Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Hai mươi bốn hình khí sắc và điềm thăng quan, mất chức

Đạo Học - Tướng Pháp05/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Hai mươi bốn hình khí sắc và điềm thăng quan, mất chức

Có khí sắc hiện như hạt táo, có khí sắc cuộn như con tằm, có khí sắc cong như cánh cung; mỗi hình mang một ngày ứng nghiệm riêng, chuyện mừng và chuyện lo cách nhau chỉ vài ngày. Hai mươi bốn hình ấy, đặt vào từng chỗ trên mặt, nói những gì...


Khí sắc cũng có hình dạng, và mỗi hình báo một chuyện

Người thuận hòa với khí hậu thì gặp chuyện mừng, người đi ngược khí hậu thì gặp chuyện buồn. Khí sắc trên mặt khi đổi thay thường hiện thành những hình dạng nhất định, và mỗi hình có ngày ứng nghiệm riêng cho điềm lành lẫn điềm dữ. Có tất cả hai mươi bốn hình.

Sóng nước, viên ngọc, hạt táo, rễ cỏ: tin tiền tài và nỗi lo quan phủ

Hình sóng nước là khí sắc giống hình sóng nước. Điềm mừng ứng trong hai mươi mốt ngày, vợ người ấy có chuyện vui liên quan đến tiền tài. Điềm buồn ứng trong hai mươi tám ngày, vợ gặp tai nạn về sông nước.

Hình viên ngọc là khí sắc giống hình viên ngọc. Điềm mừng ứng trong năm ngày, người ấy nhận được tin về tài lộc. Điềm buồn ứng trong hai mươi ngày, người ấy bị một phen hú vía.

Hình hạt táo là khí sắc giống hình hạt táo. Điềm mừng ứng trong bốn giờ, người ấy được thanh danh lại có quan lộc. Điềm buồn ứng trong mười tám ngày, người ấy gặp họa mất chức.

Hình rễ cỏ là khí sắc giống hình rễ cỏ. Điềm mừng ứng trong một ngày, người ấy có danh, lộc, vị và được thêm tiền tài. Điềm buồn ứng trong hai ngày, người ấy có nỗi lo liên quan đến quan phủ và họa đổ máu.

Hình rễ cỏ hướng lên trên là khí sắc giống hình rễ cỏ hướng lên trên. Điềm mừng ứng trong bốn giờ, người ấy nhận được tin may mắn. Điềm buồn cũng ứng trong bốn giờ, người ấy gặp chuyện kinh hãi liên quan đến tai họa về lửa và máu.

Mây trôi, hai con cá, hạt thóc: thăng cấp, thanh danh, bệnh tim bụng

Có hình bay lên như mây, có hình quẫy dưới nước như cá, có hình nhỏ bé như hạt thóc.

Hình mây trôi là khí sắc giống hình mây trôi. Điềm mừng ứng trong hai mươi mốt ngày, người ấy được đề bạt thăng cấp. Điềm buồn ứng trong bảy ngày, người ấy gặp tai họa lớn.

Hình hai con cá là khí sắc giống hình hai con cá. Điềm mừng ứng trong ba mươi sáu ngày, người ấy được thăng quan. Điềm buồn ứng trong hai mươi bảy ngày, người ấy gặp tai họa liên quan đến sông nước.

Hình hạt thóc là khí sắc giống hình hạt thóc. Điềm mừng ứng trong bốn mươi chín ngày, người ấy được nâng cao thanh danh và lộc vị. Điềm buồn ứng trong hai mươi mốt ngày, người ấy có bệnh về tim và bụng.

Tia sáng từ ngọc, tơ tằm, ngòi bút, cánh cung: chức quan lên xuống

Hình tia sáng phát tán từ ngọc là khí sắc giống hình tia sáng phát tán từ ngọc. Điềm mừng ứng trong hai mươi mốt ngày, người ấy được thăng quan tiến chức. Điềm buồn ứng trong mười bốn ngày, người ấy bị giáng chức.

Hình tơ tằm là khí sắc giống hình tơ tằm. Điềm mừng ứng trong mười bốn ngày, người ấy gặp vận may lớn. Điềm buồn ứng trong mười ngày, người ấy mất tiền của.

Hình ngòi bút dựng đứng là khí sắc giống hình ngòi bút dựng đứng. Điềm mừng ứng trong hai mươi bảy ngày, người ấy có tin vui về văn tự. Điềm buồn ứng trong hai mươi bốn ngày, người ấy gặp họa kiện tụng.

Hình cánh cung là khí sắc giống hình cánh cung. Điềm mừng ứng trong ba mươi sáu ngày, người ấy lập công mà được thăng chức. Điềm buồn ứng trong hai mươi bảy ngày, người ấy gặp họa mất chức.

Tóc rối, chuỗi ngọc, rồng, hoa mai, vảy rồng: từ thư báo tin đến con cháu

Thư đến nhanh như tóc rối, lộc đến liền ba bậc như chuỗi ngọc, danh vang như vảy rồng.

Hình tóc rối là khí sắc giống hình tóc rối. Điềm mừng ứng trong ba ngày, người ấy sớm nhận thư báo tin vui. Điềm buồn ứng trong một ngày, người ấy gặp chuyện phiền nhiễu về tố tụng.

Hình chuỗi ngọc là khí sắc giống hình chuỗi ngọc. Điềm mừng ứng trong bốn mươi tám ngày, người ấy được thăng chức liên tiếp ba lần, lại có lộc cao. Điềm buồn ứng trong ba mươi hai ngày, người ấy mất của hoặc mắc bệnh nặng.

Hình con rồng là khí sắc giống hình rồng. Điềm mừng ứng trong hai mươi mốt ngày, người ấy được đề bạt. Điềm buồn ứng trong mười bốn ngày, người ấy gặp nạn chiến tranh.

Hình hoa mai là khí sắc giống hình hoa mai. Điềm mừng ứng trong khoảng ba mươi ngày, người ấy có con có cháu. Điềm buồn ứng trong một quý, con cháu người ấy mắc bệnh mà chết.

Hình vảy rồng là khí sắc giống hình vảy rồng. Điềm mừng ứng trong hai mươi tám ngày, thanh danh vang khắp thiên hạ. Điềm buồn ứng trong ba mươi lăm ngày, người ấy gặp tai họa về nước và lửa.

Đuôi phượng, ngọc ấn, ngọn lửa: danh vị và tai họa đổ máu

Hình đuôi phượng là khí sắc giống hình đuôi chim phượng. Điềm mừng ứng trong hai mươi bốn ngày, người ấy thăng quan tiến chức. Điềm buồn ứng trong ba mươi sáu ngày, người ấy gặp tai nạn về chân.

Hình ngọc ấn là khí sắc giống hình ngọc ấn. Điềm mừng ứng trong ba mươi sáu ngày, người ấy được làm quan triều đình. Điềm buồn ứng trong bốn mươi hai ngày, người ấy bị tước chức quan, lại còn chết trong ngục.

Hình ngọn lửa là khí sắc giống hình ngọn lửa. Điềm mừng ứng trong bốn mươi lăm ngày, có tin vui báo đến. Điềm buồn ứng trong mười tám ngày, người ấy gặp nạn đổ máu hoặc bị chết.

Trăng tròn, trăng khuyết, con tằm, mũi kiếm: danh vị, tin lành dữ, của cải, binh đao

Trăng khi tròn, khi khuyết; mỗi dáng trăng mang một tin khác.

Hình trăng tròn là khí sắc giống hình trăng tròn. Điềm mừng ứng trong hai mươi mốt ngày, danh vị hiển đạt. Điềm buồn cũng ứng trong hai mươi mốt ngày, người ấy có bệnh về máu hoặc tử vong.

Hình trăng khuyết là khí sắc giống hình trăng khuyết. Điềm mừng ứng trong ba mươi sáu ngày, người ấy nhận tin lành. Điềm buồn ứng trong hai mươi bảy ngày, người ấy nhận tin dữ.

Hình con tằm là khí sắc giống hình con tằm. Điềm mừng ứng trong sáu mươi ba ngày, người ấy được tiền của đến. Điềm buồn ứng trong năm mươi bốn ngày, người ấy mất tiền của.

Hình mũi kiếm là khí sắc giống hình mũi kiếm. Điềm mừng ứng trong hai mươi bảy ngày, người ấy thành danh nhờ võ công. Điềm buồn ứng trong mười tám ngày, người ấy gặp họa binh đao.

Xem khí sắc phải xét cả vị trí, thời gian và hình thể

Hai mươi bốn hình khí sắc kể trên khi xem tướng phải dùng mắt quan sát thật kỹ: đầu hay cuối, trên hay dưới của bộ phận nào, phương vị nào, vào thời gian nào, màu sắc và hình dạng ra sao, lại thêm tình hình hình bộ và niên vận, trong ngoài đều nghiên cứu kỹ, như vậy mới ứng nghiệm. Chuyện mừng chuyện lo ứng sớm hay muộn cũng phải tùy theo hình khí nhanh hay chậm mà xét.

Khí hồng, vàng, tím và bốn mùa tiết khí

Khi khí hồng, vàng, tím cùng hiện thì ứng với khí hậu vào các ngày: sau tiết Thanh minh ba ngày, sau Cốc vũ năm ngày, sau Tiểu thử ba ngày, sau Đại thử chín ngày, sau Hàn lộ bốn ngày, sau Sương giáng tám ngày, sau Tiểu hàn tám ngày, sau Đại hàn mười ngày.

Khí màu xanh ứng sau Lập xuân một ngày, sau Vũ thủy hai ngày, sau Kinh trập ba ngày, sau Xuân phân bốn ngày. Khí màu đỏ ứng sau Lập hạ hai ngày, sau Tiểu mãn bốn ngày, sau Mang chủng bảy ngày, sau Hạ chí chín ngày. Khí màu trắng ứng sau Lập thu bốn ngày, sau Xử thử sáu ngày, sau Bạch lộ năm ngày, sau Thu phân bảy ngày. Khí màu đen ứng sau Lập đông ba ngày, sau Tiểu tuyết năm ngày, sau Đại tuyết sáu ngày, sau Đông chí tám ngày.

Cát hung của mệnh người ứng với khí hậu như thế đều có số định sẵn, còn phải xét âm dương thuận nghịch ra sao mới suy đoán được.

Khí sắc báo thăng quan, đắc lộc: hình rồng, ngọc ấn, rễ cỏ hướng lên

Cùng là một hình, đặt vào chỗ khác nhau trên gương mặt thì thành điềm khác nhau.

Đế tọa hiện vàng tím như hình vảy rồng, ngòi bút thì người ấy được yết kiến hoàng đế. Tư không hiện đỏ vàng như hình ngọc ấn, chuỗi ngọc thì được làm quan. Ty thượng và ty hạ hiện vàng tím như hình rễ cỏ hướng lên thì được thăng quan. Lộc thương hiện đỏ tím như hình hạt táo, hai con cá thì có lộc vị. Thần quang hiện vàng trắng như hình mũi kiếm, cánh cung thì được nhậm chức. Nhật giác và nguyệt giác hiện tím như hình mây trôi và hình rồng thì đỗ đầu trong thi cử.

Dịch mã hiện xanh tím như hình trăng tròn thì được điều động làm quan. Hình ngục và ấn tín hiện tím như ngòi bút thì nhận chức thường. Ty thượng, ty hạ hiện đỏ vàng như chuỗi ngọc thì được đề bạt. Thương khố hiện tím như sóng nước thì giàu có. Ty tiểu, ty đại, ty thượng, ty hạ hiện tím đỏ như ngọc ấn thì được tấu nhạc cho vua. Biên địa hiện đỏ hoặc trắng như đao kiếm, ngọn lửa thì được dụng võ.

Màu sắc đem may mắn: ruộng đất, phụ tá, miễn tội, chiếu cáo

Chóp mũi và quyền án hiện vàng tím như viên ngọc thì người ấy được hưởng quý về đất đai. Phụ giác hiện vàng như hình trăng nằm ngửa thì trở thành người phụ tá. Ty hạ, ty thượng và đế tọa hiện trắng như hình rồng thì được miễn tội. Đế tọa hiện đỏ vàng như đuôi phượng thì nhận được văn thư truyền đến. Lộc thương và tư không hiện tím như hạt thóc thì nhận chiếu cáo. Biên địa và ấn tín hiện đỏ như viên ngọc thì nhận thư gửi đến từ biên cương.

Chuyện xưa kể rằng Khổng Tử cùng các học trò chạy nạn, bị lạc nhau. Tử Cống tìm khắp nơi thì gặp Cô Bố Tử Khanh. Ông nói: ở thành phía đông có một ông lão, trán giống vua Nghiêu, cổ giống Cao Dao, vai giống Tử Sản, từ lưng đến chân so với tướng Đại Vũ thì ngắn hơn ba tấc, dáng vẻ vô cùng mệt mỏi, có lẽ là Khổng Tử. Tử Cống vội vàng đến đó, quả nhiên đúng là thầy mình. Người đời sau tôn Cô Bố Tử Khanh làm ông tổ của tướng thuật.

Màu sắc lành dữ lẫn lộn: thư mừng, thư buồn, mất ấn, mất chức

Ấn tín và sơn lâm hiện vàng như hình ngòi bút thì nhận thư báo tin vui. Dịch mã và chóp mũi hiện đen như hình trăng nằm ngửa thì nhận thư báo tin buồn. Từ ấn đường đến tư không hiện đỏ như hình tia sáng phát ra từ ngọc thì bị tước ấn quan. Thực thương hiện xanh đỏ như hình tóc rối thì mắc bệnh nặng. Lộc khố, quyền, ấn đường hiện đỏ như hình mây trôi thì mất chức. Trên dưới thần đình và kim quỹ hiện xanh đen như hình cánh cung thì bị bãi miễn chức quan.

Trung bộ hiện khí sắc đỏ như hoa mai thì người ấy được phò tá thiên tử trong triều. Hạ bộ hiện đỏ trắng như hình con tằm thì giữ chức ngoài đô thành. Gia mộ hiện đỏ thì phần mộ tổ tiên bị động. Cằm hiện xanh đỏ thì nhà bị động. Chóp mũi và hát xướng hiện đỏ như ngòi bút thì có kiện tụng với người khác. Chóp mũi và lông mày hiện đỏ như viên ngọc, rễ cỏ thì gặp họa.

Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp