Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Tướng do tâm sinh và những bậc thầy tướng thuật xưa

Đạo Học - Tướng Pháp05/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Tướng do tâm sinh và những bậc thầy tướng thuật xưa

Viên Củng ngày xưa soi đuốc trong bóng tối để đọc sắc khí khuôn mặt, và nghe nói ông gặp ai cũng biết lòng người tốt hay xấu. Nhưng ngay trong nghề ấy cũng có câu: có tâm mà không tướng, tướng từ tâm sinh. Từ câu ấy mở ra cả một dòng thầy và một dòng tướng thư...


Xem tướng là xem tâm trước, xem mặt sau

Tướng đức là cách xem phẩm cách đạo đức để đoán vận mệnh phúc họa: giới tướng thuật cho rằng trước phải xem đức, sau mới xem hình. Tướng tâm là xem tâm tính để đoán vận: người xưa cho rằng tướng tâm ảnh hưởng đến tướng mệnh, tướng do tâm sinh, cho nên xem hình dạng bên ngoài chẳng bằng bàn đến tâm tính, và tâm khoan hậu rộng rãi thì tốt.

Tướng toại tâm sinh là tâm niệm thiện ác và tính tình tác động trực tiếp lên khuôn mặt, tức tướng do tâm mà sinh ra. Giới tướng thuật nói: có tâm mà không có tướng thì tướng từ tâm sinh; có tướng mà không có tâm thì tướng theo tâm mà diệt. Câu thần tùy tâm tại diệt nói cùng ý ấy: tướng xấu có thể làm tiêu mòn điều thiện, và cũng có thể được xóa đi bởi điều thiện, bởi vì tướng mặt của một người không cố định bất biến mà đổi theo sự đổi thay của tâm tính.

Nhân bất khả mạo tướng là nói không thể chỉ nhìn tướng mạo bên ngoài mà phải xét hành vi, cử chỉ, lời nói, sự tu dưỡng đạo đức. Một câu rút từ Phong giám nói điều tương tự: phẩm chất và trí tuệ của con người thường ẩn sau hành động và nội tâm, vì vậy không chỉ dựa vào vẻ ngoài mà suy ra người ta hiền hay ác, mà phải xem hành động, cử chỉ, thần thái. Ma Y tướng pháp dặn không nên chỉ xem tướng mạo bên ngoài mà phải xem tâm địa, tình ý của người đó.

Các lối xem tướng

Tướng pháp và tướng thuật là tên gọi chung của nghề xem tướng: thông qua hình mạo, thần sắc và nhiều phương diện khác để đoán vận mệnh. Tướng nhân thuật là phương pháp căn cứ tướng mặt để đoán cát hung phúc họa, mà bộ điển tịch kinh điển của nó là Nhân luận đại thống phú do Trương Hành Giản soạn; tướng nhân là xem tướng mạo để đoán giàu nghèo, hiển ngu. Tướng diện là xem tướng mặt để đoán tiến trình vận mệnh, cũng chỉ việc xem các bộ phận trên mặt và hình thể. Tướng khí là xem sắc khí: khí là gốc của hình tướng, quyết định thọ mệnh và tâm tính; khí chia thanh và trọc, mạnh và yếu, dày và mỏng, nóng nảy hay tỉnh táo; khí trong, ngay thẳng, khoan hòa, an ổn mới tốt. Tướng khí sắc là xem sắc thái dung nhan, diện mạo, hình thể: người lấy khí làm chủ, bên trong là tinh thần, bên ngoài là khí sắc.

Tướng ba mao xem da và lông, tướng văn ngân xem vết đường vân, tướng chưởng văn xem chỉ tay, tướng tình thái xem tình cảm thái độ. Tướng sự là nghề chuyên xem tướng quan lại thời xưa. Tướng công, tướng sĩ và tướng giả là những tên gọi khác của người xem tướng. Tướng cốt tiên nhân là người mù xem bói, dùng tay sờ xương cốt để đoán vận mệnh.

Thiên biểu, nhật biểu: cách tôn xưng bậc đế vương

Thiên biểu, còn gọi nhật biểu, thiên nhật chi biểu, là lời tôn xưng của sử gia và thầy tướng dành cho vua. Người xưa coi mặt trời là đấng chí tôn trong vũ trụ tự nhiên, còn vua là đấng cao quý nhất trong xã hội. Từ tư tưởng người và trời tương hỗ, hai điều ấy được ghép lại: lấy mặt trời làm biểu tượng cho dáng vẻ cốt cách của đế vương. Tam biểu chỉ cái tài thứ nhất, tức trời.

Những tướng thư thời xưa

Nhân luận đại thống phú là tác phẩm kinh điển của Trương Hành Giản, chuyên bàn về phép xem tướng, lời lẽ cực kỳ giản lược, chia đề mục rõ ràng, chỉ hai ba nghìn chữ mà bao quát hết. Thái thanh thần giám là bộ tướng thư nổi tiếng thời Minh, sau bị cấm lưu hành trong dân gian, là cuốn quý của giới tướng thuật nhà quyền quý; có Hoàng thượng thẩm duyệt, dự đoán số mệnh giàu nghèo, phân tích vân tay, tướng mặt, xương cốt, lại có những phần mà các sách khác không đề cập như tư thái, nhãn thần, khí huyết, ngữ khí, âm điệu, tướng nằm, tướng đi.

Ngọc quản chiếu thần cục là tướng thư cổ, bản cũ đề của Tống Tề Khâu thời Nam Đường, chuyên bàn phép luận tướng; cho rằng tướng mạo con người nằm ở bên ngoài hình dạng, không nhìn thấy được, gọi là âm cục. Nguyệt ba động trung ký là tác phẩm kinh điển của tướng thuật cổ. Thần cơ tướng tự pháp, tên khác Canh Tể tướng tự chỉ lý tập, là sách tướng chữ do Canh Tể soạn, sau nhập vào Vĩnh Lạc đại điển. Thần tướng kim giáo tiền là tướng thư cổ, lưu hành cuối đời Thanh. Thần tướng thiết quan đạo là tướng thư xưa, một trong những sách còn lưu hành đến thời cận đại. Tướng lý hành chân cũng là tướng thư cổ còn lưu hành. Tâm tướng thiên là kinh điển tướng học do Trần Bác đời Tống soạn.

Thần tướng toàn biên là tướng thư do Trần Bác soạn, một trong những bộ lưu hành phổ biến nhất hai đời Minh, Thanh; vốn có hai mươi tám quyển, gồm tổng luận và phần luận, là tác phẩm đại thành của tướng thuật.

Lạc lộ tử tam mệnh tiêu tức phú chú là sách đoán tướng mệnh do Từ Tử Bình đời Tống chú, nên gọi như vậy. Quy tắc của nó là chuyên lấy giờ, ngày, tháng, năm sinh để suy cát hung phúc họa. Lý Thục trong Hàm đan thư mục cũng lấy ý "lạc lộ như ngọc, lạc lộ như đá". Từ đời Tống về sau chú sách này có bốn nhà tướng thuật: Vương Diên Quang, Lý Đồng, Thích Đàm Oánh và Từ Tử Bình; Tứ khố toàn thư căn cứ Văn nghệ chí của Tống sử chia làm hai quyển thượng và hạ, có các bản Mặc hải kim hồ, bản khác của Thủ Sơn Các, Tứ bộ toàn thư.

Tinh mệnh tố nguyên là sách về thuật tinh mệnh gồm năm quyển, căn bản về học thuyết ngũ tinh đoán số mệnh, đưa vào Tứ khố toàn thư. Tinh bình hội hải là sách tinh mệnh gồm chín quyển, bao gồm Tử bình toán mệnh thuật và Ngũ hình suy mệnh thuật. Tinh học đại thành là sách tinh mệnh do Vạn Dân Anh đời Minh soạn, có chú thích và luận đoán: phần một luận sơ đồ các sao, phần hai xem sơ lược thuật chiêm tinh và mười hai cung vị, phần ba ghi lại tác phẩm Cầm đường hư thực, phần bốn là Gia luật mật quyết, phần năm đến bảy bàn Tiên thành vọng đầu và Tam thần thông tái, phần tám bàn các thuật tạp như Tổng quy tứ phú, Chân tăng tinh bình tạp trứ, phần chín là Bích ngọc chân bình đặng sử biều, phần mười là Quang duật uyên nỉ, cách cục của các sao; đây là tài liệu tham khảo lý tưởng của các nhà chiêm tinh học xưa.

Uyên hải tử bình là bộ sách lớn đầu tiên luận về mệnh lý tứ trụ một cách tương đối hoàn chỉnh, hệ thống. Từ Thăng căn cứ vào ghi chép về phương pháp luận mệnh của tông sư mệnh học đương thời là Từ Tử Bình mà biên soạn. Có thể nói Uyên hải tử bình là tác phẩm đặt nền móng cho mệnh lý học, nên tứ trụ mệnh lý học được gọi là Tử Bình bát tự. Trong đó nhiều lần đề xuất luận mệnh linh hoạt, biến thông, phù hợp với tư duy biện chứng, lý giải thấu đáo quy luật tự nhiên; người đời sau tôn xưng rằng mọi thuyết của nhà tướng thuật đời sau không vượt qua phạm vi cuốn sách này, chỉ như bóng trăng in dưới mặt hồ.

Thái Tố là một loại thuật tướng, từ tướng mạch có thể suy tuổi thọ cho đến phúc họa; truyền thuyết rằng từ thời Đường, Đồng Thích đi vào núi, sau truyền cho Trương Thái Tố, Thái Tố truyền bá rộng nên gọi là Thái Tố. Thái Tố mạch pháp là tác phẩm nổi tiếng về tướng học; Độc thư mẫn cầu ký ghi cuối đời Đường có người tiều phu tìm được sách này trong hộp đá quý; Tứ khố toàn thư tổng mục chép một quyển, không đề tên người soạn, chỉ cách châm mạch để đoán vận mệnh cát hung giàu nghèo, nguồn gốc không rõ. Phép xem này hưng thịnh thời Bắc Tống, nay đã thất truyền.

Những bậc thầy tướng thuật

Ma Y đạo giả là nhân vật xuất hiện cuối đời Ngũ Đại đầu đời Tống, năm sinh năm mất chưa rõ, là đạo sĩ ẩn cư. Truyền rằng ông trao Chính dịch tâm pháp cho Trần Đoàn (872–989, nhà nghiên cứu Đạo giáo nổi tiếng thời Ngũ Đại, đầu Tống). Thích Chí Bàn trong Phật tổ thống kỷ, chương hai mươi bốn có nói: thời Ngũ Đại có người mặc áo gai kiểu đạo sĩ, thấu tỏ đạo Dịch xuất phát từ bí mật Hà Đồ, trao cho Hy Di (Trần Đoàn); Hy Di từ đó mới bắt đầu truyền lại cho hậu thế.

Trương Hành Giản là nhà thuật số thời Kim, tự Kính Phủ, người Nhật Chiếu, Cửu Châu, thông minh ham hiểu biết, thông tỏ kinh sử. Năm Đại Định thứ mười chín (1179) nổi tiếng là nhà từ phú số một; làm quan đến Thái tử thái bác, mất thụy Văn Chính. Sách ông có ba mươi cuốn, trong đó Nhân luận đại thống phú được nhiều người biết nhất. Hứa Phụ là nữ tướng thuật thời Hán, ở Ôn thành, quận Hà Nội, được coi là đệ nhất nữ thần tướng của Trung Quốc xưa. Thích Đàm Oánh là nhà sư cuối Nam Bắc triều, hiệu Mộng Nguyệt, người Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang), ẩn cư ở Lâm An, trốn đời tu trong am; Hồng Mại từng nghe ông giảng Dịch; để lại hai quyển Lạc lộ tử phú chú. Đường Cử là nhà tướng thuật thời Chiến Quốc, người huyện Khai Phong, Hà Nam. Thúc Phục là nhà tướng thuật thời Xuân Thu, từng giữ chức Nội sử. Trí Duyên là vị tăng đời Bắc Tống, người Tùy Châu (Hồ Bắc), giỏi thuật xem mạch biết hung cát phúc họa, được tôn xưng Kinh Lạc đại sư.

Viên Củng là nhà tướng thuật đời Minh, tự Diện Ngọc, người huyện Ngân (nay là Ninh Ba, Chiết Giang), sinh ra đã dị bẩm, hiếu học yêu thơ. Từng đến Lạc Gia Sơn, gặp dị tăng Biệt Cổ Nhai truyền thuật xem tướng; cách xem là lấy đuốc soi hình trạng sắc khí khuôn mặt trong bóng tối, rồi dựa vào ngày tháng sinh mà đoán. Truyền rằng ông gặp ai cũng biết tâm thuật tốt xấu của người đó, thường uốn nắn cái xấu để cải biến họ. Là người thích giao lưu, đoan chính phúc hậu, sống ở phía tây thành, quanh nhà trồng liễu nên lấy hiệu Liễu Trang cư sĩ, có sách Liễu Trang tập. Viên Trung Triệt là con của Viên Củng, tự Tĩnh Tư, thuở nhỏ được cha truyền tướng thuật, tính cách gian xảo, mưu mô. Viên Thiên Cương là thuật sĩ đời Đường, người Thành Đô, Ích Châu, sống thời sơ Đường; thời Tùy từng làm Diêm quan lệnh, thời Đường làm Hỏa sơn lệnh; tác phẩm có Lục nhâm khóa, Ngũ hành tướng thư, Suy bối đồ…, có bốn cuốn như Dịch bính huyền yếu đã thất truyền. Viên Khách Sư là thuật sư thời Đường, con của Viên Thiên Cương, truyền bá được thuật tướng của cha.

Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp