Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Quan viên, tăng đạo và mười hai tháng trong khí sắc

Đạo Học - Tướng Pháp05/10/202617 phút đọc2 lượt đọc
Quan viên, tăng đạo và mười hai tháng trong khí sắc

Một vệt đỏ vàng trên thiên trung báo thăng một cấp, vệt tím báo quan to; nhưng dịch mã bỗng ngả xanh đen thì ghế quan có thể mất ngay. Người tu hành và dân thường cũng có những lời báo riêng, còn mười hai tháng trong năm chia gương mặt thành ba đình. Đường quan lộ rốt cuộc được đọc ra sao?


Xem trán để biết đường quan lộ

Đoán đường quan lộ của một người qua khí sắc là việc khá khó, phải suy tính tỉ mỉ. Vầng trán là nơi cho biết người ấy có thăng quan tiến chức hay không. Cả mặt phủ một ánh hồng thì người ấy được thăng quan. Thiên trung phát đỏ thì tất phát tài. Ấn đường và ngũ quan phát tím, rồi đột nhiên phát đỏ thì vừa thăng quan vừa sinh quý tử.

Thiên trung hiện đỏ vàng thì thăng một cấp. Thiên trung hiện tím thì làm đến quan to; giáp quỹ cũng có khí sắc này thì trong ba mươi ngày tới được làm quan. Thiên trung hiện trắng vàng tròn sáng thì trong bảy mươi ngày nhất định làm quan lớn; nếu cả vầng trán có khí sắc ấy thì hiển quý, phong hầu bái tướng. Từ long giác đến vùng tai hiện vàng thì được phong hầu. Thiên trung hiện vàng thì có thể làm quan võ. Lâm quan, dịch mã hiện vàng thì kết quả cũng tương tự.

Dịch mã xanh đen thì có thể bị bãi chức

Có một chỗ trên mặt chỉ cần ngả màu là chiếc ghế quan đã lung lay.

Nhân trung và kim quỹ thường có vân vàng thì người ấy thăng quan. Hai bên long, hổ phát vàng thì nhất định thành tể tướng. Dịch mã đột nhiên hiện xanh đen thì có nguy cơ bị bãi chức. Ngũ nhạc, tứ độc mà nhọn hoặc lõm sâu thì dù làm quan cũng chẳng được bao lâu. Ấn tín và hát xướng hiện màu rêu xanh thì sau khi từ quan còn có tai họa khác. Từ ấn đường đến thiên trung hiện vàng đỏ thì trong hai mươi mốt ngày thăng chức quan nhỏ; nếu màu vàng đỏ ấy lấn sâu vào đuôi mắt thì vừa thăng quan, thê thiếp cũng có nhiều chuyện vui.

Nhìn chung, ngũ nhạc và tứ độc nhọn hoặc lõm thì quan chức không lâu dài; dịch mã bỗng xanh đen thì bị bãi miễn; gò má hiện tím thì có thể trở thành đại tướng.

Ấn đường phát đỏ, nhất định thăng quan

Ấn đường phát đỏ thì người ấy nhất định thăng quan, lại nhận được thư nhà mang tin mừng; nhưng nếu hiện trắng thì thư nhà có thể báo trong nhà có tang. Niên thượng phát đỏ thì tất trường thọ. Hát xướng phát tím thì vừa thăng quan vừa đi xa. Màu tím nằm ở phía tây của hát xướng thì nơi nhận lộc cũng ở phía tây, nhưng vẫn phải xét bốn phía và phía trên mới biết lộc thật sự đến lúc nào.

Nếu màu đỏ từ thiên đình chuyển qua đối diện với trung thiên rồi xâm nhập vào góc trán thì biết được người ấy làm quan to. Tuy nhiên mỗi lần thăng quan đâu phải chỉ xem một chỗ, mà phải xem cả những nơi xung quanh. Miệng hiện đỏ thì người ấy có chức quan; miệng hiện xanh thì nhanh được thăng quan. Ấn đường, hát xướng và thiên trụ cùng phát đỏ thì có thể làm quan chính lang; cả ba nơi phát vàng thì đường quan lộ có biến động; cả ba nơi phát đen thì khó bảo toàn tính mạng.

Ấn tín phát đỏ thì nhanh chóng thăng tiến

Ấn tín phát đỏ mà không dời chỗ thì trong mười bốn ngày có thể thăng quan. Nếu là người bình thường thì phát tài, vợ sinh quý tử, bất kể sang hèn đều như vậy. Hát xướng hiện vàng đỏ thì trong mười bốn ngày làm quan đến chính lang; bất kể quan to hay quan nhỏ đều có thể tăng liền hai cấp; nếu là dân thường thì phát tài.

Màu đỏ từ ấn đường đi lên, qua ngư vĩ, thì trong một tháng người ấy tốt nhất nên chuyển đến hướng Đông Bắc. Nếu màu ấy xuất phát từ khóe mắt bên trái thì đi về hướng Tây Bắc nhất định có vinh quang. Chóp mũi phát đỏ thì thăng quan; nếu hiện đỏ tía thì có thể mất quan vị và gặp nhiều việc không may. Ấn đường phát trắng thì cha mẹ vận mệnh chẳng dài; màu giống gan ngựa là điềm đoản mệnh. Gò má hiện tím sáng mới thì người ấy có thể thành đại tướng, trong một năm thăng lên chính quan, cùng quan võ trấn thủ biên cương.

Ấn tín vàng đỏ, đỗ đạt trong thi cử

Ấn tín hiện vàng đỏ thì người ấy có thể đỗ cử nhân trong thi cử, nhưng chỉ giữ chức quan nhỏ. Muốn đứng đầu bảng nhất định hát xướng phải phát đỏ. Nhân trung phát vàng rồi đi xuống ngang với sơn căn và chóp mũi thì người ấy muốn thăng quan phải tăng tốc, trong ba mươi ngày có thể biết kết quả. Sơn căn và địa các hiện tím đỏ thì nhất định có chuyện vui.

Còn nếu một người khi không có việc gì cũng bực tức, trên mặt có khí sắc ảm đạm như người say, hai mắt có quầng đỏ lại hiện màu đen sáng, thì chắc chắn họa đã đến gần. Nếu mạch tượng cũng chứng thực như vậy thì nên sớm đi khám.

Dưới mắt xanh thì buồn bực phiền não

Với người dân thường, những lời báo gần gũi và dè dặt hơn.

Dưới mắt, đầu mày và mặt mà hiện xanh thì cha mẹ có thể vì con cái mà bị thương, đau khổ sầu bi. Dưới mắt trái phải hiện trắng thì trong nhà nhất định có tang; hiện xanh thì có chuyện ưu sầu; hiện đỏ thì bị người khác kiện cáo. Niên thượng hiện vàng lại lấn sâu vào miệng thì trong mười lăm ngày có thể thăng quan. Hình ngục phát đỏ, lại đi từ bên tai ngang qua đuôi mắt thì trong mười bốn ngày phải đề phòng ngã xuống nước bị thương. Từ bên tai đến đuôi mắt đều xanh thì trong mười bốn ngày có thể gặp họa về nước hoặc sét đánh, lại phải cẩn trọng việc công, bằng không họa kéo đến liên tiếp.

Ấn đường trắng xanh là điềm hung

Khoảng giữa mặt hiện trắng xanh thì trong bốn mươi ngày phải đề phòng chuyện thê tử; ấn đường cũng như vậy. Ấy là điềm hung họa, nhất định có anh em qua đời khiến cha mẹ đau lòng thương khóc. Màu đen ở mép miệng kéo dài đến giữa tai thì khó bảo toàn tính mạng. Nguyệt giác hiện đen thì trong ba mươi ngày có đại họa. Nhật giác và nguyệt giác đều hiện xanh thì trong mười ngày có thể gặp tai họa.

Khóe mắt trái có màu đen thành hàng, chủ đoản mệnh

Khóe mắt bên trái hiện màu đen thành hàng thì trong bốn mươi đến một trăm ngày có thể tử vong; nếu khóe mắt bên phải cũng như vậy thì vợ và cha mẹ trong hai mươi mốt ngày phải đề phòng bị sát hại. Phía trên nhật giác hiện xanh thì trong mười ba ngày buồn phiền vì thoái chức mất tiền, lại phải đề phòng mất trộm trâu ngựa. Bên trái hình ngục hiện xanh thì trong bảy mươi ngày phải đề phòng hình hại. Thiên đình hiện xanh thì có thể bị đi đày. Thiên trung phát xanh thì khó giữ mạng. Ấn tín hiện xanh tụ về vùng khóe mắt hai bên thì vợ con có đại họa. Trung dương hiện đen xanh thì tai họa của cha mẹ được miễn trừ. Mắt trái của thai phụ hiện xanh thì thai là con trai; thương khố hiện vàng xanh thì thai là con gái.

Phát tế hiện tím thì người ấy phú quý

Phát tế và tam nguyên hiện tím thì người tu hành được ban chương, người thường một đời khá giả, người nữ thì càng phú quý. Ở nữ giới, nếu những chỗ ấy hiện đen thì khó bảo toàn tính mạng; hiện trắng thì trong nhà có tang; hiện xanh thì có thể phát sinh tai họa; hiện vàng đậm thì có chuyện vui, ứng trong mười bốn ngày; hiện vàng nhạt thì có chuyện vui trong một tháng tới; hiện vàng đỏ hơi nhạt thì anh em có chuyện vui, hoặc người thân được thăng quan. Từ ấn đường đến tử cung đều hiện vàng thì không những sinh quý tử mà luôn bình an. Tam dương phát tím thì người ấy nhất định làm quan ở tam đài. Trên mũi hiện vàng đỏ thì có tài trời cho, lại có chuyện vui. Lông mày và kim quỹ hiện vàng đỏ thì có thể được tiền tài từ vợ con.

Tướng lạ của Sát Trạch trước mắt Đường Cử

Đường Cử, người nước Lương thời Chiến Quốc, nổi danh về tướng thuật và để lại nhiều sách tướng pháp. Tướng pháp của ông chuẩn xác đến kỳ lạ, nhưng ông ít khi dễ dàng nhận lời xem tướng cho người khác. Danh tiếng ông vang dội, thành bậc quyền uy trong tướng số, đến mức người đời sau mượn danh ông viết thành không dưới mười mấy bộ tướng sách.

Ông từng xem tướng cho Sát Trạch và nói rằng: tiên sinh sinh ra lỗ mũi hếch lên, vai cao, cổ thô, như khi chun mũi lại, sống mũi và lông mày dồn lại với nhau, hai chân đi như cưỡi ngựa; ấy là dị tướng hiếm có. Về sau, Sát Trạch quả nhiên trở thành tể tướng nước Tần.

Trán có nếp ngang vàng đỏ thì có quan chức

Từ mắt đến khóe mắt mà liên tiếp có nếp ngang vàng đỏ thì trong năm mươi ngày gặp khó khăn. Thê bộ và vùng quanh mắt có nếp ngang vàng đỏ dài thì sắp kết hôn. Trán thường có nếp ngang vàng đỏ thì sắp thăng quan, bạn bè cũng có thể phát tài. Nhân trung, biên địa, ấn tín, chóp mũi, đình úy và niên thọ đều thường xuyên có nếp ngang vàng đỏ thì có quan chức; nếu tư không hiện đỏ thì nhanh chóng được hưởng lộc trời. Ấn đường bỗng nhiên hiện đỏ thì trong tám mươi ngày nhận được thư từ nơi xa. Trù táo phát đỏ thì phải đề phòng cháy nhà. Mùa thu mà trên mặt hiện màu xanh to như hạt ngọc, nhỏ như vết rỗ thì là điềm tranh chấp với người khác.

Khí sắc cát hung của bậc tăng đạo

Các nhà tướng thuật xưa cho rằng khí sắc của người tu hành và người thường chẳng khác nhau, cát hung họa phúc đều đến theo nhiều lối. Thương khố hiện vàng thì người tu hành được phúc khí, thăng chức mặc áo tím; người làm quan lên chức nhị phẩm; dân thường phát tài. Giáp quỹ hiện đen thì dù là tăng đạo hay dân thường đều có điều không cát lợi. Thừa tương của quan văn hiện xanh thì phúc khí không thường xuất hiện; xương lưỡng đình và phần cổ của tăng nhân hiện xanh thì không được bình an. Thiên đình hiện tím thì quan viên nhanh thăng tiến, người nắm binh quyền được chức quan võ, tăng nhân hay dân thường nhiều may mắn. Chóp mũi hiện trắng thì quan viên chỉ làm quan ở quê nhà, còn tăng đạo thì khó có phúc khí.

Khí giữ năm năm, sắc giữ ba năm

Khí có thể tích tụ năm năm, sắc có thể tích tụ ba năm. Sắc là tinh hoa của khí, là hơi thở của thần. Khi đã tích tụ đủ ba năm thì sắc sẽ tan đi. Hình tướng tuy tốt mà sắc loạn, cốt tướng tuy tốt mà khí loạn thì thật đáng tiếc; nếu đợi trên mười năm mà khí sắc vẫn đều loạn, người ấy có thể theo sắc mà được quý.

Khí sắc có thể u ám, có thể loạn tạp, có thể hư phù, có thể biến hóa, có thể suy bại; tất cả đều là tử khí. Nơi khí sắc phản ứng nhanh nhất của con người là chóp mũi và thiên đình; hai bên trái phải của lông mày nếu được chính sắc, lại có hình tướng không tương khắc thì sẽ không bị ứ trệ. Kỵ nhất là tạp sắc che lấp những chỗ ấy. Cũng không nên hoàn toàn vô khí, nhưng nên như đám mây làm nền cho mặt trời thì mới quý; hoặc trong cốt pháp còn khí sắc có thể thu nhận. Khí sắc phát ra mà không bình thường thì có tai họa, và tai họa kéo đến cũng rất nhanh, liên tiếp.

Muốn xem khí thì phải xem sắc trước

Hai chữ khí và sắc nghe liền nhau, nhưng thứ tự nhìn thì không thể đảo.

Muốn quan sát khí thì phải xem sắc trước tiên, sai một ly là đi một vạn dặm. Tốt nhất là lấy năm phương mà xét thời tiết khí hậu và thời gian, để định cái vui cái buồn, cái sống cái chết; như vậy mới là học vấn cao nhất. Hình là sắc trạch của các mạch trên mặt, nhất định phải quan sát theo thời gian. Nếu chỉ xem một điểm rồi suy cát hung thiện ác thì phần lớn là hung nhiều cát ít; phải xét ở chỗ biến hóa mới thấy được cái chân thực. Nếu vừa thấy đã đáp ngay thì sẽ phiến diện. Ngũ sắc cũng suy đoán theo cách ấy.

Giờ nào chính sắc nấy

Giờ Dần, Mão thì chính sắc là xanh vàng. Giờ Tỵ, Ngọ thì chính sắc là đỏ vàng. Giờ Thân, Dậu thì chính sắc là trắng vàng. Giờ Hợi, Tý thì chính sắc là đen vàng. Nếu ở những giờ ấy mà hiện ra không phải chính sắc thì người ấy gặp chuyện phải lo lắng.

Hai đường mạch dưới lông mày

Hai đường mạch chạy từ lông mày xuống dưới: nếu sắc mặt xanh thì người ấy có bệnh; nếu đỏ thì có hình thương; nếu đen thì vận mệnh chẳng dài. Trên mặt hiện xanh đen thì khó sống quá một trăm ngày; hiện trắng thì vận mệnh cũng không dài; hiện tím lại điểm màu đen thì là điềm đoản mệnh.

Mạch sắc ứng với thời tiết đều đi từ thiên trung thẳng xuống, gồm bốn tháng; đến lông mày là tam đình, tổng cộng mười hai tháng. Từ đó biết được tháng nào hiện mạch sắc nào, ứng vào đình nào. Một năm mười hai tháng chia làm bốn quý; tháng thứ ba của mỗi quý nằm ở hai bên, tháng thứ nhất và thứ hai nằm ở giữa. Tam đình vì vậy ứng với mười hai tháng.

Mạch khí giữa tóc mai và trán mà hiện xanh giao nhau thì người ấy nghèo hèn lại dễ gặp tai họa. Nếu hiện vân đỏ thì có đại quý nhưng đoản mệnh. Còn phải phân biệt da láng mịn với da khô: da láng mịn thì không có chuyện ưu phiền, da khô thì phải lao tâm.

Xem mạch sắc xuất phát từ đâu để đoán quan vận

Muốn biết một người có thực lộc làm quan hay không thì phải xem khí sắc của người ấy xuất phát từ đâu. Nếu xuất phát từ vị trí du hành thì có thể làm quan; nếu ở đó lại hiện vân đen thì không hợp làm quan, bằng không gặp tai họa.

Khi một người mở miệng nói, mạch sắc bắt đầu hiện mà mặt cũng cử động theo thì tất có hung họa, cuộc sống nghèo khó, vận mệnh chẳng dài. Nếu hiện đỏ thì khó bảo toàn tính mạng; hiện trắng thì nhất định bị người hầu khắc hại; hiện xanh thì ngày ngày gặp chuyện ưu phiền, cuối cùng cũng khó giữ mạng. Dù hiện vàng thì cũng chưa chắc là có quý, nhưng ít ra giữ được tính mạng.

Mạch lạc nổi lên thì thiếu thời khí sắc không đủ

Khuôn mặt là sự biểu hiện bên ngoài của cơ thể, tóc là ngoại diện của máu. Khuôn mặt xiên lệch thì người ấy có thể sớm mồ côi cha mẹ; tóc bị tổn khuyết thì anh em cốt nhục phân ly. Huyết khí của người nào không đủ thì anh em cốt nhục phản lìa; mặt xiên lệch thì cát hung phải căn cứ từng tình huống mà xét.

Mạch trên mặt nổi lên gần như nhìn thấy được thì người ấy lúc trẻ khí sắc không đủ, lúc già có thể mắc bệnh bại liệt. Khí sắc xanh đỏ thì khó sống quá một trăm ngày; vàng thì nghèo hèn suốt đời lại đoản mệnh; trắng thì vất vả lao lực. Những điều này không liên quan đến da láng hay da khô.

Mười một vì sao và chín ngôi sao trên gương mặt

Mỗi vị trí trên mặt còn mang tên một vì sao trên trời.

Mười một vì sao trên mặt: trán là sao Hỏa, ấn đường là sao Tử khí, sơn căn là sao Nguyệt bột, mũi là sao Thổ, lông mày trái là sao La hầu, lông mày phải là sao Kế đô, mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng, tai trái là sao Mộc, tai phải là sao Kim, miệng là sao Thủy. Nếu chia theo chín vì sao thì mũi là sao Kim, mắt là sao Mộc, tai là sao Thủy, miệng là sao Hỏa, mặt là sao Thổ, xương hàm trái là sao La hầu, xương hàm phải là sao Kế đô, lông mày là sao Tử khí, nhân trung là sao Nguyệt bột.

Về sinh, vượng, tử của năm màu: màu xanh thuộc Mộc, sinh ở Hợi, vượng ở Mão, tử ở Mùi. Màu đỏ thuộc Hỏa, sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, tử ở Tuất. Màu trắng thuộc Kim, sinh ở Tỵ, vượng ở Dậu, tử ở Sửu. Màu đen thuộc Thủy, sinh ở Thân, vượng ở Tý, tử ở Thìn. Màu vàng thuộc Thổ, sinh ở trung ương, có mặt trong cả bốn mùa, ký ở Bính Đinh, vượng thịnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Sáu tháng đầu năm: màu nào hiện thì báo điều gì

Tháng Giêng, khí sắc hiện vàng thì trong ba ngày có chuyện vui mừng; hiện đỏ đục thì trong bảy ngày phải đi xa. Tháng Hai, hiện trắng đậm thì trong mười hai ngày có chuyện vô cùng thương tâm; hiện màu khác thì cuộc sống bình thường. Tháng Ba, hiện đỏ thì có tin mừng; hiện xanh thì cha mẹ vận mệnh chẳng dài. Tháng Tư, hiện vàng đỏ thì trong bảy ngày có quan vị, vợ cũng có tin mừng. Tháng Năm, hiện tím thì trong ba tháng phát tài. Tháng Sáu, hiện xanh thì phá sản, trong mười ngày còn gặp chuyện buồn về vợ.

Sáu tháng cuối năm

Tháng Bảy, khí sắc hiện đỏ thì phát tài; hiện xanh thì trong bảy ngày gặp nhiều tai ương khó giải. Tháng Tám, hiện trắng thì cha mẹ và anh em khó bảo toàn tính mạng. Tháng Chín, hiện đen thì trong ba ngày gặp họa lao ngục, tiền tài cũng phá bại. Tháng Mười, hiện vàng thì trong mười ngày phát sinh chuyện thương tâm. Tháng Mười một, hiện trắng thì trong hai mươi ngày có tài sản, ruộng đất nhiều. Tháng Mười hai, hiện trắng thì trong hai mươi mốt ngày phải đề phòng anh em gặp tai họa; hiện đỏ thì là tốt nhất; hiện xanh thì có việc quan sự.

Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp