Bài tổng quan
Tam đình, ngũ nhạc, tứ độc và các học đường trên gương mặt người
Trán là trời, mũi là người, cằm là đất; năm ngọn núi và bốn dòng sông nằm ngay trên một gương mặt. Người xưa hỏi mỗi chỗ nhô lên, mỗi chỗ trũng xuống một câu về công danh, tiền bạc và tuổi thọ. Nhưng có một thế khiến cả khuôn mặt mất chủ…
Mục lục · 10 phần
- 01Nhân tướng học nhìn gì ở một con người
- 02Phạm vi của diện tướng và cách đặt phương vị lên gương mặt
- 03Tam đình: trời, người, đất trên một gương mặt
- 04Ngũ nhạc: năm đỉnh núi và thế tụ về trung tâm
- 05Tứ độc: bốn dòng sông trên mặt
- 06Lục phủ: sáu kho để xem công danh
- 07Ngũ quan: năm cửa ải của gương mặt
- 08Ngũ tinh: năm hành đặt lên năm bộ vị
- 09Lục diệu: sáu vì sao trên mày, mắt, ấn đường, sơn căn
- 10Tứ học đường: bốn nơi đo trí tuệ và đường khoa cử
Nhân tướng học nhìn gì ở một con người
Nhân là con người, tướng là tướng mạo. Nhân tướng học là môn nghiên cứu hình dáng và tướng mạo của con người để đoán điều cát điều hung trong số mệnh. Người xưa gọi môn này bằng ba tên gần nhau mà khác nghĩa: tướng số là chỗ tướng pháp ghép với số mệnh, tướng thuật là thuật xem tướng, còn tướng pháp là phép xem tướng.
Có một câu nói để người học không quên mình đang đứng ở đâu:
Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất tri tâm.
Vẽ cọp chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương; biết người chỉ biết được mặt, khó biết được lòng. Chính vì vậy tướng pháp không dừng ở khuôn mặt mà chia ra nhiều bộ môn, mỗi bộ môn một cách nhìn.
Hình tướng: nhìn hình dáng thuần túy
Hình tướng chỉ bàn đến hình dáng, và được chia theo phần cơ thể. Cốt tướng xem xương. Diện tướng xem mặt. Thân tướng xem thân mình. Chưởng tướng xem bàn tay. Thanh tướng xem tiếng nói; tiếng nói vừa mang hình vừa mang khí nên là trường hợp nửa nọ nửa kia, nhưng vẫn được quy về hình tướng.
Bộ tướng: nhìn điệu bộ và cử chỉ
Bộ tướng xem cách người ta đi đứng, ngồi nằm. Hành tướng là tướng đi, tọa tướng là tướng ngồi. Người xưa nói rất gọn về chuyện này: con gái chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy là người vô duyên.
Tâm tướng và thần tướng: nhìn cái không cầm nắm được
Tâm tướng nhìn vào suy nghĩ, tư duy. Thần tướng nhìn vào thần thái và khí sắc. Hai bộ môn này không thể đo bằng thước, nên người học phải dựa vào phép suy luận.
Từ đó có hai lối cảm nhận: hình pháp là phép quan sát, dùng cho hình tướng và bộ tướng; lý pháp là phép suy luận, dùng cho tâm tướng và thần tướng. Người xem tướng giỏi phải có đủ cả hai: mắt để thấy và lý để hiểu điều mình thấy.
Phạm vi của diện tướng và cách đặt phương vị lên gương mặt
Trong các bộ môn của hình tướng, khuôn mặt là nơi người ta nhìn nhiều nhất, và cũng là nơi được chia cắt tỉ mỉ nhất.
Diện tướng lấy toàn bộ gương mặt làm phạm vi, từ trán xuống cằm và từ tai trái sang tai phải. Để định vị từng chỗ, người xưa đặt bốn phương lên mặt như đặt lên một tấm bản đồ. Trán là phương Nam. Cằm là phương Bắc. Bên trái, tính theo người đang nhìn, là phương Đông; bên phải là phương Tây. Chính giữa mũi là trung tâm, là trung ương của cả khuôn mặt.
Từ bốn phương ấy, mặt còn được ghép với tám quẻ theo thứ tự hậu thiên bát quái và với mười hai địa chi, để mỗi vùng trên mặt có một tên gọi và một vị trí trong hệ thống chung của mệnh lý.

Tam đình: trời, người, đất trên một gương mặt
Có phương vị rồi, gương mặt được cắt thành ba tầng, mỗi tầng ứng với một chặng đời.
Tam đình gồm thượng đình, trung đình và hạ đình. Thượng đình là phần trán; trung đình gồm mắt, mày, mũi; hạ đình gồm miệng và cằm. Hai đường chia nằm ở ngang chân mày và ngang chân mũi: từ đường thứ nhất trở lên là thượng đình, giữa hai đường là trung đình, từ đường thứ hai trở xuống là hạ đình.

Thượng đình chủ về trời
Thượng đình chủ về Thiên, tức trời, và chủ về trí tuệ. Đây là tiền vận, vận đầu đời, nơi bộc lộ khả năng thiên phú. Toàn bộ thượng đình do trán cai quản, ứng với quãng đời trước ba mươi tuổi.
Trung đình chủ về người
Trung đình chủ về Nhân, tức con người, và về khí, về thần khí. Đây là trung vận, nơi bộc lộ khả năng tự phấn đấu. Trung đình do mũi cai quản và được coi là quan trọng nhất trong ba đình. Mũi là cung tài bạch của đàn ông; với đàn bà, mũi còn là nơi xem cả tài bạch lẫn cung phu. Mũi nhọn thì chủ cô độc.
Hạ đình chủ về đất
Hạ đình chủ về Địa, tức đất và môi trường sống. Đây là hậu vận và là thành quả của cả một đời người. Cằm cai quản hạ đình và được gọi là địa các, địa khố; muốn biết hậu vận thì xem cằm. Cằm nhọn cũng chủ cô độc.
Ngũ nhạc: năm đỉnh núi và thế tụ về trung tâm
Nếu tam đình là ba tầng nhà, ngũ nhạc là năm ngọn núi nhô lên giữa ba tầng ấy.
Nhạc là những đỉnh núi cao. Ngũ nhạc là năm khu vực cao trên mặt, thể hiện quan quý, trí tuệ và ý chí. Mỗi nhạc mang tên một ngọn núi lớn và giữ một việc riêng:
- Nam nhạc Hoành Sơn là trán, chủ trí tuệ.
- Bắc nhạc Hằng Sơn là cằm, chủ phú và tài.
- Đông nhạc Thái Sơn là gò má bên trái, chủ công danh và quyền quý.
- Tây nhạc Hoa Sơn là gò má bên phải, cũng chủ công danh và quyền quý.
- Trung nhạc Tung Sơn là giữa mũi, giữa mặt, chủ bản mệnh và chuyện thọ yểu.

Người xưa có câu:
Sơn chủ quản nhân đinh,
Thủy chủ quản tài khố.
Núi lo chuyện người, nước lo chuyện của. Núi cao thì quan quý và vượng; người nào ngũ nhạc đầy đặn, tụ về giữa mặt là người cao quan, hậu lộc.
Điều kiện tốt nhất: ngũ nhạc triều quy
Thế đẹp nhất gọi là ngũ nhạc triều quy, nghĩa là năm nhạc cùng tụ về trung tâm: trán hướng xuống, cằm hướng lên, hai gò má hướng vào. Mỗi nhạc có một điều kiện riêng. Trán phải vuông và rộng. Cằm phải tròn và đầy. Hai gò má phải rộng và phẳng. Mũi phải cao và thẳng.
Những thế xấu của ngũ nhạc
- Quần sơn vô chủ: trán, cằm, gò má đều cao đầy nhưng mũi lại nhỏ và thấp. Mũi là trung nhạc, thể hiện uy quyền; mũi yếu thì không có quyền lực.
- Cô phong vô biên: mũi nhô cao, tròn như quả cà chua, nhưng xung quanh khuyết hãm. Đây là thế cô độc, chủ về nghèo khó.
- Hữu viên bất tiếp: các bộ vị quanh mặt không nối liền nhau, chỗ lõm chỗ khuyết. Người này đời thăng trầm, dễ gãy đổ và rất vất vả.
- Ngũ nhạc bất triều: trán xuôi, địa các không hội về. Đó là người không có quyền lực, không có thực lực. Những thế này thuộc về cốt tướng nên rất khó sửa.
Tứ độc: bốn dòng sông trên mặt
Có núi thì phải có sông; trên mặt, những chỗ thấp trũng được gọi là độc.
Tứ độc là bốn khu vực thấp, trũng như những hố sâu trên khuôn mặt, và tướng pháp ví chúng với bốn con sông. Ngũ nhạc chủ về quan quý thì tứ độc chủ về tiền tài và trí tuệ.

Lỗ mũi là Tế độc
Lỗ mũi tương ứng với sông Tế Thủy. Điều kiện tốt nhất là kín, không vếch lên, và thông suốt, không tắc nghẽn. Viêm xoang, polip hay bệnh về mũi đều là khiếm khuyết trong tướng pháp. Mũi chủ về khí, tức là tuổi thọ: người ngáy to, nghẹt mũi, khí kém thì tuổi thọ không cao, thần khí kém đi và sự thông minh cũng kém theo. Mũi lại là cung tài bạch, nên kín thì giữ được tiền, hở thì hao tài.
Lỗ mũi mà hứng hạt mưa,
Phụ mẫu để thừa cũng tan.
Bên Tử Vi, người có Song Hao nhập Mệnh thường mũi hếch.
Hai mắt là Hoài độc
Hai mắt tương ứng với sông Hoài Hà, con sông dài nhất ở Trung Quốc. Mắt tốt khi dài và trong; mắt đục thì tổn thọ. Mắt chủ về trí, nhìn mắt linh lợi là biết người thông minh. Mắt lờ đờ chủ đa dâm. Mắt ngư đục, tức mắt cá chết, là điềm cận tử.
Miệng là Hà độc
Miệng tương ứng với sông Hoàng Hà. Miệng tốt khi vuông và kín, và đẹp nhất là miệng chữ Tứ. Miệng chủ về tài.
Đàn ông rộng miệng thì sang,
Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà.
Lỗ tai là Giang độc
Lỗ tai tương ứng với sông Trường Giang. Điều kiện tốt là sâu và được che đậy, gọi là phản phong nhĩ. Tai chủ về thọ; mũi nghẹt thì cũng không thể thọ được. Huyệt mệnh môn nằm ở chỗ mang tai. Tướng pháp có hai câu: một chỗ xấu phá được chín chỗ quý, mười chỗ đục mới có một chỗ trong.
Lục phủ: sáu kho để xem công danh
Muốn biết một người công danh cao hay thấp, người xưa không nhìn một nơi mà nhìn ba tầng, mỗi tầng một cặp.
Lục phủ là sáu khu vực, chia thành ba cặp ở ba tầng của mặt. Cặp trên là thiên thương phủ, chủ chức vị. Cặp giữa là quyền cốt phủ, tức xương hai gò má, chủ uy quyền. Cặp dưới là tai cốt phủ, chủ về quản lý.

Điều kiện tốt nhất của lục phủ là phong long, nghĩa là cao và đẹp; viên mãn, nghĩa là tròn và đầy; và có khí lực. Người xưa nói: một phủ tụ lại thì mười năm phong phú. Trong sáu phủ chỉ cần một cặp đẹp là đã đỡ cho đời người mười năm sung túc. Hàm én đầu hổ là dáng của những người thực sự có uy quyền.
Ngũ quan: năm cửa ải của gương mặt
Sáu kho là nơi chứa, còn năm cửa ải là nơi một người giao tiếp với thế giới.
Ngũ quan là năm giác quan, cũng là năm cửa ải. Mỗi quan có một tên, một việc chủ và một điều kiện tốt.

- Bảo thọ quan là hai lông mày, chủ về thọ. Mày tốt khi nhỏ, mịn, dài và thanh tú. Lông mày ngắn thì đoản thọ.
- Giám sát quan là hai mắt, chủ về trí. Mắt tốt khi sáng rõ.
- Thẩm biện quan là mũi, chủ về sức khỏe và tiền tài. Mũi tốt khi đoan chính, ngay ngắn, không lệch.
- Thái thính quan là tai, chủ về tiền bạc và sức khỏe. Tai tốt khi cân đối: tròn ra tròn, vuông ra vuông, luân và quách rõ ràng, vòng trong ra vòng trong, vòng ngoài ra vòng ngoài. Ngược lại thì mất hết uy quyền.
- Xuất nạp quan là miệng, chủ về tài khố và tiền bạc. Miệng tốt khi trang nhã, không thô tục: ăn nói không bừa bãi, không chảy rớt rãi.
Ngũ tinh: năm hành đặt lên năm bộ vị
Năm cửa ải còn được đặt dưới năm hành, mỗi hành một sắc, một dáng.
Ngũ tinh đặt ngũ hành lên mặt. Hỏa tinh là trán, thổ tinh là mũi, thủy tinh là miệng, mộc tinh là tai trái và kim tinh là tai phải. Mỗi tinh có điều kiện riêng.

- Hỏa tinh (trán) cần vuông vắn và có sắc hồng. Trán có sắc hồng là vượng khí; trán có sắc trắng là điềm nguy.
- Thủy tinh (miệng) cần sắc hồng và cân đối.
- Thổ tinh (mũi) cần dày dặn.
- Mộc tinh và kim tinh (hai tai) cần trắng.
Miệng cười môi đỏ trái hồng,
Răng đều hạt bắp lấy chồng làm quan.
Đẹp nhất ở người nữ là miệng anh đào, cười tươi như hoa anh đào. Tai trắng hơn mặt là quý tướng; sợ nhất mặt trắng mà tai đỏ, vì họa đến tận cổng. Người xưa còn nói: nóng mặt có tài, nóng tai có sự. Mặt nóng bừng lên là sắp phát tài, miễn là hoàn cảnh xung quanh ổn định; tai nóng là họa sắp đến.
Lục diệu: sáu vì sao trên mày, mắt, ấn đường, sơn căn
Sáu ngôi sao nằm ngay giữa mặt, ở nơi người ta nhìn vào đầu tiên.
Lục diệu là sáu vì tinh tú đặt ngay trên các bộ vị của mày, mắt và giữa trán, gốc mũi.

- Kế đô là lông mày bên trái và La hầu là lông mày bên phải, tính theo người nhìn. Đây là hai hung tinh, nên lông mày cần dài, mịn, đẹp và thanh tú.
- Thái âm (nguyệt) là mắt trái và Thái dương (nhật) là mắt phải. Nhật nguyệt là cát tinh, nên mắt cần trong, sáng, đen trắng phân minh.
- Tử khí là ấn đường, tức bản mệnh, cần viên mãn, tròn đầy.
- Nguyệt bột là sơn căn, tức gốc sống mũi, cần thẳng và cao. Nguyệt bột sáng sủa thì không lo tai ách.
Có một lời căn dặn về cặp mày mắt: mày thanh, mắt tú mới đẹp. Sợ nhất là mắt sâu mà râu rậm, đó không phải tướng tốt, vì người ấy lòng dạ khó đoán.
Tứ học đường: bốn nơi đo trí tuệ và đường khoa cử
Mặt người còn bốn nơi để đo sự học: học là tài năng, cũng là chuyện thi cử đỗ hay hỏng.
Học đường cho biết sự thông minh, năng khiếu, khả năng cao thấp trong học vấn, và con đường khoa cử, tức thi có đỗ đạt hay không. Có bốn học đường.

- Lộc học đường (trán) chủ về quan quý, công danh và tuổi thọ. Điều kiện tốt: vuông, rộng, phương quản.
- Quan học đường (mắt) chủ về quan chức. Điều kiện tốt: dài, sáng, đen trắng phân minh.
- Nội học đường (miệng) chủ về trung, tín, hiếu, kính và tài lộc. Điều kiện tốt: vuông, kín, sắc hồng.
- Ngoại học đường (vùng mệnh môn, phía trước hai tai, nơi chân tóc mai) chủ về thông minh. Điều kiện tốt: rậm, phẳng, tươi nhuận.
Ngoại học đường tự dưng xuất hiện vết thâm hoặc bớt, nghĩa là sắp gặp điều không may mắn.
Nguồn: Ma Y tướng pháp; Liễu Trang tướng pháp (bài giảng tướng pháp sơ cấp).
