Bài tổng quan
Mày kiếm, tướng môi, sáu cực, sáu tiện và dáng rồng hổ
Khoái Thông nhìn mặt Hàn Tín mà nói chỉ được phong hầu, còn sau lưng ông mới có chuyện sang quý hay họa. Từ lời ấy đến mày kiếm, mắt rồng, sáu cái lớn mà không đẹp, tướng học còn kể nhiều chuyện khác...
Mục lục · 11 phần
- 01Quan giám sát, mày kiếm, giang độc, xương tướng quân, mày giao nhau
- 02Mũi như ống tre cắt, xương kim thành, môi và cằm
- 03Kim lũ, kim thanh, kim tinh, kim hình, kim âm: pháp lệnh và tiếng nói
- 04Mắt kinh hoảng, lỗ mũi, mặt trơn như mỡ, xương vai, răng cưa
- 05Giang thị sát, cằm, miệng rộng nuốt nắm tay, khẩu đức và khẩu tặc
- 06Khoái Thông nói về lưng của Hàn Tín
- 07Lan đài, diên úy, mắt sói, đi như sói, lệ đường
- 08Vận khí từng năm, bộ tướng pháp Liễu Trang, sáu cái lớn mà không đẹp
- 09Lục phủ, lục cực, lục tiện, lục tước, lục tiểu quý, lục diệu
- 10Rồng và hổ trên gương mặt: dáng đế vương, mắt rồng, trán rồng
- 11Mũi lộ xương, lỗ mũi lộ: cô độc, nghèo khổ và phá sản
Quan giám sát, mày kiếm, giang độc, xương tướng quân, mày giao nhau
Quan giám sát là một trong ngũ quan, chỉ hai mắt. Mắt nên ẩn chứa mà không lộ, trắng đen rõ ràng, con ngươi đoan chính, ánh mắt nhìn xuyên thấu tâm can.
Kiếm mi là lông mày hình dáng như kiếm. Người có mày kiếm vừa có quyền vừa có khả năng lập nên sự nghiệp, ắt là quý nhân. Ngoài ra còn chỉ gò xương mày như kiếm, đó là điềm chỉ người gian ác, cường bạo.
Giang độc là sông Trường Giang, ở đây chỉ hai tai. Thần tướng toàn biên chép: tai là giang độc, rộng rãi mà sâu thẳm, có vành trong bổ trợ, ngay ngắn, đó là điềm thông minh, gia nghiệp không bị phá tán. Tướng quân cốt là một trong chín loại xương, chỉ xương gò má đầy đặn, cao ngang tai; đó là cát tướng, tướng sang.
Giao mi, còn gọi là giao đầu, liên mi, là hai đầu lông mày giao nhau; điềm vô thọ vô lộc. Kết hầu là một trong ngũ lộ, chỉ xương cổ lồi lộ, sáng và tròn trịa; người có xương cổ ấy thường có thân nhân ly tán, cốt nhục phản bội nhau.
Mũi như ống tre cắt, xương kim thành, môi và cằm
Tiệt giản tỵ là tướng mũi có vùng chóp như ống tre bị cắt; đây là điềm cả đời áo cơm đầy đủ. Kim thành cốt chỉ người có xương nằm trên ấn đường kéo dài tới chân tóc. Kim đới sát chỉ tướng mày thưa rậm không rõ rệt, đầu và cuối chân mày có lông mọc ngược hay nhăn đâm vào thịt.
Kim phúc chỉ vùng trên của môi; nên mỏng và che được phần dưới của môi mới tốt; nếu có nhiều vằn và nếp thì tượng trưng người có nhiều con cháu hiếu thuận. Kim quỹ còn chỉ tướng mắt có vùng dưới mắt đầy đặn như ngón tay để ngang, còn gọi là ngọa tằm; và kim quỹ cũng chỉ hai cánh mũi, tức lan đài và diên úy, hai bộ vị này nên sáng hồng mới tốt, không nên tối tăm nhợt nhạt.
Kim lũ, kim thanh, kim tinh, kim hình, kim âm: pháp lệnh và tiếng nói
Kim lũ chỉ các nếp pháp lệnh quanh hai cánh mũi. Đường vằn này nếu hiển lộ theo chiều thuận thì tốt; nếu ngoằn ngoèo không rõ, loạn nghịch, hoặc chạy kéo dài đến miệng thì đều là điềm không trường thọ.
Kim thanh, còn gọi là kim âm, là một trong ngũ quan; tiếng nói nên hài hòa và trong trẻo. Kim tinh là một trong ngũ quan, chỉ tai trái. Kim hình là một trong hình tướng ngũ hành; Chiêu đảm kính chép: kim hình vuông vức, bằng phẳng, ngay thẳng. Kim âm theo Chiêu đảm kính: kim âm vận dài hơi, hướng trong trẻo, nghe xa thấy rõ ràng mượt mà thì sang; nếu ngược lại thì là kẻ bần tiện.
Kim tiệt chỉ vùng dưới môi; về tướng học vùng này nên đầy đặn để che cho môi trên.
Mắt kinh hoảng, lỗ mũi, mặt trơn như mỡ, xương vai, răng cưa
Kinh nhãn là tướng thần thái của mắt luôn gấp gáp, kinh hãi; người có tướng mắt ấy là tướng đoản mệnh. Tỉnh táo chỉ lỗ mũi. Tửu thực thiên la là một trong mười thiên la, chỉ sắc mặt trắng trơn như có mỡ, tướng sắc mặt không tốt.
Cự kiên chỉ xương vai to quá cỡ. Một thuật ngữ khác chỉ xương sườn hai bên rãnh tai nhô lên, tướng sang. Cự tướng chỉ tướng sang. Cứ xỉ chỉ răng có hình trên nhọn dưới to như răng cưa; người có tướng răng ấy vừa giàu vừa thọ.
Giang thị sát, cằm, miệng rộng nuốt nắm tay, khẩu đức và khẩu tặc
Cửa miệng vừa là nơi ăn uống, vừa là cánh cửa của lời nói và của tâm hồn.
Giang thị sát là một trong ngũ ác sát, tức mắt khô vàng, ngủ không khép miệng. Hài tướng là phần dưới cằm, còn gọi là địa các, Bắc nhạc; bộ vị này liên quan vận khí gia đạo. Bộ phận này nhọn mỏng thì tuổi xế chiều thê lương, tật bệnh nhiều.
Khẩu đại dụng quyền là há miệng có thể nuốt được cả nắm tay, ý chỉ người miệng rộng; đây là điềm mệnh giàu sang, sống thọ. Khẩu đức nói rằng từ hình dáng miệng có thể đoán họa phúc cát hung, vận thế con người. Miệng là cửa của lời nói, liên quan điều thị phi tiếng tăm, là nơi ăn uống, là cánh cửa sổ của tâm hồn. Khẩu tặc là tướng đối nghịch với khẩu đức, chỉ người thích bàn luận chuyện thị phi, phỉ báng người khác.
Khoái Thông nói về lưng của Hàn Tín
Khoái Thông tướng bối xuất phát từ điển tích trong Hoài Âm hầu liệt truyện, Sử ký. Có người nước Tề tên Khoái Thông biết quyền lực thiên hạ đều rơi vào tay Hàn Tín, muốn ràng buộc và kích động ông. Thông nói: mặt của tướng quân chẳng qua chỉ được phong hầu, lại có điềm nguy hiểm bất an; còn sau lưng tướng quân, người sang quý thì có, nhưng không thể tin. Khoái Thông là người có tài biện thuyết vô song, khéo dùng miệng lưỡi phân tích lợi hại, từng làm mưu sĩ cho Hàn Tín, tích cực khuyên Hàn Tín làm phản.
Lan đài, diên úy, mắt sói, đi như sói, lệ đường
Lan đài chỉ cánh mũi bên trái, còn gọi là kim quỹ, tiên khố. Lan đài cùng diên úy, cánh mũi phải, ngay ngắn đầy đặn là tốt. Hai bên cánh mũi đầy đặn sáng sủa thì gia sản của cải ngày thêm nhiều, học rộng nhiều tài cán.
Lang cố là mặt nhìn ngoái lại phía sau mà không cử động như chó sói; người ấy hung ác như sói. Lang hành là tướng khi đi mà đầu luôn ngoái lại phía sau; người đi như sói thì tâm địa khó lường, hung hiểm. Lao ngục thiên la cũng giống hình ngục thiên la.
Lệ đường còn gọi là cung nam nữ, chỉ vùng dưới mí mắt; vùng này nên đầy đặn, không nên sâu hãm. Lịch huyết đầu là sắc mặt của kẻ không có tính người; đây là tướng hung. Liên mi còn gọi là giao mi, liên đầu, là hai đầu chân mày sát vào nhau, một loại dị tướng.
Vận khí từng năm, bộ tướng pháp Liễu Trang, sáu cái lớn mà không đẹp
Lưu niên vận khí là vận thế mỗi năm của từng người. Giới tướng thuật cho rằng có thể dựa vào ba bộ vị trên khuôn mặt để dự đoán vận khí mỗi năm; mỗi bộ vị làm chủ tình hình vận khí của một năm. Liễu Trang tướng pháp là sách tướng thuật xưa, một trong những sách tướng thuật hiện còn lưu hành.
Lục đại chỉ các bộ vị đầu, mắt, miệng, tai, bụng, mũi tuy lớn nhưng không đẹp. Đầu tuy to nhưng trán không nhô; mắt tuy to nhưng không có thần thái tinh anh; mũi tuy to nhưng sống mũi không vững chãi; miệng tuy to nhưng âm thanh éo lả; tai tuy to nhưng không có luân quách; bụng tuy to nhưng trướng lên phía trên chứ không rũ như đeo túi.
Lục ác là sáu loại tướng không đẹp: mắt, môi, cổ họng, đầu, thân, dáng đi. Một là mắt bằng nhìn thẳng không thay đổi, chỉ người nội tâm gian ác. Hai là môi không che hết răng, tính không khoan hòa, khó giao tiếp. Ba là cổ họng, chủ khắc kỵ với vợ con, hay rước vạ vào thân. Bốn là đầu nhỏ, chủ bần tiện và đoản mệnh. Năm là tam đình không bằng nhau, chủ nghèo khó. Sáu là đi đứng như chạy, chủ bôn ba vất vả.
Lục phủ, lục cực, lục tiện, lục tước, lục tiểu quý, lục diệu
Lục phủ: thiên đình và hai xương nhật cốt, nguyệt cốt là thiên phủ; hai gò má là nhân phủ; vùng địa các hai bên má là địa phủ. Cụ thể, vị trí của hai vùng thiên phủ chính là hai xương phụ cốt, bao quát cả vùng thiên thương, tức khu vực giao thoa giữa trán và tóc. Hai vùng nhân phủ nằm hai bên gò má, bao quát khu vực từ mệnh môn đến hổ nhĩ. Hai vùng địa phủ nằm ở hai bên xương má, bao quát cả vùng địa khố.
Lục cực chỉ đầu, trán, mắt, mũi, miệng, tai đều nhỏ và không đẹp. Đầu nhỏ là cực thứ nhất, không nhận được khí lực của trời; trán nhỏ là cực thứ hai, không nhận được khí lực của cha mẹ; mắt nhỏ là cực thứ ba, không có trí thức rộng; mũi nhỏ là cực thứ tư, lao động không nghỉ ngơi; miệng nhỏ là cực thứ năm, không đủ cơm áo; tai nhỏ là cực thứ sáu, số mệnh khó lường.
Lục tiện là sáu loại tướng bần tiện về trán, não, lưng, âm thanh, mũi, mắt. Trán khuyết hãm, thiên trung mỏng là tướng bần tiện thứ nhất; lưng và não mỏng là thứ hai; âm thanh giọng nói the thé là thứ ba; tai mắt láo liên là thứ tư; mũi gãy, thấp là thứ năm; mắt không có thần thái là thứ sáu.
Lục tước chỉ sáu bộ vị mày, trán, mắt, mũi, miệng, tai có hình tướng không đẹp: mày không ra mày, trán không nhô, mắt không có thần thái, mũi không có sống mũi, miệng không có góc cạnh, tai không có luân quách.
Lục tiểu quý chỉ sáu bộ vị mắt, tai, miệng, mũi, bụng, eo, thân tuy nhỏ nhưng sang quý: trán nhỏ và bụng phẳng; mắt nhỏ nhưng tinh anh; mũi nhỏ nhưng có sống mũi ngay ngắn; tai nhỏ nhưng hướng lên thái dương; bụng nhỏ nhưng hướng xuống dưới; miệng nhỏ nhưng hồng và thanh; eo nhỏ nhưng tròn; thân nhỏ nhưng tam đình đều đặn. Đều là tướng quý và thọ.
Lục diệu là ấn đường, thái dương, nguyệt bột, la hầu, kế đô, tử khí; trong tướng học dùng để phân biệt mắt trái, mắt phải, sơn căn, mày trái, mày phải, ấn đường.
Rồng và hổ trên gương mặt: dáng đế vương, mắt rồng, trán rồng
Long phụng chi tự là cách xưng tụng dáng mạo của bậc đế vương. Long cung cốt là xương vành mắt tròn và nhô lên, tướng sang quý. Long cốt là xương từ cánh tay tới khuỷu tay, nên dài và to; còn dùng chỉ xương nhật giác cốt và nguyệt giác cốt; những xương này to thì đường quan lộ hanh thông, có thể được chức vị cao. Long hổ khí chỉ người có khí phách cao quý của bậc đế vương. Long giác cốt còn gọi là phụ giác cốt, chỉ xương ở hai chân mày nhô lên và nằm ngang kéo dài; xương này phát triển là tướng sang quý.
Long tinh, còn gọi là long đồng, là tướng mắt kỳ dị, mắt như ngọc treo, long lanh, chủ cực kỳ sang quý. Long mục phụng tinh là tướng mắt cực kỳ sang quý; tương truyền thời Đường danh thần Phòng Huyền Linh có tướng mắt ấy. Long đỉnh là bộ vị thiên đình nhô cao rộng, tướng quý. Long đồng phụng cảnh là một trong các dị tướng của nữ giới.
Long thôn hổ chỉ xương cánh tay thô dài kéo đến khuỷu tay, có tay, ngón tay dài đến lòng bàn tay; đây là tướng sang. Long tê tướng chỉ xương dưới mày nhô lên nối liền với sống mũi, tướng sang quý. Long hành hổ bộ: rồng bay không đổi thế, bất động, lắc lư; hổ bước rộng có sức lực; người có tướng rồng bay hổ bước thì khí thế luôn dũng mãnh, có khả năng làm việc lớn. Long tu là râu như râu rồng, tướng sang quý. Long đỉnh còn chỉ trán rất cao. Long chuẩn chỉ mũi cao.
Mũi lộ xương, lỗ mũi lộ: cô độc, nghèo khổ và phá sản
Lộ tích tỵ, cũng gọi là cốt tỵ, chỉ mũi gầy và lộ xương; người có tướng mũi ấy chủ cô độc, nghèo khổ, vô phúc. Lộ táo tỵ chỉ lỗ mũi to mà lộ; người có hình tướng mũi ấy trong tuổi trung niên thường gặp nhiều tai ương, dễ phá sản, thất hại. Táo đồng nghĩa với tỉnh táo, tức là lỗ mũi.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
