Bài tổng quan
Người giống loài thú, hình tướng ngũ hành và mười điều khuyết
Ban Siêu lúc nhỏ được thầy tướng bảo có hàm én đầu hổ, rồi quả nhiên phong hầu nơi biên ải. Người mang dáng rắn, dáng thỏ, dáng voi, dáng gấu hay dáng lợn thì số phận ra sao? Và mười điều khuyết nào khiến một gương mặt thành tướng hèn...
Mục lục · 8 phần
Người giống cầm thú: ba cách so sánh
Tướng học gọi là nhân tượng cầm thú hình cách xem người theo hình dáng loài vật. Phép này nghe đơn giản, dễ hiểu nhưng không thể coi nhẹ: người giống loài nào thì tính cách và vận mệnh cũng gần giống loài ấy. Có ba kiểu giống: giống toàn bộ, như phượng, vịt, hổ, lợn; giống từng phần, như mũi chim ưng, miệng chim én, đầu con hươu, mắt chuột; giống động tác, như ngồi như rồng, chạy như vịt, ăn như sói, nhìn như hổ.
Những hình tướng cụ thể
Xà hình là tướng rắn: mặt dài đầu nhọn, đi đứng uốn éo, đầu ngước cao. Ngũ nhạc thấp ngang với trán, mày nhỏ, mắt dài không có mí, khóe mắt đen nhạt, nhiều thịt màu xanh, miệng rộng môi dài nhợt màu xanh, răng nhỏ và thưa, trán trên to dưới nhỏ, mũi nhỏ dài nhọn. Người này là tướng không tốt.
Sư hình là tướng sư tử: đầu vuông trán rộng, xương sau đầu nhô như núi, thiên đình nhô lên, mày đậm, mắt trắng, con ngươi to đen, sơn căn gãy, miệng rộng, tóc râu rậm, hai gò má cao. Người ấy có nhiều quyền thế.
Thố hình là tướng thỏ: trán nhỏ, mày nhỏ, tai thẳng, môi hồng, mắt đen, miệng vuông nhỏ. Ngọc quản chiếu thần cục tả thêm: đầu nhỏ trán nhọn, mắt xanh tròng trắng ít hơn tròng đen, răng dày, tai nhỏ dựng đứng, mũi nhỏ trắng hồng. Đàn ông có tướng thỏ làm quan đến ngũ phẩm, đàn bà thì quý.
Tế hình là tướng tê giác: xương thiên đình thẳng, ấn đường rộng, mũi cao, đi đứng ngẩng cao đầu, tướng sang. Tượng hình là tướng voi: thiên trung, thiên đình nhô, ấn đường bằng, mày nhỏ, mắt dài, mũi ngước, răng lộ, thân lớn, ít ngủ; giàu và thọ, đường quan hanh thông, có thể làm chức lớn. Hùng hình là tướng gấu: trán, má, miệng đều rộng, tay chân vai lưng thịt dày, có uy lực; làm chức cao hoặc làm giàu. Viên hình là tướng vượn: mặt nhỏ, mắt tròn, tai nhọn, tay dài; thường sống thọ. Trư tướng là tướng lợn: thân béo ngắn, ăn uống không điềm đạm, mắt mông lung, đen trắng không phân minh; vận mệnh không thể dài. Phá bại trư là tướng đàn bà khinh mạn ngang ngược: mắt liếc ngang liếc dọc, miệng đỏ như son, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy.
Hàm yến đầu hổ là vùng cằm rộng như hàm chim én, đầu như đầu hổ, quý tướng. Ban Siêu đời Đông Hán từ nhỏ đã có chí lớn lập công; thầy tướng bảo ông yến hạm hổ đầu, về sau ông được phong Vạn lý hầu, phụng mệnh chinh phạt Tây Vực ba mươi mốt năm, dần dần bình định các quý tộc nổi loạn, được phong Định Viễn hầu. Từ đó hàm yến trở thành tướng phong hầu.
Tam tiêm là ba cái nhọn: đầu nhọn, miệng nhọn, gò má nhọn. Ngọc quản chiếu thần cục nói ba cái đều nhọn thì sang quý; nếu không đều, như chỉ đầu nhọn thì không nhận được khí lực từ cha mẹ; cằm nhọn thì không có khí lực về sản nghiệp; miệng nhọn thì không thọ lâu.
Ngũ hành hình tướng và ngũ đức
Tướng học chia hình tướng và khí chất theo ngũ hành thành năm hình: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Kết hợp lại có thể thành những dạng xen lẫn như Kim Mộc, Kim Thủy, Mộc Hỏa, Thủy Thổ, Hỏa Kim, Thổ Mộc... Chiếu đảm kinh nói: hình Kim vuông, trong sạch, thẳng thắn, vị trí ở gò má, chủ về thanh âm; hình Mộc dài, thanh tú, vị trí ở mày, tóc, trán, chủ ở tay chân; hình Thổ rộng và đầy đặn, ở tai, bụng, eo, lưng, chủ ở đi đứng và ngồi; hình Hỏa trên nhỏ dưới to, không gầy không béo, chủ tính nóng nảy; hình Thủy tròn và đầy, khoan hòa mà không bức bách, chủ ở lưng, chóp mũi, gò má. Ngũ hình cũng chỉ năm hình tướng ấy.
Mộc hình nên dài, ngay ngắn, tính chất của gỗ là ngay thẳng, màu sắc thanh, khí chất tốt. Thủy hình tròn đầy, bụng rủ, lưng thẳng, sắc an khí tĩnh, thịt dày xương nhẹ. Thổ hình theo thiên Âm dương nhị thập ngũ nhân trong Linh khu: mày vàng, mặt tròn, đầu to, vai lưng đẹp, bụng to, cánh tay đẹp, tay chân nhỏ nhiều thịt, trên dưới cân xứng, đi nhẹ nhàng, tâm an, thích làm lợi cho người, không ham quyền thế; hợp mùa thu và mùa đông, mùa xuân và mùa hè dễ cảm bệnh.
Ngũ đức phối ngũ hành: ngũ đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Người hình Mộc nhiều đức Nhân, hình Kim nhiều đức Nghĩa, hình Hỏa nhiều đức Lễ, hình Thủy nhiều đức Trí, hình Thổ nhiều đức Tín. Ngũ tính là kim tinh, mộc tinh, thổ tinh, thủy tinh, hỏa tinh, ứng với tai, miệng, trán, mũi; kim và mộc đều chỉ tai.
Năm cái dài, năm cái to, năm cái ngắn, năm cái nhỏ
Ngũ trường là đầu, mặt, thân, tay, chân đều dài; năm chỗ ấy dài, đầy và thanh tú mới tốt. Ngũ đại là đầu, mắt, bụng, tai, miệng đều to; không cái nào khuyết hãm thì giàu sang. Nhưng đầu to mà không góc cạnh, mắt to mà tối, bụng to mà chảy xệ, tai to mà không luân quách, miệng to mà môi mỏng thì bần tiện. Ngũ đoản là đầu, cổ, tay, bụng, chân đều ngắn; thuộc hạng trung lưu; nếu ngắn mà xương thịt nhỏ trơn, ấn đường rộng sáng, ngũ nhạc đầy đặn thì có thể làm đến công hầu khanh tướng. Ngũ tiểu là đầu, mắt, bụng, tai, miệng đều nhỏ; ngay ngắn đoan chính, không khuyết hãm mà cùng nhỏ thì quý; nếu chỉ ba bốn cái nhỏ còn một hai cái to, không cân xứng thì bần khổ.
Ngũ ác sát, ngũ lộ, ngũ cấp, ngũ mạn
Ngũ ác sát là năm dạng sát tướng, chỉ có một trong năm cũng là hình tướng không tốt. Đó là: vong sát (đấu vong sát), gân máu đỏ trong mắt, cái nhìn hung bạo; tốt bạo sát, hai mày nhọn và ngắn, mắt ướt như khóc, thường có sát khí; tự điếu sát, mũi gãy, chóp mũi gập khúc, mắt nhìn lệch; giang khâu sát, mắt vàng, khi ngủ khép môi; hung bạo sát, thịt nổi ngang bốn bề, hung bạo không kiềm chế được.
Ngũ lộ là mắt lộ, mũi hếch, tai quặp, môi hở, cổ họng kết lại; Chiếu đảm hình có đoạn gọi ngũ lộ là mắt, mũi, tai, miệng, răng, và nếu thêm thân thái lộ thì là tướng đoản mệnh. Ngũ cấp là sự gấp gáp nóng nảy của thần khí, lời nói, dáng đi, ăn uống, điềm thọ yếu. Tướng học nói nếu năm phương diện ấy đều hài hòa, người ấy tiền đồ rộng mở. Ngũ mạn là sự chậm rãi không vội vàng ở thần thái, khí sắc, tính tình, cách ăn uống; sự nghiệp thành chậm nhưng thọ lâu.
Ngũ hợp và ngũ ứng
Ngũ hợp là năm biểu hiện về phẩm chất, tu dưỡng, cử chỉ, thái độ, lời nói và hành động. Thiên địa tương hợp là cốt cách chính trực, hợp với đức độ, lời nói chính trực, cương nhu đúng lúc. Thiên cung tương hợp là giọng trong trẻo, thân nặng mà đi nhẹ. Thiên tâm tương hợp là khí ôn hòa sáng tỏ, sắc trong sạch không tì vết. Thiên cơ tương hợp là sáng dạ cơ trí, biến hóa, độ lượng khoan dung. Thiên luân tương hợp là kính trên dưới, trung hiếu, giữ lời hứa và thích điều nghĩa.
Ngũ ứng là năm tương ứng về hình tướng. Thiên địa tương ứng là thiên đình thẳng, nhô cao, vuông vức, địa các tròn và rộng. Thiên cung tương ứng là mũi cao thẳng, sống mũi không lộ, thịt bằng phẳng. Thiên cơ tương ứng là mày mắt thưa và thanh tú, có thần, xương Nhật cốt Nguyệt cốt thẳng, không thô. Thiên tâm tương ứng và Thiên luân tương ứng cũng nằm trong năm ứng này.
Thập đại không vong và mười Thiên la
Thập đại không vong là mười điều khuyết nặng trên gương mặt. Trong mệnh học, mười thiên can phối mười hai địa chi thì dư hai chi, gọi là không vong; xuất hiện trong bát tự là điềm không tốt. Trong tướng học, "không vong" là chữ dùng thay cho tướng xấu gặp tai ách. Thần tướng toàn biên kể mười điều: trán nhọn nhỏ như bó trống, khó giữ tổ nghiệp, cô độc; góc thiên địa chủ về tuổi xế chiều cô độc lạnh lẽo, vợ chồng cách trở, họ hàng không hòa; thiên ách lõm, nghèo cơm áo, miệng và bụng hẹp mỏng; mặt không có đường nét, không phúc thọ; sơn căn lõm, lìa xa quê hương, anh em cách trở; phong môn lộ, tán tài, lục thân cách trở; râu không che kín môi, bạn bè vô tình, của tiền phá tán; tai không có vành cong, phá tổ ly tông, tài lộc hao tổn; miệng không có ria mép, cô độc, cảnh xế chiều bần hàn, không vợ con. Đủ mười điều thì cả đời khổ cực, tướng bần tiện.
Thập thiên la là mười loại khí sắc xấu: tử khí thiên la, táng khốc thiên la, ưu trệ thiên la, tật bệnh thiên la, tửu thực thiên la, gian dâm thiên la, phá bại thiên la, hình ngục thiên la (cũng gọi lao ngục thiên la), quỷ ếm thiên la và thoái bại thiên la. Tử khí thiên la là sắc đen nổi lên trên mặt, điềm tai ương. Tang khốc thiên la là sắc mặt sầu thảm nhợt nhạt. Ưu trệ thiên la là màu xanh bao trùm khắp mặt. Phá bại thiên la là sắc mặt đỏ như lúa. Tửu thực thiên la là sắc mặt trắng trơn như có mỡ. Sắc như tước trảo là sắc mặt xanh như dưa bồ, tướng lạ. Hành thị là sắc xanh bao quanh trán và dưới mắt, điềm tai ương, cũng báo bệnh tật. Thiết diện là thần sắc khuôn mặt giống màu sắt. Tứ bạch là quanh mắt đều lộ màu trắng, chủ hình khắc tổn thương, cũng là tướng phong lưu đa tình.
Tám tướng, người tướng quý, người tướng hèn
Thanh tướng, một trong tám tướng, là hình dung trong trẻo thoát tục. Tú tướng là tướng quý: hình mạo thanh tú đẹp đẽ. Uy tướng là tướng mạo uy nghiêm. Tục tướng là hình mạo thô tục, tối tăm. Tinh thần thất hãm là tai, mắt, mũi, miệng không tương xứng, như mắt là mặt trời mặt trăng mà không sáng, mũi là Thổ tinh mà không cao.
Giới tướng thuật tả một người đẹp đủ ngũ quan, hình thế, thần thái và âm thanh như sau: đầu thẳng chắc, trán vuông rộng, mày thưa đẹp, mắt dài trong, luân quách tai bằng và dày, sống mũi thẳng, lưng đầy đặn, nhân trung rõ vàng, môi miệng đoan chính, khí hòa thuận, âm tròn vang, hình thái đoan chính, sắc mặt tươi sáng, giọng nói rõ, ăn uống có nền nếp, tiến thoái đúng mực, đứng ngồi có độ.
Tam thập lục thiện là ba mươi sáu điều tốt của người làm quan. Cổ thư chép: trước hết có chí làm quan và tự rèn luyện; biết cương biết nhu; ham điều thiện và gần người quân tử; có đồ ăn ngon thì chia cho người; không gần kẻ tiểu nhân; thường làm điều thiện; mỗi việc đều có cách giải riêng; từ nhỏ biết sắp xếp ổn định gia đình; không ghét người ăn xin; làm điều tốt cho người; không theo việc ác, ham sát sinh; nghe việc hung không hoảng loạn; không thất tín; không đổi khí tiết; nằm xuống là ngủ; lên ngựa không ngoái đầu; ban đêm không làm người khác sợ hãi và giận; không tỏ ra kén chọn văn vẻ; lo chuyện chu toàn cho người; nhận ơn không quên; khiêm tốn rộng lượng; không làm điều ác hại người; thương người cô đơn, tàn tật, mồ côi; không cậy mạnh hiếp yếu; không quên chức phận; vì mọi người mà làm việc; không nói nhiều lời khoa trương; thấy tự thẹn khi biết người giỏi; nói gãy gọn, giọng hay; nói chuyện biết nhún nhường; khen việc tốt của người khác; tiết kiệm ăn mặc; biết ứng phó tùy thời; nghe điều tốt thì học và làm theo; biết nỗi đau của người khác mà cứu giúp; không nghĩ đến việc ác cũ; gặp bạn cũ gặp nạn thì hết lòng giúp. Đủ cả là vị quan cực tốt, thọ dài; thiếu thì phúc họa bù trừ nhau. Đủ hai mươi điều thì làm quan viết sử, đủ mười điều trở lên có thể làm quan cao, đủ năm sáu điều thì giàu sang.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
