Bài tổng quan
Mười hai cung, mười ba bộ vị, tam đình và ngũ nhạc
Thầy tướng Mao Thông vừa thấy một cô gái mới vào cung đã kinh ngạc thốt lên rằng vầng trán nàng có nhật giác yển nguyệt. Từ một vầng trán, người xưa vạch ra cả mười hai cung, mười ba bộ vị, ba đình và năm ngọn núi trên gương mặt. Mỗi chỗ ấy giữ một phần vận số...
Mục lục · 7 phần
Bốn học đường: trán, mắt, răng và trước tai
Người xưa gọi những chỗ nuôi trí tuệ trên gương mặt là học đường. Lộc học đường là phần trán: trán rộng và sáng thì thăng tiến thuận lợi, đó là điềm của trí tuệ. Minh tú bộ học đường chỉ đôi mắt, mắt nên dài và thanh tú, chủ về đường quan chức. Nội học đường là hai bên mép răng, chỗ lợi; nơi này cần đỏ và không lộ, chủ về lòng trung kính và hiếu thảo, còn răng thưa và nhỏ thì hay cuồng vọng. Trung tín bộ học đường chỉ hàm răng: răng trắng, sạch và dày thì chủ về trung tín, hiếu lễ.
Ngoại học đường là vùng ngay trước lỗ tai, chủ về thông minh tài trí; nơi này đầy đặn và sáng mới tốt, tối tăm thì ngu độn. Gộp cả bốn nơi ấy lại thành Tứ học đường: mắt là Quan học đường, trán là Lộc học đường, răng là Nội học đường, trước tai là Ngoại học đường. Riêng chữ học đường đứng một mình thì vừa chỉ vùng trước tai, vừa chỉ hai bên hàm.
Tứ học khẩu là cái miệng có góc cạnh phân minh, tạo thành hình như chữ tứ; đó là điềm giàu sang.
Mười hai cung của gương mặt
Thập nhị cung là cách chia gương mặt thành mười hai ngôi nhà để xem vận mệnh. Mười hai cung gồm: Mệnh, Tài bạch, Huynh đệ, Điền trạch, Nam nữ, Nô bộc, Thê thiếp, Tật ách, Thiên di, Quan lộc, Phúc đức và Tướng mạo.
Cung Mệnh chính là ấn đường, chỗ nằm giữa hai chân mày, phía trên sơn căn. Ấn đường rộng rãi, sáng sủa thì người thông minh, sống thọ. Cung Nam nữ nằm ngay dưới mắt, còn gọi là lệ đường. Cung Nô bộc ở hai bên dưới khóe miệng. Cung Thê thiếp còn có tên gian môn hay ngự vĩ, nằm ở góc sau hai mắt, tức khóe mắt phía ngoài; đó là nơi đại diện cho tình cảm vợ chồng. Cung Thiên di còn gọi là thiên ách, nằm ở góc lông mày, liên quan đến chuyện đi lại, dời chuyển, ra vào. Cung Điền trạch chủ về nhà cửa, sản nghiệp; thanh tú và sáng sủa là tốt. Cung Tướng mạo chỉ ngũ quan trên khuôn mặt.
Đuôi mắt cũng có tên riêng là ngư vĩ, chỉ vị trí khóe mắt. Đuôi mắt có nhiều nếp vằn thì cả đời lao lực, đến già vẫn không được nhàn.
Mười ba bộ vị dọc đường giữa mặt
Thập tam bộ vị là cách tướng học kẻ một đường chính giữa khuôn mặt từ mép tóc xuống dưới cằm, rồi chia theo ý Tam tài thành mười ba chỗ để xét hiền ngu, thiện ác, phúc lộc. Từ trên xuống dưới là: Thiên trung, Thiên đình, Tư không, Trung chính, Ấn đường, Sơn căn, Niên thượng, Thọ thượng, Chuẩn đầu, Nhân trung, Thủy tinh, Thừa tương và Địa các.
Thiên trung là đường trung tuyến chạy thẳng xuống giữa mặt; có chỗ còn dùng chữ này để chỉ mũi. Thiên đình còn gọi là khuyết đình, là phần chính giữa trán; chỗ này cao thẳng, không lệch mới tốt. Cũng có chỗ dùng tên Thiên đình cho vùng giữa hai chân mày. Tư không nằm dưới Thiên đình, trên Trung đình. Trung chính nằm dưới Tư không, trên ấn đường.
Sơn căn ở ngay gốc mũi, giữa hai mắt, là chỗ mũi bắt đầu; nên cao thẳng và có thần sắc. Ngoài ra còn có tên khác là nguyệt bột. Niên thượng nằm dưới sơn căn, trên thọ thượng, phản ánh tình trạng sức khỏe. Thọ thượng nằm dưới niên thượng, trên chuẩn đầu; hai chỗ ấy hợp lại gọi là niên thọ.
Chuẩn là cách gọi chung của mũi, còn chuẩn đầu là chóp mũi. Nhìn chóp mũi có thể suy ra thể chất, tâm tính và vận mệnh. Chuẩn đầu tròn trịa thì áo cơm đầy đủ; nhọn và mỏng thì cô độc nghèo khó.
Nhân trung là rãnh lõm dưới mũi, trên miệng. Tướng pháp còn gọi là thủy câu huyệt, tử đình, thọ đường. Rãnh này thông giữa mũi và miệng, hình như khe nước; vừa rộng vừa sâu thì chủ về tuổi thọ và con cháu, cạn hẹp thì không đẹp. Cổ thư chép: nhân trung trên rộng dưới hẹp thì lúc nhỏ hiển vinh, về sau góa vợ; dưới hợp trên rộng thì tuổi trẻ không con, về già lại có. Thọ đường mà trên rộng dưới hẹp cũng là hiển vinh nhưng không vợ. Tử đình sâu và dài thì con cháu đầy nhà.
Thủy tinh chỉ hai môi trên và dưới, đồng thời là một trong ngũ tinh. Thần tướng toàn biên chép rằng thủy tinh là miệng, tên khác là nội học đường; môi phải hồng, có bốn góc, nhân trung sâu, răng miệng ngay ngắn.
Những chỗ gọi theo trời: Thiên thương, Thiên phủ, Thiên giác
Thiên thương, còn gọi là cung Thiên di, là bộ vị ngoài khóe mắt; đầy đặn và nổi lên là đẹp. Thần dị phú nói lông mày che Thiên thương thì gần gũi quý nhân; lời chú giải giải thích rằng Thiên thương nằm trên góc mắt, mày ngắn như trăng khuyết che được nó thì người thông minh, thân cận người sang.
Thiên phủ hay còn gọi là Thiên đình; hai xương Nhật cốt và Nguyệt cốt gọi là hai Thiên phủ. Chúng là hai xương bổ trợ ôm quanh Thiên thương, tức khu vực trán cao sát mép tóc, chủ về vận khí những năm còn nhỏ; đầy đặn, sáng láng là tốt. Thiên giác là góc trán, còn Thiên giác cốt là xương góc trán, phát triển thì giàu sang. Thiên thành cốt là xương trán tròn và to, điềm phú quý. Thiên đường cũng chỉ phần trên cùng của mặt, tức trán.
Còn mấy cái tên khác cũng đặt theo chữ Thiên: Thiên môn chỉ lỗ mũi, cũng chỉ khoảng giữa hai chân mày; Thiên trụ chỉ lỗ tai, còn dùng để chỉ ấn đường; Thiên chuyển là luân tai, vành trong của tai; Thiên căn là mạch chân, điềm trường thọ; Thiên cốt là cốt cách trời sinh.
Mệnh môn còn có tên là phong môn, tức lỗ tai. Lỗ tai nên rộng, không nên hẹp; nếu hẹp đến mức không vừa đầu ngón tay út thì trí tuệ ngu muội.
Tam tài, tam quang, tam sơn, tam thai
Tam tài là khái niệm trọng yếu của thuật số Trung Hoa: Thiên, Địa, Nhân, trời, đất, người. Trên mặt, Tam tài phân biệt trán, mũi và phần còn lại. Thần tướng toàn biên chép: trán là Thiên, phải cao và rộng; mũi là Nhân, phải vượng và bằng mới gọi là có nhân; Địa phải vuông và rộng mới gọi là có địa.
Tam quang là đầu trán, mũi và má; ba chỗ này sáng láng mới tốt. Tam sơn là trán và hai gò má, còn tam sơn cốt là xương trán và xương hai gò má. Tam thai chỉ hai xương phụ và xương trán; từ đó xét được sự thành công của một người.
Tam đình: ba tầng của mặt và của thân thể
Nhà tướng học chia mặt và thân thể thành ba phần gọi là Tam đình: Thượng đình, Trung đình, Hạ đình, dựa vào đó mà đoán vận mệnh. Tư tưởng gốc là Thiên, Địa, Nhân hài hòa; ba phần cân xứng mới tốt. Câu "tam đình bình đẳng thì phú quý vinh hiển" cũng bắt nguồn từ đó.
Trên mặt, Thượng đình đi từ mép tóc đến ấn đường; Trung đình từ ấn đường đến chóp mũi; Hạ đình từ chóp mũi đến địa các. Thái thanh thần giám ghi rõ hơn: Thượng đình từ mép tóc đến giữa hai đầu chân mày, Trung đình từ giữa hai chân mày đến chóp mũi, Hạ đình từ chóp mũi đến cằm, tượng trưng cho Tam tài, trên là trời, giữa là người, dưới là đất.
Thượng đình dài, đầy, rộng và vuông thì sang; Trung đình to và chuẩn đầu cao thì thọ; Hạ đình vuông, đầy và ngay ngắn thì giàu sang. Cả ba cân xứng là tướng tốt nhất.
Với thân thể, đầu là Thượng đình. Người thấp bé mà đầu to dài như cây có ngọn nhưng không có gốc; người thân to cao mà đầu ngắn nhỏ là tướng bần tiện. Từ vai đến eo là Trung đình, cần cân xứng: ngắn thì không thọ, dài thì nghèo khó; eo tròn mà đi đứng ngồi đều lắc lư thì cũng không thọ. Từ eo đến chân là Hạ đình, nên bằng Thượng đình; dài hơn thì nhiều bệnh. Ba phần dài ngắn to nhỏ lệch nhau thì không thọ. Truyện Kim Bình Mai cũng có câu khen một cô gái tam đình tương xứng, một đời đủ ấm no.
Tam chủ là Sơ chủ, Trung chủ, Mạt chủ, ứng với vận khí tuổi thiếu niên, trung niên và vãn niên; cũng là tên gọi chung của ngón trỏ, ngón giữa và ngón út. Sơ chủ là ngón trỏ thuộc bộ Tốn, Trung chủ là ngón giữa thuộc bộ Ly, Mạt chủ là ngón út thuộc bộ Khôn. Tam trụ là đầu, mũi, chân: đầu là thọ trụ, mũi là lương trụ, chân là đống trụ.
Ngũ nhạc và những xương quý quanh đó
Ngũ nhạc chỉ các ngọn núi của gương mặt. Trương Hành Giản nói trán là Nam nhạc (Hành sơn), mũi là Trung nhạc (Tung sơn), gò má là Bắc nhạc (Hằng sơn), má trái là Đông nhạc (Thái sơn), má phải là Tây nhạc (Hoa sơn). Năm ngọn núi ấy nên đầy đặn thì có uy nghiêm. Nam nhạc chỉ Hành sơn, trên mặt là phần trán; Trung nhạc chỉ mũi; Tây nhạc là một trong ngũ nhạc.
Ngũ nhạc triều thiên, còn gọi là ngũ nhạc triều quy, là hai gò má, mũi, trán và đầu đều đầy đặn, cùng hướng về Thiên đình; điềm giàu sang. Cổ thư nói ngũ nhạc triều quy thì tiền bạc tự hưng vượng cả đời.
Nhân phủ là xương hai gò má, chủ vận trung niên, phải ngay ngắn, vuông vức, kéo dài đến đầu tóc, không nên thô lộ; phân biệt với Thiên phủ là phần trán, và địa phủ là vùng trung phủ. Quyền tướng là tướng xương hai bên gò má, còn có tên lạc nhạc, tây nhạc, nhân phụ; hai gò má phải đối xứng, không nhỏ quá, không khuyết hãm, lệch lạc; nếu chạy đến đầu tóc thì sang quý. Trùng dị chỉ má đầy đặn, tướng giàu sang.
Tứ độc là bốn con sông: Trường Giang, Hoàng Hà, Hoài Giang, Tế Hà; trên mặt là tai, mắt, mũi và miệng. Ngũ quan là mắt, tai, miệng, mũi, mày (hoặc nhân trung). Trương Hành Giản gọi mắt là quan giám sát, tai là quan thẩm biện, mũi là quan xú xú, miệng là quan xuất nạp, nhân trung là quan báo thọ. Ngũ tinh là tên các vì sao đặt cho kim tinh, mộc tinh, thổ tinh, thủy tinh, hỏa tinh, ứng với tai, miệng, trán, mũi; trong đó kim tinh và mộc tinh đều chỉ tai.
Tứ cường là trán, má cho đến hai gò má; bốn chỗ này nên đầy đặn, cao và rộng. Thất môn là hai đầu mày, hai khóe mắt, hai lỗ tai cho đến sống mũi.
Những xương quý quanh trán và sau đầu: Nhật giác là xương trán ở vị trí trung ương to nhỏ; cũng chỉ xương mày trái to dày kéo đến mép tóc bên trái, đối xứng với nguyệt giác ở bên phải, đều là tướng sang quý. Cổ thư kể chuyện xương Long tê chạy vào đầu tóc, bên trái có Nhật giác, bên phải có Nguyệt giác thì làm vua thiên hạ. Nhật giác yển nguyệt là tướng cực quý, trán như nửa vầng trăng khuyết; truyện Lương Hậu thời Hán kể thầy tướng Mao Thông thấy bà lúc mới vào cung đã kinh ngạc nói rằng người này có nhật giác yển nguyệt, về sau quả là quý nhân.
Yến nguyệt chi thế là vầng trán nhô lên như núi, phía trên cong như trăng khuyết, quý tướng. Yến hạc cốt là cốt tướng của người sang quý, người tu đạo thường có. Trùng ngạch là trên trán còn có lớp thịt phủ lên; nam có tướng trán ấy nhiều niềm vui, nữ thì hay khổ. Tử khí tinh là một trong ba mươi tám sao, chỉ ấn đường; ấn đường rộng, sáng là quý.
Ngưu giác bát phương là tám loại xương quý ở trán, theo lời Trương Hành Giản gồm xương như sừng tê giác, Nhật cốt, Nguyệt cốt, xương Phúc đường, Long giác, Hổ giác, Ngưu giác và xương ấn đường; ai có đủ tám thì làm quan lớn, hiển đạt tám phương. Nặc tê chỉ xương tai đầy cao, hoặc xương trán kéo từ trên xuống chân tóc như sừng tê, đều là tướng sang. Huyền cổ là xương trán nhô như chiếc trống treo; huyền tế cốt là phần trán chính giữa, trên xương ấn đường, nhô cao đầy đặn, tướng đại quý. Tế hình là người có Thiên đình thẳng, ấn đường rộng, mũi cao, đi đứng ngẩng đầu, cũng là tướng sang. Tiên cốt chỉ cốt tướng siêu phàm, thoát tục.
Sau tai và đầu có thêm nhiều xương tốt: ngọc đường cốt (còn gọi ngọc giai cốt) là xương sau hai tai nhô lên; ngọc lâu cốt là xương nhỏ hiện trên tai, chủ giàu sang; ngọc lương cốt là xương ngang từ hai gò má kéo liền tới hai tai, điềm trường thọ; ngọc chẩm là xương chẩm sau não, phát triển thì phúc lộc; tinh đài cũng là vùng sau não, nếu có xương thì gọi là xương chẩm đầu, nhô lên thì giàu sang, thấp hãm thì nghèo hèn. Thọ tinh cốt còn gọi xương thọ đường, là xương sau tai to và nhô lên.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
