Bài tổng quan
Mày, mắt, tai, mũi, miệng và những dáng vẻ khác thường của ngũ quan
Thầy tướng bảo Tô Đông Pha rằng ông có đôi mắt học sĩ, nửa đời sẽ hiển vinh. Còn bao nhiêu dáng mắt, dáng mày, dáng tai, dáng mũi và cái miệng mang hình loài vật khác, mỗi dáng một kết cục riêng...
Lông mày: dài ngắn, thưa rậm, hào mày và gò mày
Mi tướng là tướng của lông mày. Từ đôi mày có thể đoán cát hung phúc họa cả đời; hai hàng mày còn gọi là cung Báo thọ và cung Huynh đệ. Lông mày mảnh, bằng, rộng, thanh tú và dài là dấu của người thông minh. Mày thô, thưa, mọc ngược, loạn và ngắn là điềm ngu độn. Mày dài qua mắt thì giàu sang, ngắn không qua mắt thì ít của cải. Mày ép sát thì quẫn bách; mày ngang thì khí cứng cỏi; mày dựng đứng thì hào sảng; đuôi mày tán loạn thì cô độc, bần khổ; mày giao nhau thì nghèo, đoản mệnh; trong mày có xương nổi là mạnh bạo; mày cao nằm giữa trán thì rất sang; giữa mày có sợi lông trắng là tướng đoạn mệnh; mày thưa gần như không có thì thường gian xảo.
Mi quá mục là lông mày dài che khuất mắt, người ưa văn vẻ. Mi hào, cũng gọi thọ hào, nguyên hào, mi thọ, là sợi lông dài mọc lẫn trong mày, dài hơn một tấc; điềm trường thọ. Sách còn chép tên nhị tước hào. Mi gian nhất thước là khoảng cách hai chân mày rộng một thước; truyền rằng thời Xuân Thu, Ngũ Tử Tư có tướng mày ấy. Mi lăng là một chỗ rất nhỏ trong lông mày đột nhiên nhô lên, tượng trưng cho chí khí.
Mi sát là lông mày không hoàn chỉnh hoặc không cân xứng, hoặc có nốt cắn, không trơn hoặc thưa thô, đều không tốt. Mi vĩ chỉ đuôi chân mày; đuôi tán loạn thì khó tụ tài, khó tích của. Mi vũ chỉ đuôi lông mày không ngay ngắn, thường là người khoáng đạt, rộng rãi. Thụ mi là lông mày mọc dựng đứng, tính nóng gấp, thần thái dũng mãnh nhưng ít kết quả tốt.
Nhất tự mi là lông mày hình chữ nhất. Người có tướng mày ấy giàu và thọ, phúc lộc vẹn toàn; Thần tướng toàn biên chép lông mày thanh tú, đầu và cuối như cái vung, giàu sang phú quý, thọ lâu. Cũng có nơi chép xương chẩm sau đầu thành hình chữ nhất, chủ về ngay thẳng, thành tín; và lông mày hình chữ nhất chủ thành tín, tính cứng cỏi mà sang quý. Nguyên hào là tên khác của sợi lông dài trong mày.
Đôi mắt: thần thái, hình dáng và cái nhìn
Nhất thốn chi nhãn, cái tấc của mắt: câu truyền khẩu nói mặt hai thước chẳng bằng mắt một tấc. Đôi mắt được coi là cửa sổ của tâm hồn, xem mặt quan trọng nhất là xem mắt, từ đó biết tính cách. Mâu tử là con ngươi, nơi người xưa cho là phản ánh hoạt động tâm lý, nên thầy tướng rất coi trọng thần thái của con ngươi. Mộc tướng cũng nói về đôi mắt: căn cứ thần thái đôi mắt mà biết thần khí và tâm tính.
Các dáng mắt giống loài vật: Mã mục là mắt ngựa, to nhưng thần thái tối tăm, không sáng; cả đời vận mệnh vất vả long đong, lao khổ. Ngưu mục là mắt trâu; truyện ghi người xem tướng Chú nói Vương An Thạch có mắt trâu, nhìn như hổ, nhìn sắc bén, nghĩ và làm rất nhanh, đảm đương việc lớn. Ngưu nhãn là mắt vừa to vừa tròn nhưng không trợn, không phẫn nộ, điềm phúc thọ; Thần tướng toàn biên chép: mắt to tròn, nhìn xa nhìn gần đều rõ, của tiền vô số, thọ lâu phúc dài. Xà mục là mắt rắn, tròn nhỏ, màu vàng, hay ngước lên; người này đố kỵ, ganh ghét, hay có tâm hại người. Dương mục là mắt dê, tròng đen cạn, mày vàng, cúi đầu mà liếc xéo, hai mắt không có thần. Thử mục là mắt chuột, nhỏ và đen, có quầng mờ, thường gian xảo. Trư mục còn gọi trọc tà thị, là mắt có thịt dày bao quanh, tâm độc ác và đa tình. Ưng thị là mắt chim ưng, hung ác tham lam, có thể cùng chia hoạn nạn nhưng không thể cùng hưởng phú quý.
Bát giác nhãn là mắt hình tám góc, tâm địa không tốt; Thần dị phú nói mắt tám góc độc ác như sói, chủ cô độc. Túy nhãn là thần thái mắt mê muội, rũ rượi như say, không tốt. Học sĩ nhãn là mắt chủ quý hiển; truyền rằng Tô Đông Pha có mắt ấy, thầy tướng bảo ông mắt học sĩ, nửa đời hiển vinh. Trùng minh hay trùng đồng là mắt có hai con ngươi trong một mắt, dị tướng, người ấy trời phú tài lạ, có thể lập phép cho người noi theo, xuất khẩu thành chương. Tứ mục là người cao mà có bốn mắt, cũng dị tướng. Thái dương chỉ mắt trái, nên sáng và ngay thẳng. Ngọa tằm là phần dưới lệ đường có thịt đầy đặn như con tằm nằm.
Thị tướng là tướng cách nhìn. Cổ nhân cho rằng nhìn lên thì cao quý, nhìn xuống thì ác độc, nhìn xa là người hiền, nhìn gần là người ngu, nhìn bình thường là người có đức; nhìn lệch, liếc thì hay trộm cắp, nhìn loạn thì phong lưu đa tình. Thầy tướng đời sau không còn quá coi trọng phép này. Mắt giống mắt thú thì tính tình theo thú.
Các cách nhìn riêng: thị nhật bất tuấn là nhìn mặt trời không chớp mắt, tướng sang. Thị thượng vu diện là ánh mắt ngang bằng với mặt người đối diện, thường cao ngạo, không coi ai ra gì. Thị hạ ngôn từ là nhìn ủ rũ, giọng nói không sức, thần khí không đầy, không thọ. Thị hạ vu đới là nhìn xuống ngang lưng người khác, hay ưu sầu. Thị khuynh là cái nhìn lệch lạc, người ấy gian dối. Thị chiêm bất chuyển là nhìn chằm chằm, ý chí mạnh mẽ. Trư thị là mắt lấm la lấm lét, tâm bất chính, tham lam, đa tình. Vọng dương hay vọng viễn, như nhìn xa, người có chí lớn. Vọng đao nhân còn gọi phán đao hay miến đao, là cúi đầu mà mắt nhìn lên, không đẹp; miện đao cũng giống vậy. Đồng miến là nhìn thẳng mà liếc lệch, thường bất chính, tướng mắt thấp kém. Kinh nhãn và túy nhãn có chung vẻ bất an và mê muội.
Đôi tai: dáng quý, dáng hung
Lộc nhĩ là tai hươu, lỗ tai như đóa sen kết lại; người có tai hươu tuy nghèo khổ nhưng vẫn vui vẻ. Kỳ tử nhĩ là lỗ tai tròn, vành quách rõ ràng, sự nghiệp giàu sang. Thiếp não nhĩ là tai ép sát vào đầu, cao thẳng ngang mày, tướng giàu sang. Thọ tinh cũng chỉ tai; tai dày, dài, ép sát đầu thì chủ thọ. Phiến phong nhĩ, còn gọi đầu phong nhĩ, là tai có luân quách nghiêng về phía trước như cái quạt gió, dễ gặp họa phá tài.
Trư nhĩ là tai lợn, to nhưng không có luân tai, không có thùy châu; người ngu độn, tham lam. Thử nhĩ là tai chuột, có quách mà không có luân; người đa nghi, giỏi kiếm tiền tích của. Tam lậu nhĩ là tai có ba lỗ, dị tướng. Tứ phản gom những dáng xấu: tai không luân không quách, miệng không góc cạnh, lỗ mũi hếch, mắt không thần. Giang độc như người xưa nói là hai tai; còn mệnh môn chính là lỗ tai.
Mũi: sống mũi, chóp mũi, cánh mũi
Thẩm biện quan chỉ mũi, một trong ngũ quan; sống mũi ngay thẳng, ấn đường bằng phẳng rộng rãi, sơn căn nối liền ấn đường, vùng niên thọ cao rộng, chóp mũi tròn như túi mật treo hoặc như ống trúc cắt ngang, sắc vàng tươi sáng. Thổ tú là sao Thổ trong ngũ tinh, dùng chỉ mũi; tiên nguyên cũng chỉ mũi.
Sư tỵ là mũi sư tử: sống mũi thấp bằng nhưng chuẩn đầu tròn đầy, giàu sang nhiều của cải. Huyền đảm tỵ là mũi như túi mật treo, từ ấn đường kéo xuống chuẩn đầu đẹp đẽ, chắc chắn là bậc tôn quý. Toán hình tỵ là mũi củ tỏi: sống mũi bằng nhỏ, chuẩn đầu to thô; người tâm địa thuần chính nhưng bạc tình, già thì sung túc. Ưng chủy tỵ là mũi sống nhọn, chóp nhọn quặp xuống như mỏ chim cắt, lòng ác độc, gian trá. Tam ao tỵ là mũi từ sống đến chuẩn đầu chia thành ba khúc, nghèo khổ, cô độc. Tự điếu sát là mũi gầy, chóp gập khúc, mắt nhìn lệch, một trong ngũ ác sát.
Tiên khố là cánh mũi trái, còn gọi lan đài; Nguyệt ba động trung ký nói mũi thẳng thì sang, có kho thì đầy đủ, nếu hai cánh mũi hồng đầy thì giàu sang. Tục khố là cánh mũi phải, cũng là diên úy, cân xứng với cánh mũi trái. Chữ kim quỹ cũng chỉ hai cánh mũi đầy đặn rõ ràng; Thần tướng toàn biên chép chuẩn đầu tròn, lỗ mũi không lộ, lại có lan đài và diên úy tương ứng thì giàu sang. Chuẩn chỉ mũi nói chung.
Các đường vân bên mũi: túng lý còn gọi pháp lệnh, đằng xà, kim lâu, thọ đới, là nếp vằn chạy từ hai cánh mũi xuống mép miệng; nếu vân chạy vào trong môi thì phần nhiều nghèo đói. Túng lý nhập khẩu chính là trường hợp ấy. Thặng xà tỏa thân cũng là nếp pháp lệnh chạy dài đến môi, như con rắn quấn, ăn uống không đủ, nghèo khó. Ngược lại thọ đới, nếp từ mũi xuống kéo dài đến cằm, và thọ thảo hay hạng thảo, nếp pháp lệnh kéo xuống dưới hạ đình tới cằm và ngấn cổ, là điềm trường thọ.
Miệng, môi, răng và lưỡi
Mã khẩu là miệng ngựa, tướng miệng như rách to ra; người hay ghen tị, đố kỵ, tham lam, áo cơm không đủ. Điểu uế là miệng như mỏ chim. Thử khẩu là miệng nhọn như miệng chuột, hay đố kỵ, hay phá hoại người. Trư uế, còn gọi hà uế, là miệng dài như lợn, tham lam. Dương khẩu là miệng dê: môi mỏng, miệng nhọn, không râu, hay nghi kỵ.
Miệng tốt thì có loan cung khẩu, hai môi cong như cánh cung, đầy đặn, chủ giàu sang; và ngưỡng cung khẩu hay ngưỡng nguyệt khẩu, hai khóe miệng gấp lên như trăng ngửa, chủ vạn sự hanh thông. Tứ học khẩu là miệng có góc cạnh phân minh như chữ tứ, giàu sang.
Biến xỉ là hai răng cửa dính liền thành một, dị tướng, thường có tài xuất chúng. Thử xỉ là răng chuột, răng trên che răng dưới, tuổi nhỏ gặp trắc trở, nhiều tai ương. Răng bằng chắc và dày cũng là một nét của người thọ.
Thiệt tướng là tướng đầu lưỡi, xem hình, sắc, dày mỏng: lưỡi to thì giàu sang; lưỡi đỏ như son thì thọ lâu và sang; lưỡi có nhiều vằn thì hạ tiện. Tam xuyên văn là đường vằn trong lưỡi hình chữ xuyên, quý tướng; Nhân luận đại thống phú nói ba vằn này đủ thì có điền sản rộng lớn, áo cơm đầy đủ.
Râu, tóc, da lông
Tu nhiêm tướng là tướng râu tóc. Râu trên môi là tu (hoặc tỵ), râu quanh má là râu quai nón (nhiêm), râu dưới cằm gọi là tu; gọi chung là râu ria. Râu phản ánh ý chí, tính cách nên có thể xét hiền ngu, quý tiện. Râu đen thanh tú thì giàu sang; râu bóng trơn thì phúc thọ; râu khô thì trì trệ; râu quăn thì tính cứng cỏi nhưng không giữ được tiền; râu mềm yếu thì nhu thuận; râu đỏ thì cô độc, hình khắc; tóc xoăn mà đỏ thì nghèo khó. Tướng ba mao là xem da lông: da mạnh và béo, tóc lông mềm trơn là người thông minh sáng dạ. Râu không che kín môi, miệng không có ria mép đều bị xếp vào mười điều "không" của Thập đại không vong.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
