địa, nhàn nhã ung dung khoáng đạt.

Trực long nhập thủ chính trực, đường đường chính chính tiến lên là cát lợi nhất. "Nhập Thức Ca" nói với hoành long nhập thủ thì sau địa huyệt nhất định phải có Quy Nhạc, tinh phong cũng tương ứng đứng sừng sững phía sau. Với khúc long nhập thủ, kinh nói long mạch uyển chuyển quay đầu, trước khi chưa kết huyệt thì tác triều; triều sơn đều là tổ tông, không quản xa ngàn dặm cũng về đến đây. Phi long kết khí gọi là "thiên xảo"; tiềm long kết khí ở giữa bình địa thì phải hơi nhô lên mới xem là cát lợi.

Thiểm long: rồng nghiêng mình né một bên

Thiểm long là long nghiêng mình, né qua mà kết huyệt. Sơn thế cứ thẳng hướng về trước, còn long mạch thì né một bên, kết tốt tại huyệt. Ngô công nói có người chỉ câu nệ long xuyên tâm, thẳng một mạch đi tới, mà không nhận ra nơi chân long chuyển mình. Chân long uốn lượn xảo diệu, chuyển mình nhiều lần. Nhà phong thủy tầm thường không biết cái huyền diệu của khẩu quyết, chỉ theo sơn mạch trực xuyên về trước để tìm chính huyệt. Khi tìm đến nơi sơn cùng thủy tận, họ chẳng quản có huyệt hay không, cứ cho rằng sơn mạch chạy thẳng tới đây là long mạch; sau khi hạ huyệt, phú quý của chủ nhân chẳng thấy đâu, chỉ thấy mỗi ngày một bần cùng.

Mười hai mạch nhập huyệt

Long kết huyệt ắt ở nơi nhập thủ, sau đó mới quá mạch, kết ấn, lưu giữ tinh khí. Nhập huyệt có mười hai cách, phải quan sát chúng ở phía sau địa huyệt: Chính, Thiên, Đại, Tiểu, Trường, Đoản, Cao, Đê, Trực, Khúc, Tục, Đoạn. Liêu công dạy khi muốn làm huyệt phải quan sát kỹ xuất mạch nhập huyệt có mười hai cách ấy; Chính, Thiên, Đại, Tiểu và Đoản, Trường, Cao, Đê phải thẩm xét cho tường tận; còn Khúc, Trực, Đoạn, Tục cũng cần xét cho rõ là cát lợi hay hung hiểm. Trong mười hai loại mạch ấy chỉ có Chính và Thiên là thống lĩnh các cách khác, và cũng biến hóa theo ba cách tiền, trung, tả hữu.

Mười hai dạng "trượng": khi mạch đến sát huyệt

Mười hai dạng mạch nhập huyệt chưa phải là hết: khi mạch đến thật sát, nó còn mang thêm những dáng vẻ riêng, và mỗi dáng đòi hỏi một cách đặt quan tài.

Sơn mạch khi đến sát huyệt còn mang mười hai dạng "trượng", mỗi dạng một cách xử lý. Khai trượng: sơn mạch tiến thẳng, giữa có sát khí, không thể hạ huyệt; minh đường tinh khí tản ra hai bên, muốn tìm huyệt phải rời xa long mạch hai ba thước, lấy khoảng giữa của khai trượng mới tới chỗ huyền diệu. Xuyên trượng: phía trên cương mãnh, phía dưới nhu nhược, khí thể dừng lại ở giữa, tốt hay xấu còn phải xét; sơn mạch hình chữ thập biến hóa thay đổi khi tới long mạch. Hùng trượng: long mạch khí thế hào hùng cương mãnh nghiêm tuấn, khó dừng bước, địa thế rời xa mạch tới; trung chính thì có thể hạ táng. Đối trượng: phần trên thẳng đứng, ở giữa dừng, phía dưới chợt thấp xuống; cương và nhu, thuận và nghịch đều gặp, chỉ có thể xem trên sơn mạch của đối trượng có trung chính hay không, hạ huyệt ở giữa mới cát lợi.

Một trượng: dấu điệu của long mạch rất sung mãn nhưng nhỏ bé mịt mờ khó tìm, nhà phong thủy phải có phương pháp khai tụ thu thủy, tại nơi rộng rãi cần định huyệt, tiếp thu chân khí, khai khẩu có hạn độ. Triệt trượng: long mạch phía trên hùng vĩ, thẳng, phía dưới lại có lăng giác lồi ra, khí thế ở giữa suy nhược ắt phải có chỗ dừng lại; địa thế này khiến gia nghiệp trong vài năm đầu sút kém, sau mới phát đạt thịnh vượng. Đốn trượng: long mạch tận cùng thì khí thế hùng vĩ hiên ngang, nhưng long mạch đã thoát lạc, tinh khí suy giảm dần, biểu hiện sự khốn đốn, không nên hạ táng ở đây kẻo con cháu bị yểu chiết. Phạm trượng: huyền vũ của long mạch rất hùng vĩ, văn phong vừa nhọn vừa dài, nếu an mộ ở sơn khẩu thì sát khí rất thịnh; đây là loạn táng, hạ táng xong sẽ lật thây đảo cốt, rất bất lợi cho con cháu đời sau.

Thuận trượng: long mạch từ xa tới, sơn thể tương đối bình hòa, uốn lượn như con rắn bò, tinh khí từ não tiến vào, quan tài cũng trung chính; thuận trượng nên đặt hơi khuynh tà một chút để tiếp thụ. Nghịch trượng: long mạch lao thẳng về phía trước, khí thế cương mãnh; khi hạ táng phải kỵ để quan tài xông vào ngọn chủ, và phải đặt hơi lệch mới có hiệu quả. Thúc trượng: sơn thế long mạch tương đối ngắn, từ từ tiến tới, bên trên tụ thành cao phong, tinh khí kết ở Bách Hội, sinh ra anh hùng hảo kiệt; khi hạ táng, quan tài phải tập trung khẩn trương, đặt ngay chính giữa. Xuyết trượng: long mạch khí thế hào hùng, tới tận cùng vội dừng lại nhưng vẫn rất cao lớn nguy nga; khi hạ táng phải biết thoát bớt sát khí để tăng sinh khí, khi phát thì rất nhanh, gia nghiệp hưng vượng trong thời gian ngắn.

Năm cục nước trước huyệt

Núi lo chuyện huyệt có ngồi vững hay không; còn nước lo chuyện tiền bạc về hay đi.

Long kết huyệt thành cục có năm cách, đều lấy thủy làm tiêu chuẩn: triều thủy, hoành thủy, khứ thủy, cứ thủy và can ba.

Triều thủy cục là thủy lưu cuồn cuộn chảy tới trước mặt. Liêu công nói long mạch trở mình, chuyển sơn thế, lại có thủy làm triều thì không sợ gió thổi tới lay động. Cứ thủy cục là các thủy lưu trước địa huyệt hội tụ thành hồ ao đầm; bài phú nói nếu sơn mạch phía trước huyệt rối bời thì chỉ cần có ao hồ. Ngạn ngữ nói tứ thủy lưu tụ thì tất sinh đại phú. Hoành thủy cục là thủy thành uốn lượn bao bọc, chảy tràn sang hai bên tả hữu; ngạn ngữ nói nước như đai ngọc thì cầu quan tất nhanh.

Khứ thủy cục là nước từ trước mặt địa huyệt chảy đi. Dương công nói có can long mang theo bên mình hai dòng nước, thủy lưu chảy về phía trước mà không chuyển mình quay đầu thì lúc ấy cũng có thể kết huyệt; nhưng vệ sĩ hai bên phải có chỗ khác thường, nhất định phải có chỗ quấn chặt, giao kết chặt chẽ bên trong. Ngô công nói thủy lưu tuy chảy tới trước nhưng nếu sơn mạch quay mình giao kết thì cát lợi. Khứ thủy cục dù có tinh khí kết tụ cũng không phát tài, chủ mấy năm đầu gia đạo suy bại; nếu có sinh quý nhân thì cũng phải bán hết nhà cửa ruộng vườn mới làm được đại quan. "Thiên Ngọc Kinh" dặn nếu chỉ có quý nhân mà không có tài sản thì đừng hạ huyệt ở nơi có khứ thủy. "Nhập Thức Ca" của họ Liêu còn nói điều đầu tiên không nên tìm là nơi khứ thủy, nếu tìm được thì lập tức thấy dấu vết tán gia.

Can ba cục là phía trước địa huyệt không có thủy lưu, núi non hai bên tả hữu ngăn lấp minh đường, từ địa huyệt nhìn đi cũng không thấy thủy. Thủy chủ phát tài, nên nơi không có thủy cục muốn có phú quý thì phải tìm long mạch mang trên mình kho lẫm. Tuy có năm loại cục, cách kết huyệt không giống nhau, nhưng nếu là chân long, huyệt địa xác định thì đều có thể phú quý; chỉ khứ thủy cục là bất lợi mấy năm đầu. Đồng công nói nếu có người mà không có tài vật thì nhất định phải tìm long có mang thương khố; có tài vật mà không có người thì đừng hạ huyệt ở nơi cô hàn.

Ba mức tụ khí: lớn, vừa, nhỏ

Long kết huyệt có ba cách tụ: đại tụ, trung tụ, tiểu tụ. Đại tụ là đô hội, tỉnh thành; trung tụ là đại quận, châu phủ; tiểu tụ là làng xóm, dương trạch và âm địa. Liêu công nói sơn thủy của đế đô tất phải là đại tụ, trung tụ là thành thị, còn phần mộ và dương trạch, tức nhà ở, thuộc tiểu tụ.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia