Bài tổng quan
Bát tướng, bát học đường, chín tướng tốt xấu và cửu châu đảo
Chín thành tám thành là hạng được tôn kính, một hai thành chỉ có chút vẻ vang, còn không thành nào thì cả đời chìm nổi. Tám loại tướng cách, tám học đường và chín tướng tốt xấu của người nữ còn kể thêm điều gì...
Mục lục · 9 phần
- 01Ác tướng, ấn đường, anh đào khẩu: những từ mở đầu bộ thuật ngữ tướng học
- 02Bát thái, băng giám, bát cực lai: lông mày tám màu, bảy thiên và gương băng
- 03Tướng tai cao quá mày, tướng bạc nhược, tám loại tướng cách
- 04Bát học đường, bát tự mi, bạch nhãn, bách hội
- 05Bào y tử sắc, Bắc nhạc, tướng lưng, cao minh bộ học đường, đầu hươu mắt chuột
- 06Chiết trừ chi tướng, chẩm cốt, chí nhân vô sắc
- 07Cung tài bạch, cung thái thính, cung bảo thọ, cung xuất nạp
- 08Nhân trung, cô tướng, cốt cách, cốt tướng, cung quan lộc
- 09Cửu thành chi thuật, cửu cốt, cửu ác tướng, cửu thiện tướng, cửu châu đảo
Ác tướng, ấn đường, anh đào khẩu: những từ mở đầu bộ thuật ngữ tướng học
Ác tướng chỉ những hình thể, ngũ quan, thần sắc không đẹp. Cụ thể: đầu nhọn trán hẹp, lông mày dày, tóc như cháy sém, tai cong, lưỡi lộ, miệng rộng, môi mỏng, nhiều mạch máu trong mắt, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, thần thái hớt hải, mặt mày xanh xám, chóp mũi nhọn, cằm hạp khuyết. Người có hình tướng ấy thường vô phúc vô thọ.
Ấn đường là một trong mười ba bộ vị, nằm giữa hai đầu lông mày, trên sơn căn. Cũng gọi là khuyết đình, nhị khấu cung, phúc đường, sao Tử khí, quan duyên cung, quang đại bộ học đường. Ấn đường nằm giữa hai chân mày; mắt sáng, sắc sáng, thần thái sáng sủa là tốt.
Anh đào khẩu chỉ miệng người con gái hồng tươi như hoa anh đào. Âm tướng chỉ tướng âm thanh, giọng nói, và cả dư âm của giọng nói. Âm tửu, còn gọi là lệ đường, là bộ vị dưới mắt; chỗ này nhô lên, thịt đầy đặn thì chủ về thông minh và nhiều phúc thọ.
Bát thái, băng giám, bát cực lai: lông mày tám màu, bảy thiên và gương băng
Bát thái là tám màu: lông mày được chia làm tám loại màu sắc, giới tướng thuật coi đây là một loại dị tướng. Người ta nói: lông mày có tám màu, từ sống mũi nhìn xuống tám phương trên khuôn mặt mà không có bộ vị nào lệch là tướng tốt.
Băng giám là tên một bộ sách tướng học kinh điển, chia làm bảy thiên: thần cốt, cương nhu, dung mạo, tình thái, mi tu, thanh âm, khí sắc. Như dùng băng làm gương, soi đến tận cùng sợi lông mùa thu, nên cả bộ sách như một chiếc gương băng dùng để so với thuật xem tướng người.
Bát cực lai chỉ việc từ mũi mà nhìn thấy cả khuôn mặt, các bộ vị đều hợp cách, không bộ vị nào khuynh lệch; đó là tướng tốt. Khi lấy mũi làm điểm cao nhất của khuôn mặt mà nhìn, thấy được các bộ vị khác và không chỗ nào nghiêng lệch thì là tướng tốt.
Tướng tai cao quá mày, tướng bạc nhược, tám loại tướng cách
Bá thân nhĩ là loại tai có đỉnh cao hơn lông mày. Người có tai ấy ít bệnh, thọ cao, tài trí hơn người. Bạc tướng là một trong tám tướng, chỉ tướng mạo bạc nhược: người xinh đẹp mà không có thần thì yếu ớt; như tường mỏng dễ đổ, rượu nhạt dễ chua, chỉ mỏng dễ đứt, cuộc sống người ấy cũng chẳng dài lâu. Bất dương chỉ tướng mạo bình thường.
Bát tướng là tám loại tướng cách. Thứ nhất là uy: tôn nghiêm. Thứ hai là hậu: tướng mạo phúc hậu, đầy đặn. Thứ ba là thanh: thần thái đẹp đẽ; thanh mà không hậu thì gần chỗ bạc. Thứ tư là cổ: khí cốt nổi trội; cổ mà không thanh thì gần chỗ thô tục. Thứ năm là cô: xương cốt lạnh lẽo cô độc, xương vai dài lệch lên sau não, ngồi vẹo một bên, đi như bị vướng, giống một con hạc bên mép nước. Thứ sáu là bạc: thân thể suy nhược, hình thể nhẹ bẫng, khiếp sợ, sắc hôn ám, thần khí lộ mà không ẩn, như chiếc thuyền lá giữa sóng lớn. Thứ bảy là ác: hình dung hung hãn ngoan cố như rắn chuột, sói lang, tính tình hung bạo, xương cốt tổn thương, khí chương bị phá. Thứ tám là tục: hình mạo hôn trọc như chìm trong lớp bụi.
Bát học đường, bát tự mi, bạch nhãn, bách hội
Gương mặt có tám nơi như tám lớp học, mỗi nơi dạy một điều về người.
Bát học đường: thứ nhất là cao minh bộ học đường, tức đỉnh trán, xem đầu não, trí tuệ. Thứ hai là cao quảng bộ học đường, tức góc trán, xem đầu não, trí tuệ và sự nghiệp. Thứ ba là quang đại bộ học đường, tức ấn đường, xem quan lộ và thọ mệnh. Thứ tư là minh tú bộ học đường, tức đôi mắt, xem quan lộ, chức vị, quyền cao hay thấp. Thứ năm là thông minh bộ học đường, tức tai, xem sự thông minh và danh tiếng. Thứ sáu là trung tín bộ học đường, tức răng, xem sự tín hiếu và đức độ lời ăn tiếng nói. Thứ bảy là quảng đức bộ học đường, tức đầu lưỡi, xem đạo đức và chương thảo. Thứ tám là ban tuần bộ học đường, tức lông mày, xem sự thọ yểu.
Bát tự mi là lông mày hình chữ bát, hướng ra ngoài chếch xuống dưới. Theo tướng học, người có loại mày này là tướng vô phúc: nam có thể bỏ mạng nơi đất khách, nữ thường là người bất chính. Bạch nhãn chỉ mắt có nhiều tròng trắng, chủ về người tính cách thô bạo. Bách hội là bộ vị ở giữa đỉnh đầu; đầy đặn thì nhiều phúc lộc. Bạn duẫn bộ học đường là một trong bát học đường, chỉ các nếp nhăn trên trán; ngay ngắn thì tốt, không thì chủ về loạn.
Bào y tử sắc, Bắc nhạc, tướng lưng, cao minh bộ học đường, đầu hươu mắt chuột
Bào y tử sắc chỉ bào thai khi đứa trẻ chào đời có màu tía. Bắc nhạc chỉ núi Hằng sơn; ở đây chỉ phần phía trên của khuôn mặt. Bối tướng là tướng lưng, phần phía sau cơ thể; lưng được xem là nền móng của thân thể, lưng đẹp là lưng đầy đặn, ngay ngắn, rộng không thô tục, bằng phẳng mà tươi nhuận.
Cao minh bộ học đường chỉ bộ phận đầu; đầu ngay ngắn, tròn hoặc có hình dạng đặc biệt là tướng tốt. Chương đầu thử mục chỉ tướng đầu nhỏ xương lộ, mắt lõm, tròng tròn; người có tướng ấy tâm thuật bất chính, hành vi gian trá.
Chưởng bát quái là cách dùng tám quẻ của Chu Dịch thay cho tám bộ vị trên bàn tay để đoán vận mệnh. Tám bộ vị ấy đầy đặn thẳng nhã thì đẹp, thấp hãm, có nếp vằn phá là xấu. Càn là thiên môn, tượng cho cha, thuộc Tuất Hợi, Kim. Khảm là hải môn, chủ căn cơ nền móng, thuộc Tý Sửu. Chấn chủ thê thiếp, lập thân, thuộc Mão, Mộc. Tốn chủ tài bạch, lộc mã, thuộc Thìn Tỵ, Mộc. Cấn chủ điền trạch, mộ phần, thuộc Sửu Dần, Thổ. Ly chủ quan lộc, thuộc Ngọ, Hỏa. Khôn chủ phúc đức, cha mẹ, thuộc Mùi Thân, Thổ. Đoài chủ tử tức, nô bộc, thuộc Dậu, Kim.
Chiết trừ chi tướng, chẩm cốt, chí nhân vô sắc
Chiết trừ chi tướng là hình tướng có cả điều tốt lẫn điều xấu: trán tuy to nhưng má nhọn, xương tuy to nhưng da thô, mắt tuy dài nhưng phá mày, miệng tuy vuông nhưng thanh như ngựa hí, lưng tuy to nhưng tay như chùy, miệng tuy vuông nhưng răng không bằng, khí tuy trong nhưng đi đứng ẻo lả, eo tuy đầy đặn nhưng đi như ngựa, lời nói tuy hay nhưng lại ngu, mắt sáng nhìn rõ nhưng nằm yên mà ăn nhiều, đầu tuy dài nhưng khuỷu tay cong. Người ấy tốt xấu đều có: hoặc giàu nhờ trời, hoặc nghèo mà thọ, hoặc quý mà nghèo, hoặc trước giàu sau nghèo, hoặc trước quý sau bần tiện.
Chẩm cốt, còn gọi là ngọc chẩm, chỉ xương sau não. Đầu trán kỳ dị mà không có xương não nhô lên thành chẩm cốt thì kém; người có chẩm cốt như núi có ngọc, sông biển có châu. Bộ vị sau não còn gọi là tinh đài; nếu có xương nhô lên thì gọi là chẩm cốt, phát triển to thì giàu sang, thấp hãm là tướng bần tiện.
Chí nhân vô sắc: chí nhân là bậc hiển nhân, đức độ cao, được tu dưỡng rèn luyện thâm hậu, không bị ràng buộc bởi ngoại cảnh; người an ổn như đất bằng, như cây khô là người không đổi sắc khí. Chưng sài thanh chỉ đầu não nhô lên như xương trợ của đầu con cò, âm thanh như tiếng hú của loài lang sói; đó là tướng hung tàn, ít trọng ân nghĩa.
Cung tài bạch, cung thái thính, cung bảo thọ, cung xuất nạp
Cung tài bạch, còn gọi là tài tinh, chỉ mũi, một trong mười chín cung; tướng mũi phản ánh sự giàu nghèo. Cung thái thính là cơ quan thính giác thuộc ngũ quan, chỉ hai tai; tai tốt phải ngay ngắn, màu sắc tươi nhuận, cao quá mày, vành tai rõ rệt, dái tai dày dặn, lỗ tai to rộng.
Cung bảo thọ chỉ đôi lông mày: khoảng cách giữa hai hàng mày rộng rãi, dài, thanh tú hoặc như dáng trăng non mới mọc, hai đầu và đuôi mày nằm trong khuôn trán, làm thành cung bảo thọ. Cung xuất nạp chỉ miệng: miệng phải vuông vắn, rộng, môi hồng đầy đặn, mở ra thì rộng, khép lại thì hẹp.
Nhân trung, cô tướng, cốt cách, cốt tướng, cung quan lộc
Nhân trung nên ngay ngắn, sâu, dài, không nên đầy bằng. Người nhân trung sâu và dài thì nhiều con cháu; nhân trung đầy bằng thì khắc con cháu.
Cô Bố Tử Khanh là nhà tướng thuật thời Xuân Thu. Cô tướng là một trong bát tướng, chỉ tướng người cô độc. Cổ tướng lấy hình mạo, thần thái chất phác cổ xưa làm đặc điểm của quý tướng: dáng vẻ giản dị, mộc mạc. Cốt tỵ chỉ tướng mũi gầy nhỏ lộ xương; người có tướng ấy gặp nhiều vận rủi, quan hệ không tốt với người thân, dễ phá tài.
Cốt pháp, còn gọi là cốt cách, chỉ tướng xương đặc trưng của con người; giới tướng thuật cho rằng cốt cách ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ và sự giàu nghèo quý tiện. Cốt tướng là từ chỉ chung hình tướng và cốt cách, lại có cách nói chuyên chỉ tướng gân tướng thịt: cốt là vua, thịt là bầy tôi; cốt cách và hình tướng chiếm vị thế chủ đạo trong thân thể.
Cung quan lộc là một trong mười hai cung, nằm trên ấn đường, giữa trán; rõ ràng sáng sủa thì người ấy tài năng hơn người. Cung học đường là một trong tứ học đường, chỉ hai mắt; mắt nên dài và trong trẻo, chủ về quan chức. Cảnh tướng là tướng cổ, cũng như hạng tướng.
Cửu thành chi thuật, cửu cốt, cửu ác tướng, cửu thiện tướng, cửu châu đảo
Cửu thành chi thuật nói về chín đặc trưng tinh thần khí chất của con người: tinh thần, hồn phách, hình dáng dung mạo, sắc khí, động tác cử chỉ, hành động, cách nhìn nhận, tài trí, đức hạnh. Thần thái phân minh là thành thứ nhất; thần thái thanh nhã là thành thứ hai; dáng mạo an ổn là thành thứ ba; sắc khí sáng sủa là thành thứ tư; hành vi cử chỉ rõ ràng là thành thứ năm; hành động có hàm nghĩa là thành thứ sáu; cách nhìn nhận trong sáng ngay thẳng là thành thứ bảy; tài trí ứng phó nhanh nhẹn là thành thứ tám; đức hạnh có phép tắc là thành thứ chín. Số thành nhiều hay ít đại diện cho phúc lộc nhiều hay ít. Chín thành, tám thành là hạng được tôn kính trên hết; năm, sáu thành là hạng ở giữa; ba, bốn thành là hạng có phẩm cách; một, hai thành là hạng có chút vẻ vang. Có được một thành cũng đã là tốt; nếu không có thành nào, cũng không có cốt cách, thì cả đời trầm luân.
Cửu cốt là chín loại tướng cốt ở đầu liên quan vận mệnh: quyền cốt, dịch mã cốt, tướng quân cốt, nhật giác cốt, nguyệt giác cốt, long cung cốt, thần ngao cốt, long giác cốt.
Cửu ác tướng (chín tướng xấu) ở người nữ: một là diện mạo xấu, xương gò má cao thẳng; hai là hầu và răng lộ ra, khắc chồng; ba là không có chuyện gì cũng gây tiếng thị phi, thể hiện ở đầu tóc rối như cỏ bông; bốn là không khéo giữ nhà cửa, thể hiện ở cử chỉ ngạo mạn, nhìn như chuột; năm là vì bần tiện mà thần thái bấn loạn, thể hiện ở hai mày đậm giao nhau; sáu là ganh ghét họ hàng, thể hiện ở mũi thấp có vằn nếp; bảy là khắc hại con trai, thể hiện ở thân thể suy nhược, mắt trắng dã; tám là dạ nghĩ gian ác như lang sói, thể hiện ở tiếng nói hung bạo giống giọng đàn ông; chín là tâm tính cứng cỏi hung bạo, khó đưa vào nền nếp, thể hiện ở nốt ruồi dưới cổ mọc râu.
Cửu thiện tướng (chín tướng tốt) của phụ nữ: đầu tròn trán bằng là điều tốt thứ nhất; xương nhỏ da trơn là thứ hai; môi hồng răng trắng là thứ ba; mắt dài mày thanh là thứ tư; ngón tay đầy đặn, vân tay nhỏ như tơ là thứ năm; âm thanh trong như nước là thứ sáu; cười mà không lộ răng là thứ bảy; động tác đi đứng nằm ngồi đoan trang là thứ tám; thần thái thanh nhàn, da dẻ hồng tươi là thứ chín.
Cửu châu đảo: tướng học dùng tên chín châu của xứ Trung Hoa xưa là Ký, Dương, Thanh, Ung, Dự, Kinh, Từ, Lương, Duyện để chỉ chín bộ vị: dưới môi, trên ấn đường, gò má phải, dưới lúm đồng tiền bên trái, sống mũi, mắt trái, dưới đuôi chân mày, dưới đuôi chân mày mắt phải, gò má trái, dưới lúm đồng tiền bên phải. Chín đảo từ trái qua phải không ngoằn ngoèo thì không bại tuyệt; hình dạng như lá gan cũng là tốt; từ chóp mũi nhìn thấy được tám phương mà không nơi nào nghiêng lệch thì là tốt.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
