Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tướng Pháp

Bài tổng quan

Bát học đường, mười kiểu mặt chữ, mười hai cung và dáng trán

Đạo Học - Tướng Pháp05/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Bát học đường, mười kiểu mặt chữ, mười hai cung và dáng trán

Hỏi lộc thì nhìn trán, hỏi danh thì nhìn tai, hỏi thọ thì nhìn lông mày. Mười chữ Hán trở thành mười dáng mặt, mười hai cung chia gương mặt thành từng ngăn của đời người. Còn cái trán, nơi gánh nhiều cung nhất, nói gì về một người đàn ông và một người đàn bà…


Bát học đường: tám nơi hỏi lộc, phúc, quan, quý, danh, đức và thọ

Mỗi bộ trong tám bộ dưới đây đi kèm một câu hỏi và một nơi để tìm câu trả lời: hỏi lộc ở trán, hỏi phúc ở hai góc trán, hỏi quan ở ấn đường, hỏi quý ở mắt, hỏi danh ở tai, hỏi tiền tài ở miệng, hỏi đức ở lưỡi, hỏi thọ ở lông mày.

Bát học đường trên gương mặt
Tám bộ học đường trên gương mặt.

Cao minh bộ: vị trí thiên trung

Câu hỏi: hỏi quan lộc ở đỉnh trán. Điều kiện: trán tròn, và có xương ngang khác lạ (dị cốt ngang).

Cao quảng bộ: vị trí tư không

Câu hỏi: hỏi phúc ở hai góc trán. Điều kiện: màu sắc sáng đẹp, góc trán vuông.

Quang đại bộ: vị trí ấn đường

Câu hỏi: hỏi chức vị, công danh ở ấn đường. Điều kiện: bằng phẳng và sáng màu, không thâm đen, không nhăn nhúm; và không có vết nhăn xâm phạm. Người thường không có danh chức mà ấn đường có vết nhăn thì tính mạng lâm nguy; người đang có chức thì dễ gãy đổ.

Minh tú bộ: vị trí con mắt

Câu hỏi: hỏi quý hiển ở mắt. Điều kiện: mắt sáng; lòng đen phải lớn hơn lòng trắng; và cái nhìn biết ẩn giấu, tức che được cảm xúc.

Thông minh bộ: vị trí tai

Câu hỏi: hỏi danh tiếng, xem ở tai. Điều kiện: luân và quách phân minh, vòng trong ra vòng trong, vòng ngoài ra vòng ngoài. Sắc hồng, trắng, vàng là quý tướng; còn xám, đen, xanh đều là xấu. Nhìn một đứa trẻ thông minh sẽ thấy tai to, luân quách phân minh.

Trung tín bộ: vị trí miệng

Câu hỏi: hỏi tiền tài ở miệng. Điều kiện gói trong ba chữ: răng ngay ngắn, miệng kín đáo, răng trắng như sương, môi hồng.

Quảng đức bộ: vị trí lưỡi

Câu hỏi: hỏi đức độ ở lưỡi. Điều kiện: lưỡi dài, sắc hồng, và nếp nhăn dọc dài. Nếp nhăn ngắn và ngang là dấu hiệu bệnh nặng.

Ban chuẩn bộ: vị trí lông mày

Câu hỏi: hỏi tuổi thọ ở lông mày. Điều kiện: vân mày thanh tú, mảnh đẹp; và hai bên cân đối, đứng giữa, không lệch.

Mười kiểu mặt theo mười chữ

Từ tám nơi trên mặt, người xưa lùi lại để nhìn toàn thể gương mặt như một chữ.

Thập tự diện tướng chia khuôn mặt thành mười loại theo hình dáng của mười chữ Hán: Giáp, Do, Điền, Thân, Viên, Đồng, Mục, Phong, Dụng, Vương. Mỗi chữ mang một dáng mặt, một hành, và một lối đi của số phận.

Mười kiểu mặt theo mười chữ Hán: Giáp, Do, Điền, Thân, Viên, Đồng, Mục, Phong, Dụng, Vương
Mười dáng mặt theo mười chữ.

Chữ Giáp: trên nở to, dưới vót nhọn

Dáng này thuộc hành Mộc, gọi là hữu thiên vô địch. Nếu mày thanh mắt tú, tai đẹp thì thành cách lưỡng mộc hữu thần, dễ làm việc liên quan đến văn hóa, giáo dục hoặc chính trị; có điều tài lộc kém, có danh rồi mới có tiền. Nếu mày mắt và tai kém thì trước sướng sau khổ, càng già càng cô đơn.

Chữ Do: trên nhỏ, dưới nở

Dáng này gọi là hữu địa vô thiên, thuộc hành Hỏa. Tuổi thơ vất vả chừng hai mươi năm, tay trắng vào đời. Trung vận tự lực cánh sinh, học vấn không cao, khá bận rộn và vất vả. Đến hậu vận thì được an nhàn, hưng thịnh.

Chữ Điền: mặt vuông

Dáng này thuộc hành Thổ. Cuộc đời bình ổn, có nghị lực, có ý chí. Nếu sắc diện tốt, tiếng nói vang thì quý hiển; nếu sắc diện sạm đen, tối thì rất vất vả.

Chữ Thân

Tuổi trẻ bất lợi, thơ ấu vất vả. Sau hai mươi bảy tuổi vận thế thuận lợi. Sau năm mươi hai tuổi vận kém, tài lộc suy, gia đạo bất ổn, bệnh tật phát sinh.

Chữ Viên: mặt tròn

Dáng này thuộc hành Thủy, âm thịnh dương suy, không thuộc quý cách. Nếu ngũ quan đẹp, chủ về điền sản, kinh doanh và giàu có. Nếu ngũ quan xấu, là người làm nghề kỹ nghệ. Người này thường có thiện duyên với đạo pháp, nên về cuối đời có thiên hướng theo đuổi con đường ấy.

Chữ Đồng

Dáng này cũng thuộc hành Thủy và là thượng cách. Người có khuôn mặt này, cộng với ngũ quan đẹp, có sự nghiệp, có danh chức hoặc giàu có. Họ rất có uy, điềm tĩnh, không nổi nóng và làm việc rất phân minh.

Chữ Mục: mặt dài

Dáng này thuộc hành Kim và Thủy. Khó có thể toàn mỹ về phú, quý, thọ, khảo. Một đời bôn ba, vất vả.

Chữ Phong: tiên phú hậu bần

Hai quai hàm nở lớn, trán tròn, hai bên nở ra. Đàn ông có dáng này ban đầu cứng rắn, yêu ghét phân minh, nhưng về sau lại buông thả, phóng khoáng và lòng thù hận cao. Đàn bà thì đa tình đa ái, lận đận tình duyên, hoặc có chồng không con, có con không chồng, rất dễ lạc vào phong trần và rất vất vả. Dù nam hay nữ, nếu đứng phía sau nhìn qua kẽ tai mà thấy xương quai hàm, đó là tướng phản cốt, chủ về người phản phúc.

Chữ Dụng: tạp tướng

Mặt không cân đối, tạp loạn. Người này vất vả, bôn ba; nữ thì hôn nhân không thuận, nam thì dễ bôn ba, lãng đãng. Tính rất cần kiệm.

Chữ Vương: dương thịnh âm suy

Chủ về vất vả và nghèo. Đó là người có ý chí, cam chịu, thậm chí có tài.

Mười hai cung của số mệnh trên gương mặt

Mười chữ cho cái nhìn chung, nhưng muốn đọc từng việc trong đời, mặt phải được chia nhỏ hơn nữa.

Gương mặt còn được chia thành mười hai khu vực của mệnh lý. Chia nhỏ hơn nữa là mười ba bộ vị với một trăm hai mươi tiểu bộ vị.

Mười hai cung trên gương mặt
Mười hai cung mệnh trên gương mặt.
  1. Cung Mệnh: khu vực ấn đường, giữa hai lông mày.
  2. Cung Quan lộc: thiên trung, thiên đình và tư không.
  3. Cung Tài bạch: chuẩn đầu, lan đài và đình úy.
  4. Cung Tật ách: sơn căn và niên thọ, gồm niên thượng và thọ thượng.
  5. Cung Phụ mẫu: thượng mộ và cao quảng, hai bên.
  6. Cung Thiên di: biên địa, dịch mã và đạo trung.
  7. Cung Huynh đệ: hai lông mày.
  8. Cung Phu thê: thê, ngư vĩ và giang môn.
  9. Cung Điền trạch: bên trái có gia tích, quang biện và điền trạch; bên phải có trí thứ, tinh xá và điền trạch.
  10. Cung Tử tức: lệ đường, còn gọi là ngọa tằm.
  11. Cung Phúc đức: ngạch giác, giao hữu, chiến đường và phúc đường, trong đó phúc đường làm chính.
  12. Cung Nô bộc: tai cốt.
Một trăm hai mươi tiểu bộ vị trên gương mặt
Mười ba bộ vị và một trăm hai mươi tiểu bộ vị.

Vài điều cần nhớ khi đọc các cung

Với người nữ, cung phu thê nằm ở vùng phu thê nhưng khu vực mũi cũng chủ về chồng. Cung phúc đức nằm chính giữa lông mày; tuy vậy một số quan điểm cho rằng cung này chạy dọc hai bên má, từ thái dương cạnh tai.

Lệ đường xấu thì phần mí ở đó phải đầy, lồi ra mới tốt; nếu lõm thì rất phiền phức và đường con cái xấu. Cung quan lộc ngoài vùng của nó, với đàn ông còn phải nhìn thêm vào quyền cốt, và lưỡng quyền nên bằng phẳng. Gò má cao thì rất phiền: con gái thì cao số, con trai làm quan thì tự cao tự đại và dễ gãy đổ.

Những dấu hiệu yểu tử và nghèo khổ

Pháp lệnh mà chui vào mép là điềm yểu tử và chết đói, gọi là đằng xà nhập khẩu. Người có nếp nhăn quanh mép chui vào miệng gọi là miệng suy phong khẩu, nhăn nhúm về già thì rất nghèo khổ. Một dấu hiệu nữa nằm ở dáng vẻ: người đã đến tuổi trưởng thành mà tướng dáng vẫn như trẻ thơ là tướng yểu tử, tức là không già đi.

Trán: bộ vị chủ quan, thọ và trí

Trong mười hai cung, trán là nơi gánh nhiều cung nhất, nên được xem kỹ nhất.

Trán thuộc về Thiên và cai quản thượng đình, giữ vận khí ba mươi năm đầu đời. Trán chứa nhiều bộ vị quan trọng: quan lộc, phúc đức, phụ mẫu, thiên di. Đây cũng là khu vực của lộc học đường và cao quảng bộ học đường. Trán kéo dài từ thiên trung đến hết trung chính, sát ấn đường, và chủ về ba điều: quan, thọ, trí.

Điều kiện tốt nhất của trán

Trán tốt khi phương, tức vuông; quảng, tức rộng; đoan chính, tức ngay ngắn; và triều mãn, tức đầy đặn và hướng về trung tâm.

  • Trán vuông và rộng là người trung tín, có tài trí, phúc thọ.
  • Trán cao và rộng là người túc trí đa mưu, trí tuệ hơn người.
  • Trán gồ cao như rùa nằm (quy phục) hoặc như lá gan úp là đại quý tướng, trường thọ.
  • Trán thấp là người kém trí, nghĩ ngắn, hành xử theo cảm tính; phúc lộc khó hưởng.
  • Trán hẹp là người ích kỷ, phản trắc, hành xử lợi mình tổn người.

Trán dài

Nhận dạng: trán dài và phẳng, chân tóc vuông, sát xuống thiên đình, bộ vị tư không rất rộng và dài.

Lúc sơ vận được nhiều phúc đức, thường có xuất thân tốt, khá thông minh, cao thượng, trung tín, dễ thành đạt. Đàn ông trán dài là quý tướng, chủ phú quý và dễ thành công trong sự nghiệp. Đàn bà trán dài là người có cá tính, quyết đoán, trí não suy xét rất linh hoạt, dễ thành công trên thương trường hoặc quan trường và có đủ phú quý, nhưng dễ cô độc, tình duyên khó vẹn toàn. Nếu trên trán có thêm nốt ruồi, tốt nhất là màu đỏ, thì phú quý tăng thêm.

Trán cao

Nhận dạng: chân tóc cao lên trên bộ vị thiên đình, và trán rộng.

Sơ vận bình thường; xuất thân tốt, cao thượng, trung tín, dễ thành đạt. Đàn ông là người túc trí đa mưu, làm việc cẩn trọng và tích cực, lý tưởng cao xa, hợp với nghiên cứu, tìm tòi, khảo cứu phân tích, học tập tốt và dễ được phú quý. Phải ngoài bốn mươi tuổi mới có thành tựu, vận khí mới ổn định; về già an nhàn. Đàn bà là người tự cường, không dựa dẫm ai, làm việc tích cực, có thành tựu, được phú quý, nhưng gia đạo không ổn và tình duyên khó vẹn toàn.

Trán thấp

Nhận dạng: tóc mọc dày tận thiên đình, tư không rất ngắn.

Sơ vận vất vả, xuất thân kém. Người kém trí, kém suy xét, hay hành động theo cảm tính, do dự, dễ phản trắc, dễ theo người làm việc bất thuận. Căn cơ kém nên khó được phú quý.

Đàn ông trán thấp thì nông nổi, nghĩ ngắn, ít chịu suy xét, hay u mê nhầm lẫn, rất bảo thủ và cố chấp, làm việc thường không có kế hoạch, cuộc đời bôn ba vất vả, khó hưởng phú quý. Đàn bà trán thấp là người thiển cận, hay ghen tuông, tính không rộng rãi, hay để ý điều nhỏ nhặt; đời vất vả, mưu sinh lận đận, gia đạo bất an, tình duyên bất ổn, về già may ra mới thảnh thơi.

Nếu trán vừa thấp vừa hẹp thì dù nam hay nữ cũng khó thành sự nghiệp, một đời vất vả bôn ba: đàn ông dễ dính hình pháp, đàn bà dễ lạc phong trần.

Nguồn: Ma Y tướng pháp; Liễu Trang tướng pháp (bài giảng tướng pháp sơ cấp).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tướng Pháp