Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Chín châu trên mặt, khí sắc như mây và năm chính sắc

Đạo Học - Tướng Pháp05/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Chín châu trên mặt, khí sắc như mây và năm chính sắc

Ở góc dưới má bên trái, nơi cổ nhân gọi là Ung Châu, một vệt vàng hiện ra thì họ bảo người ấy sớm phát tài, còn một vệt trắng thì họ bảo sắp đi xa nhà. Gương mặt được chia thành chín châu, mỗi châu một góc trời, mỗi sắc một lời đoán. Khí và sắc khác nhau chỗ nào, và vì sao màu như mây mới là phú quý?


Ung Châu, Ký Châu, Duyện Châu: Càn, Khảm, Cấn

Chín châu trên mặt ứng với chín vị trí: giữa hai lông mày, gò má trái, gò má phải, dưới đuôi mắt trái, dưới đuôi mắt phải, dưới má trái, dưới má phải, sống mũi và dưới môi. Những chỗ này nếu đầy đặn, không khuyết lõm là cát lợi. Khí sắc màu xanh da trời thể hiện nỗi buồn, màu đỏ báo họa đột ngột, màu trắng là hung hiểm, màu tím báo chuyện quan sự, màu vàng là cát lợi. Ngoài ra còn cần xem khí sắc thay đổi theo thời gian.

Ung Châu ở cung Càn, ở bên trái dưới má, nơi góc Tây Bắc là Thiên môn. Vị trí này có màu vàng thì có thể làm quan, sớm phát tài. Xuất hiện màu trắng thì đi xa nhà. Xuất hiện màu đen thì vì làm việc bất nhân mà sinh bệnh ưu sầu. Màu xanh lục thì vợ con bị lăng nhục, nhưng đi xa thì cát lợi. Màu tím thì được như ý. Màu xanh da trời thì mất chức quan. Nếu khuyết lõm thì nhiều đau khổ, anh em yếu ớt.

Ký Châu ở cung Khảm, phía Chính Bắc, ở giữa môi dưới. Chỗ này có màu tím thì phát tài, trong nhà có nô tỳ và ngựa tốt. Xuất hiện màu xanh da trời mà làm quan thì thăng quan, người thường thì được của cải. Có màu vàng thì nhà cửa không bình an, cần cúng tế để tai qua nạn khỏi. Có màu xanh lục mà là quý nhân thì cát lợi, người địa vị thấp thì gặp việc hung họa. Màu trắng thì có chuyện kín đáo, màu đỏ thì mưu hại người khác, màu đen thì gặp họa lao ngục.

Duyện Châu ở cung Cấn, phía Đông Bắc, ở dưới má bên phải. Ở chỗ này nếu tháng Giêng có màu vàng thì cát lợi, mùa hạ và mùa thu có màu vàng thì phải lo cho cha mẹ. Màu trắng mà làm quan thì thăng quan, người thường thì được của cải. Màu tím thì có việc vui cưới hỏi, làm việc thuận lợi, người thường thì có tửu thực. Màu xanh da trời thì có việc không may phát sinh. Màu đỏ thì vì ham vui mà gây chuyện thị phi. Màu xanh lục thì gặp tai họa liên quan hình ngục. Màu đen thì thành kẻ trộm cắp.

Thanh Châu, Từ Châu, Dương Châu: Chấn, Tốn, Ly

Từ góc trời Tây Bắc, bản đồ gương mặt xoay dần sang phương Đông và phương Nam.

Thanh Châu ở cung Chấn, phía Chính Đông, trên xương gò má bên phải. Vị trí này có màu trắng thì phát tài ở nơi khác. Xuất hiện màu đỏ thì phải biết nhẫn nại. Xuất hiện màu vàng thì trong vòng mười ngày nhà có tang sự. Có màu đen thì nhà cửa không yên ổn. Có màu xanh da trời thì tốt nhất nên an phận thủ thường. Xuất hiện màu xanh lục thì có tai họa phát sinh. Xuất hiện màu tím thì mắc bệnh nặng, tốt nhất nên cúng giải để thoát tai ương. Người tu hành mà có tướng này thì lại cát lợi.

Từ Châu ở cung Tốn, phía Đông của đuôi mắt. Vị trí này có màu xanh da trời thì trong nhà có người nữ đến, nhưng cần đề phòng thị phi. Có màu tím thì thích hợp làm việc ở nơi xa. Xuất hiện màu xanh lục thì sinh quý tử. Xuất hiện màu vàng thì mọi việc không như ý. Xuất hiện màu đen thì sinh bệnh, sớm có việc phát sinh, nên đề phòng trước.

Dương Châu ở cung Ly, phía Chính Nam, trên Ấn đường (giữa hai lông mày). Vị trí này có màu vàng mà mịn màng thì người làm quan được thăng quan, người thường thì vui vẻ. Quý nhân cát lợi, người thường có hung họa. Có màu tím hoặc hai bên trán hồng hào thì có việc vui. Nếu người nam ở vị trí này có màu xanh da trời thì có chuyện ly biệt hoặc tai họa hình ngục. Màu trắng thì tốt cho người theo đạo thuật. Màu đen thì phát sinh tai họa. Màu xanh lục thì ly biệt vợ con, rất ứng nghiệm.

Kinh Châu, Lương Châu, Dự Châu: Khôn, Đoài và trung tâm

Kinh Châu ở cung Khôn, phía Tây Nam, dưới đuôi mắt. Vị trí này có màu vàng mà kéo đến Lương Châu thì có việc vui. Xuất hiện màu xanh da trời thì có ưu lo. Màu trắng thì bị sỉ nhục. Màu xanh lục thì có tai nạn phát sinh. Màu đỏ thì phải đề phòng kẻ trộm. Màu đen thì có bệnh về tim bụng, tốt nhất nên sớm chữa trị. Màu tím mà là người nữ thì dễ phát sinh chuyện ngoại tình với người khác.

Lương Châu ở cung Đoài, phía Chính Tây, trên xương gò má trái. Chỗ này có màu vàng thì sớm phát tài. Có màu trắng thì con cháu hiền thảo. Xuất hiện màu đỏ thì có tai họa liên quan đến văn tự mà sinh bệnh. Có màu đen thì thăng quan hoặc có của ăn của để. Màu xanh da trời thì muốn cướp vợ người khác. Màu xanh lục thì mưu sự không thành. Màu tím thì bị cướp bóc.

Dự Châu ở phía trên sống mũi, ở giữa. Vị trí này có màu trắng là cát lợi. Màu đen thì gia đình bất hòa, dễ sinh bệnh. Màu xanh lục thì ưu sầu. Màu tím thì có việc vui. Màu đỏ thì có việc phiền não. Màu xanh da trời thì trong lòng hoang loạn. Màu vàng là hình tướng vui vẻ; màu này còn xuất hiện ở hai bên trái phải sống mũi thì nếu làm quan sẽ thăng quan, người thường sẽ phát tài.

Khí sắc như mây là quý

Có một thứ ánh sáng mà người xưa cho là đáng quý hơn mọi màu: ánh sáng của đám mây che nắng.

Khí sắc của con người như đám mây tô điểm cho mặt trời, ấm áp đáng yêu mới là hình tướng phú quý. Nếu khí sắc khô nóng, không tốt mà khó hiển lộ thì có tật bệnh ở tỳ vị hay tim bụng, hoặc gặp lũ lụt, kiện cáo và họa lao ngục. Khí sắc con người tốt nhất là sáng sủa, không rối loạn. Nếu tửu sắc quá độ thì khí sắc dễ tiến dễ lui, sáng mà không sáng, tối mà không tối, đó gọi là khí sắc lưu tán. Nếu giống như say mà không say, như ngủ mà không phải ngủ thì là khí đục.

Xem khí sắc bốn mùa của con người, chủ yếu là xem màu xanh da trời, đỏ, vàng, trắng, đen, đó là chính khí của bốn mùa. Chúng hiển hiện ở trên da thì gọi là màu, ẩn ở trong da thì gọi là khí. Khí ẩn giấu trong lông tóc của con người, như thóc như đỗ, nhỏ như sợi tơ của tằm vào mùa xuân. Muốn xem con người thuộc loại khí sắc nào thì phải xét kỹ, vì chúng thay đổi rất nhỏ, như mây trôi che lấp mặt trời.

Khí chia ba loại, chính sắc là cát lợi

Khí vốn là một thể, nhưng nếu phân biệt để luận thì chia thành ba loại: khí tự nhiên, khí hàm dưỡng, khí sở tập. Khí tự nhiên là tú khí của Ngũ hành; có khí này thì có thể thanh tú. Khí hàm dưỡng là thứ khí sinh ra từ việc tích tụ nghĩa lý; có khí này thì không bị vật bên ngoài quấy nhiễu. Khí sở tập là tà khí. Nếu khí tự nhiên của con người không nhiều, khí hàm dưỡng cũng ít thì tà khí sẽ pha trộn vào. Suy rộng ra có năm loại khí sắc: xanh da trời, tím, vàng, trắng, đen.

Khi bàn về thần và khí, Hoàng Chính Công nói rằng thần nhiều là biểu hiện của thần có thừa, thần mất đi là biểu hiện thần không đủ; khí hơn thần thì khí có thừa, khí ít hơn thần thì khí không đủ. Cách nói ấy rất hay, vừa biểu đạt được ý nghĩa vừa luận đoán chính xác. Khí nối liền với ngũ tạng, điều này có thể thấy được. Buồn vui, giận dữ, yêu thương của con người đi qua tim mà làm thay đổi khí sắc; khi có bệnh hay sắp từ giã cõi đời thì càng thể hiện rõ.

Màu vàng của Thổ, màu xanh của Mộc, màu tím của Hỏa

Cổ nhân bắt đầu cân từng màu bằng chiếc cân của năm hành.

Màu vàng là màu của Thổ. Nếu nó bám chặt vào thịt một cách nhuận hòa, không ngưng tụ cũng không nổi lên bề mặt thì là chính sắc. Giống với màu vàng đó và màu tím đều chủ về việc vui. Nếu giống như mây khói, bùn đất, xuất hiện ở những năm đầu thì gọi là Thổ phạm, chủ về ba mươi năm hung nạn. Xuất hiện ở trung niên gọi là Thổ bệnh, cũng chủ về ba mươi năm hung nạn. Xuất hiện ở cuối đời gọi là Thổ tử. Hung nạn của nó phát sinh vào những năm Giáp Ất Dần Mão, còn những năm Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi là lúc Thổ vượng. Tháng, ngày, can tương ứng với nó cũng tương đồng; dưới đây đều dựa vào lẽ này làm chuẩn.

Màu xanh da trời là màu của Mộc. Nếu khí sắc biểu hiện xanh mơn mởn như lá trúc, lá liễu thì là chính sắc. Nếu biểu hiện khô xác, không ổn định thì những năm đầu gọi là Mộc phạm, chủ về hai mươi bốn năm hung nạn. Xuất hiện ở trung niên gọi là Mộc bệnh, chủ về sáu mươi năm hung nạn. Xuất hiện ở cuối đời gọi là Mộc tử, ứng với những năm Canh Tân Thân Dậu. Mộc vượng là những năm Giáp Ất Dần Mão.

Màu tím là màu của Hỏa. Nếu khí sắc bóng sáng hoa lệ như chu đơn thì là chính sắc. Nếu thường ở trạng thái nóng nảy phiền não như lửa đốt thì ở những năm đầu gọi là Hỏa phạm, chủ về hai mươi năm hung nạn. Ở trung niên gọi là Hỏa bệnh, chủ về bốn mươi năm hung nạn. Ở cuối đời gọi là Hỏa tử, ứng với những năm Nhâm Quý Hợi Tý. Hỏa vượng là những năm Bính Đinh Tỵ Ngọ.

Màu trắng của Kim, màu đen của Thủy

Màu trắng là màu của Kim. Nếu khí sắc hiện ra sáng đẹp như đá ngọc, lâu mà không đổi màu thì là chính sắc. Nếu khô khan như phủ bụi, không bóng sáng, xuất hiện ở những năm đầu thì gọi là Kim phạm, chủ về hai mươi bảy năm hung nạn. Xuất hiện ở trung niên là Kim bệnh, chủ về mười tám năm hung nạn. Xuất hiện ở cuối đời là Kim tử, ứng với những năm Bính Đinh Tỵ Ngọ. Kim vượng là những năm Canh Tân Thân Dậu.

Màu đen là màu của Thủy. Nếu khí sắc bóng sáng, mềm mượt, sắc nhọn thì là chính khí. Nếu hiển lộ mờ mịt như sương khói, bốn mùa đều mờ đục không sáng thì những năm đầu gọi là Thủy phạm, chủ về mười tám năm hung nạn. Ở trung niên gọi là Thủy bệnh, cũng mang hung nạn kéo dài nhiều năm. Ở cuối đời là Thủy tử, ứng với những năm Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi. Thủy vượng là những năm Nhâm Quý Hợi Tý.

Khí sắc của con người như đám mây tô điểm cho mặt trời, ấm áp đáng yêu mới là hình tướng phú quý.

Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp