Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Phúc Đức: Hoạt Động Tư Tưởng Và Sự Hưởng Thụ Tinh Thần

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202627 phút đọc2 lượt đọc
Cung Phúc Đức: Hoạt Động Tư Tưởng Và Sự Hưởng Thụ Tinh Thần

Có người nhìn bề ngoài thì danh thành công toại, ai cũng ngưỡng mộ, nhưng nội tâm đang đau khổ mà không ai biết. Lại có người chỉ vừa đủ no ấm, mà trong lòng lúc nào cũng vui. Cung mệnh và cung thân quản phần hưởng thụ vật chất, còn niềm vui hay nỗi khổ bên trong thuộc về cung phúc đức. Cung này đối với cung tài bạch, hội chiếu cung phu thê và cung thiên di, nên đời sống tinh thần vẫn bị tiền bạc, hôn nhân và chuyện đi hay ở ràng buộc. Vũ Khúc hưởng phước vì ít nghĩ xa, Thiên Đồng hưởng phước vì tâm trạng vui vẻ, Thái Âm gặp Thái Dương thì có phước nhờ những lúc thiếu tinh thần tích cực. Vậy người bận rộn như Liêm Trinh, Phá Quân Hóa Kị, tìm thấy lạc thú ở đâu?


Cung phúc đức: hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần

Tác dụng của cung phúc đức trong Đẩu Số là dùng để luận đoán hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần của một người. Nếu so với cung mệnh và cung thân, có thể nói cung mệnh và cung thân là chủ về hưởng thụ vật chất, vận trình thực tế, còn cung phúc đức thì chủ về những thứ trừu tượng hơn.

Có một số người nhìn bề ngoài thì thấy danh thành công toại, khiến người ta phải ngưỡng mộ, nhưng có thể nội tâm của anh ta đang đau khổ mà người ngoài cuộc không biết. Đây là vì cung mệnh và cung thân của anh ta tốt, nhưng cung phúc đức lại có những khiếm khuyết đáng tiếc; hoặc ngược lại, có một số người chỉ được no ấm thôi, nhưng nội tâm của họ lại rất vui vẻ, đây là do cung mệnh và cung thân không tốt mấy, nhưng cung phúc đức lại tốt.

Cung phúc đức và cung tài bạch đối nhau, có thể thấy sinh hoạt tinh thần vẫn không thoát khỏi sự ràng buộc của tài phú; hội chiếu với "cung phu thê", cũng đủ thấy sự hưởng thụ tinh thần của một người có tương quan mật thiết với sinh hoạt hôn nhân; cũng tương hội với cung thiên di, là do hoạt động tư tưởng của người ta có thể ảnh hưởng đến động hướng người đó. Ở quê nhà hay đi xa để tìm hướng phát triển, thường chỉ quyết định trong một niệm.

Những điều trình bày trong tiết này sẽ lấy tình trạng tốt xấu của sự hưởng thụ tinh thần làm điểm chính yếu. Còn về phương diện hoạt động tư tưởng, do mỗi người được giáo dục ở nhiều mức độ khác nhau, rất khó tiến hành giảng giải một cách cụ thể, chỉ có thể đưa ra một số điểm chính yếu quan trọng.

Khi luận đoán cung phúc đức, lấy các sao ở cung phúc đức của thiên bàn làm chủ, dùng để luận đoán bản chất tư tưởng và xu thế chủ yếu về phương diện hưởng thụ tinh thần của mệnh tạo. Cung phúc đức của đại hạn và lưu niên (nhân bàn) dùng để xem biến thiên theo từng năm mà luận đoán sự thay đổi. Như cung phúc đức của thiên bàn là Tử Vi, tức Tử Vi là bản chất, trong một vận trình gặp Thiên Cơ ở cung phúc đức của đại hạn, tinh thần đôn hậu vững vàng của Tử Vi vẫn không thay đổi, nhưng lại chủ về mệnh tạo sau khi lớn lên sẽ tăng thêm tính linh động, mưu trí và quyền biến. Như vậy khi luận đoán nhất thiết không được xem thường tính chất chủ yếu của cung phúc đức nguyên cục.

Chuỗi sao Tử Vi ở cung phúc đức: từ chủ kiến của đế tinh đến tình cảm Liêm Trinh

Thế giới bên trong cũng có vua có tôi: đế tinh đem chủ kiến của mình vào tận chốn riêng tư nhất, còn những sao theo sau thì mỗi sao một cách bận lòng.

Tử Vi

Tử Vi thủ cung phúc đức, thông thường đều chủ về có nhân phẩm đôn hậu ôn hòa, nhưng tính chủ quan rất mạnh. Bởi vì Tử Vi là đế tinh, tự nhiên sẽ ưa lấy ý kiến của mình làm ý kiến chung của mọi người.

Tử Vi có các sao phụ tá hội hợp, hoặc được "bách quan triều củng", thì chủ kiến của mệnh tạo tuy mạnh, nhưng vẫn biết nghe ý kiến của người khác để suy tính thêm. Nếu không có các sao cát hội chiếu, thì thành kiến rất nặng.

Nếu Tử Vi không có các sao cát hội hợp, mà có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì chủ về thích triết lí, nếu lại gặp thêm Hoa Cái đồng độ, mệnh tạo ắt thích nghiên cứu tôn giáo. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, lại gặp sát tinh, có thể nghiên cứu toán lí và khoa học ứng dụng.

Tử Vi thủ cung phúc đức, thông thường chủ về tư tưởng cao thượng, hoặc có ham muốn lãnh đạo và ưa chi phối người khác.

Tử Vi nếu có Đà La đồng độ, thì chủ về hay suy nghĩ tự làm cho mình bối rối khó xử, không có chuyện gì đáng mà cứ buồn phiền.

Tử Vi nếu có tứ sát tinh hội hợp, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì phần nhiều tinh thần hay buồn phiền nóng nảy; nếu lại có Hóa Kị hội chiếu, thì chủ về lo nghĩ nhiều.

Tử Vi có Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng đồng độ, đều chủ về tinh thần vui vẻ cởi mở; có thêm sát tinh thì sinh buồn phiền, tinh thần bị quấy rối.

Tử Vi có Tham Lang đồng độ, hội các sao đào hoa, chủ về có sở thích hưởng thụ thi tửu, cầm kì, hoặc trăng gió, cờ bạc; nếu hội Văn Xương, Văn Khúc thì thích văn nghệ, nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì nhạy cảm về văn nghệ.

Tử Vi có Thất Sát đồng độ, hội cát tinh thì thích lộng quyền, hội sao hung sát thì hay buồn phiền, nóng nảy, bất an, hoặc làm việc thiếu suy nghĩ.

Tử Vi có Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về ưa đích thân ra sức, đích thân làm, mà còn thường thay đổi chủ ý; nếu hội cát tinh thì còn được, nếu hội các sao hình, sát thì chủ về thân tâm vất vả, sáng ra lệnh chiều đổi ý, nhưng vất vả mà lại tự cảm thấy hài lòng.

Thiên Cơ

Thiên Cơ ở cung phúc đức, thông thường chủ về có tư tưởng nhạy bén, nhưng cũng chính vì vậy khiến tinh thần của mệnh tạo không được yên.

Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, lại chủ về làm việc lo trước sợ sau, gặp chuyện không cách nào giải quyết vấn đề, dẫn đến tiến thoái thiếu chừng mực, nhiều lo nghĩ ưu phiền.

Nếu Thiên Cơ có Kình Dương, Đà La hội chiếu, thì chủ về tự tìm buồn phiền, không có chuyện thì tự tìm cho ra chuyện, dẫn đến suốt ngày bận rộn bôn ba.

Nếu Thiên Cơ có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao hội chiếu, thì chủ về không có hưởng thụ tinh thần, suốt ngày bôn ba bận rộn, tâm buồn phiền, thân không được yên tịnh.

Nếu Thiên Cơ có cát tinh hội chiếu hoặc đồng độ, thì chủ về lao tâm mà thân nhàn, nhưng tình trạng lao tâm cũng không đến nỗi không giải quyết được để dẫn đến những tình huống bối rối khó xử một cách vô vị. Nhưng mệnh tạo là người theo đuổi sự hưởng thụ tinh thần, hoặc để giết thời gian, nên ưa học nhiều thứ nhưng lại không thích đào sâu.

"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, chủ về sốc nổi, không thiết thực, đa nghi, giỏi biện luận, nhanh trí, tháo vát, nhưng thích phiền phức, thị phi. Nếu hội sao cát thì nhiều lo toan nghĩ ngợi nhưng thân nhàn; hội các sao sát, kị mới lao tâm lao lực.

"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ, chủ về thân tâm vất vả, biểu hiện bề ngoài là một người thích náo nhiệt, nhưng thực ra nội tâm lại ưa thanh tĩnh. Hơn nữa, lúc có Văn Xương, Văn Khúc tương hội, hoặc gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ, mệnh tạo ắt sẽ thích văn nghệ.

"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ, dù gặp sát tinh vẫn chủ về có thể nhàn nhã theo đuổi sự hưởng thụ tinh thần trong tình trạng bận rộn. Nhưng nếu Thiên Cơ Hóa Kị, thì có khuynh hướng bi quan tiêu cực, hoặc tâm tư hay than trời trách đất, dễ mũi lòng, thương cảm cảnh ngộ của người khác.

Thái Dương

Thái Dương không lúc nào ngừng di động trên bầu trời, do đó lúc thủ cung phúc đức, chủ về bôn ba, bận rộn không ngừng nghỉ, nhưng thân vất vả nhưng chưa chắc đã lao tâm.

Nếu có sao phụ, tá cát hội hợp, hoặc được "bách quan triều củng", thì chủ về thành tựu sự nghiệp trong sự bận rộn, vất vả.

Nếu gặp tứ sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp hội chiếu, thì chủ về bôn tẩu không yên, còn hay hao phí sức lực một cách vô ích. Nếu có sao cát đồng thời hội chiếu, thì vẫn chủ về có thành tựu.

Thái Dương Hóa Kị, chủ về dễ chuốc thị phi, hay tự đặt mình vào tình huống bối rối khó xử, vất vả một cách vô ích; nếu gặp thêm sát tinh, chủ về hay nhận lỗi thay cho người khác, dẫn đến tinh thần không yên.

"Thái Dương, Thái Âm" đồng độ, gọi là "âm dương điều hòa", chủ về mệnh tạo tuy bôn ba vất vả, nhưng vẫn có thể hưởng thụ sinh hoạt tình cảm một cách thú vị. Nếu có sao cát hội hợp, thì lại có thể chỉ huy để người khác làm, giảm bớt vất vả.

"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ, ngoài đặc tính vất vả thân xác của Thái Dương, còn có đặc tính lao tâm của Cự Môn, vì vậy lúc nào cũng bôn ba bận rộn, lao tâm phí sức. Nếu Hóa Kị còn chủ về ít có sự hưởng thụ tinh thần.

"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ, không những không chủ về bôn ba bận rộn, trái lại sẽ chủ về có phương thức sống đặc biệt, hơn nữa, còn có tác phong quý phái của bậc danh sĩ, ra vẻ chẳng quan tâm điều gì, mọi sự coi như không có, và lười biếng. Nếu Thái Dương lạc hãm, có thể vì trây lười mà ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp.

Thái Dương thủ cung phúc đức, nhập miếu, chủ về nhiệt tình với người phối ngẫu, sinh hoạt hôn nhân có nhiều lạc thú. Nếu gặp các sao đào hoa, thì nên đề phòng mệnh tạo không thể phối hợp với người phối ngẫu một cách hài hòa.

Vũ Khúc

Vũ Khúc ở cung phúc đức là sao thiện, chủ về có thể hưởng phước. Nhưng hưởng phước ở đây có thể là vì mệnh tạo thiếu cái nhìn xa, gặp chuyện thì xông tới, vì vậy không lao tâm. Cho nên cần phải được các sao cát hội hợp, hơn nữa, Vũ Khúc phải nhập miếu, mới chủ về giỏi quyết đoán, lúc đó mới đúng là hưởng phước. Nếu Vũ Khúc lạc hãm, có thể vì sinh hoạt vật chất mà lao tâm tổn thần.

Vũ Khúc Hóa Kị, thường vì lo lắng về tiền bạc mà thân tâm đều vất vả.

Vũ Khúc có Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu, lại gặp Đà La, chủ về bôn ba bận rộn, mà tâm còn buồn phiền.

Nếu Vũ Khúc có Thất Sát đồng độ hoặc hội chiếu, lại gặp Thiên Mã, thì chủ về vất vả mà không có thành tựu, hoặc vất vả nhiều mà thành tựu ít. Nếu gặp sát tinh, thì càng thêm nóng vội; có cát tinh hội chiếu, thì lao tâm mà có thành tựu.

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ, gặp cát tinh thì có thể hưởng thụ, gặp các sao sát, kị, hung, thì chủ về lần lữa, do dự, thiếu quyết đoán, vì vậy mà tăng thêm khó khăn trong cách xử sự, dẫn đến tâm thần không yên.

Vũ Khúc có Tham Lang đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về ưa hưởng thụ phong hoa tuyết nguyệt. Gặp thêm Hàm Trì, Thiên Diêu, càng dễ rơi vào chuyện trăng gió. Nếu có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ, thì nhiều dục vọng, sự hưởng thụ tinh thần nặng về ham muốn vật chất.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ, có sao cát hội chiếu, có thể được hưởng thụ. Nếu gặp sát tinh, thì chỉ đến vãn niên mới có thể hưởng phước thanh nhàn. Lúc trẻ và trung niên có biểu hiện tinh thần quyết đoán, nhưng nội tâm thường thay đổi nên hao tổn tinh thần.

Thiên Đồng

Thiên Đồng hóa khí thành "phúc", vì vậy rất nên nhập cung phúc đức, đây cũng là sao rất tốt của cung phúc đức, chủ về được hưởng phước.

Thiên Đồng chủ về hưởng phước, khác với cách hưởng phước của Vũ Khúc. Vũ Khúc là sao tiền tài, cho nên cách hưởng phước nặng về tiền bạc và vật chất, sự hưởng thụ tinh thần phần nhiều cũng do vật chất mang lại. Thiên Đồng là sao phúc, sự hưởng thụ lớn nhất của nó là có được tâm trạng vui vẻ.

Sự hưởng phước của Vũ Khúc có thể là do tính ít lo toan nghĩ ngợi, nhưng sự hưởng phước của Thiên Đồng lại có thể do người khác an bài cho mệnh tạo, cho nên bản thân vốn không cần lo toan nghĩ ngợi, như vậy cũng dễ tăng thêm tính lười biếng của Thiên Đồng.

Sự hưởng phước của Thiên Đồng cũng khác với Tử Vi và Thiên Phủ. Sự hưởng phước của Tử Vi và Thiên Phủ là do ở danh thành công toại, cho nên cuộc sống an nhàn. Còn Thiên Đồng tuy là sao phúc, nhưng không chủ về danh lợi, bất kể cảnh ngộ như thế nào cũng chỉ là được hưởng thụ sinh hoạt tình cảm thú vị.

Do đó người có Thiên Đồng thủ cung phúc đức, nếu nhập miếu, trong lòng thường vui vẻ, tính tình chất phác. Dù đang làm việc, cũng có niềm vui trong công việc, họ có thể tìm thấy sự thú vị trong lúc làm việc.

Thiên Đồng thủ cung phúc đức, thường chủ về ưa thích âm nhạc. Gặp sao văn, thì ưa thích văn nghệ; gặp các sao đào hoa, thì ưa thích trang điểm, chải chuốt, mà lối sống có phẩm vị đặc biệt.

Thiên Đồng có các sao sát, kị, hình, hao hội hợp, vẫn chủ về tinh thần vui vẻ, nhưng sinh hoạt vật chất không dư giả. Cho nên có thể là người an bần lạc đạo.

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ, thông thường chủ về hưởng thụ; nhưng nếu Thái Âm Hóa Kị, thì chủ về có bề ngoài hưởng thụ mà nội tâm thực ra nhiều buồn phiền, bất an.

"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ, cần phải không có sát tinh hội chiếu, mới có thể an hưởng. Nếu gặp sát tinh, thì nhiều ảo tưởng, không thực tế; sự hưởng thụ tinh thần của mệnh tạo biến thành chìm đắm trong giấc mộng giữa ban ngày; có Thiên Hư đồng độ thì càng đúng.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ, không nên có thêm Thiên Mã hội hợp, chủ về phiêu lưu vô định. Nếu lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì rơi vào tình huống lưu lạc chia li, có điều, mệnh tạo lại lấy sự lãng đãng làm niềm vui. Nếu không có Địa Không, Địa Kiếp và Thiên Mã, thì chủ về sinh hoạt vật chất an định, sinh hoạt tinh thần phong phú; nếu hoàn toàn không gặp sát tinh, thì ưa thích cuộc sống của bậc danh sĩ "lạc thiên tri mệnh".

Liêm Trinh

Liêm Trinh thủ cung phúc đức, thông thường chủ về bận rộn, vất vả, hoặc tuy giàu có nhưng vẫn nhiều lo lắng, thích bôn ba bận rộn; hoặc chủ về không chú ý cách bài trí nơi mình sinh sống, có cảm giác hỗn loạn. Liêm Trinh Hóa Kị thì càng đúng.

Liêm Trinh được hội sao cát, vẫn chủ về bận rộn, vất vả, nhưng nhiều hưởng thụ.

Liêm Trinh thủ cung phúc đức, chủ về thích cuộc sống căng thẳng, đầu óc cũng không được bình tĩnh, hơn nữa, tư tưởng thì như ngựa phi vượn nhảy, không thể chuyên chú suy nghĩ vào một vấn đề.

Liêm Trinh có Hỏa Tinh và Linh Tinh đồng độ, chủ về tính tình hời hợt nóng nảy. Liêm Trinh có Kình Dương và Đà La đồng độ, thường không thể nhẫn nhịn người khác, dễ xảy ra tranh chấp, hay có tình huống bối rối khó xử.

Liêm Trinh Hóa Kị thủ cung phúc đức, thì thường thấy cập rập suốt ngày, lo nghĩ nhiều nhưng phần nhiều lại không có căn nguyên, không có ý niệm kiểm soát. Nếu lại có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì sinh hoạt vật chất túng thiếu, còn tinh thần thì cảm thấy trống rỗng. Gặp các sao sát, hình, kị nặng thì đời người không có lạc thú.

Liêm Trinh ưa có Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng đồng độ hay hội chiếu, không có sao hung, chủ về tính tình khoan dung đôn hậu, vững vàng. Gặp thêm cát tinh, thì cuộc đời hưởng thụ vui vẻ; có điều cuộc sống vẫn náo nhiệt và bôn ba bận rộn.

"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ, chủ về hiếu động, trôi nổi, bôn ba bận rộn, tinh thần có khuynh hướng hưởng thụ vật chất. Nếu lại có các sao đào hoa hội hợp, thì cuộc đời phong lưu, tự đánh giá mình cao; nếu sát tinh nặng thì bạc phước.

"Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ, chủ về cuộc đời bận rộn, vất vả, dù có thêm sao cát hội chiếu, thân tâm vẫn bất an, hơn nữa, mệnh tạo còn không giỏi suy nghĩ, thường hay có tính võ đoán.

"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ, chủ về không chịu yên tịnh, hay do dự, thiếu quả quyết, vì vậy khi hành động dễ xảy ra thay đổi, làm tăng bận rộn vất vả và lo nghĩ. Nếu Hóa Kị, thì suốt đời không có ngày nào hưởng thụ an nhàn; chỉ biết mang hết tâm tư tình cảm gởi vào trong công việc, đạt được thành công trong sự gian khổ, đó là lạc thú lớn nhất của người này.

Chuỗi sao Thiên Phủ ở cung phúc đức: từ sự vững vàng đến cái mới của Phá Quân

Sang chuỗi Thiên Phủ, nỗi bận lòng đổi sắc: không còn là bôn ba của thân xác, mà là cách mỗi người tự giữ lấy sự yên ổn trong lòng, hoặc tự tay phá nó đi.

Thiên Phủ

Thiên Phủ nhập cung phúc đức, chủ về tư tưởng vững vàng, khoan dung, đôn hậu, nếu người khác phạm sai lầm, thường có lòng tha thứ.

"Thiên Phủ, Lộc Tồn" đồng độ, phần nhiều mang hết tinh thần dồn vào việc quản lí tài chính. Gặp Đà La đồng độ, chủ về có tính keo kiệt, bủn xỉn.

Thiên Phủ thủ cung phúc đức, cuộc đời của mệnh tạo truy cầu một cuộc sống ổn định, cho nên rất xem trọng lợi ích trước mắt, lúc có công việc mới, hoặc lúc cần phải cải cách công việc cũ, họ lại cảm thấy căng thẳng, lo nghĩ nhiều.

Thông thường, hội các sao phụ, tá cát, thì chủ về yên ổn. Nếu có Đà La, Hỏa Tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì phần nhiều hay lo nghĩ một cách vô căn cứ. Nếu có Kình Dương, Thiên Hình đồng độ hoặc hội chiếu, thì lòng nhiều phiền muộn. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đồng độ, thì chủ về không được yên tịnh, ngày đêm bận rộn vất vả.

"Thiên Phủ, Tử Vi" cùng thủ cung Dần, có thể hưởng phước thực sự, cuộc đời ít lo nghĩ, có thể thanh nhàn.

Thiên Phủ có Vũ Khúc và Thất Sát đồng thời hội chiếu, thì chủ về lao tâm mà thân nhàn.

Thiên Phủ có Liêm Trinh đồng độ hoặc hội chiếu, cả đời cảm thấy thiếu thốn sự hưởng thụ tinh thần, còn hưởng thụ vật chất thì không lo.

Thái Âm

Thái Âm thủ cung phúc đức, nhập miếu, chủ về mệnh tạo có khuynh hướng hưởng lạc. Nhưng "hưởng lạc" ở đây, lại không đơn thuần là hưởng thụ vật chất, mà là vận dụng văn minh vật chất của thời đại để hưởng thụ về phương diện tinh thần, cho nên biểu hiện sự cao thượng, thanh nhã, hoặc khiến người ta cảm thấy một sự cách điệu nơi họ.

Thái Âm chủ về tĩnh, ẩn tàng, nên người có Thái Âm thủ cung phúc đức thông thường đều không chịu bôn tẩu, bận rộn, vất vả, thà lao tâm. Nếu Thái Âm Hóa Kị, phần nhiều chủ về có bề ngoài yên tịnh, nhưng nội tâm thì nhiều lo toan nghĩ ngợi.

Người có Thái Âm thủ cung phúc đức, tư tưởng không có khuynh hướng cạnh tranh, lại không ưa xảy ra những trở ngại mới, có lúc khá thiên về lí tưởng. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì dễ rơi vào tình trạng không tưởng, chứ không phải lí tưởng, cách nhau một li nhưng khác biệt ngàn dặm.

Nếu Thái Âm có Hỏa Tinh và Đà La đồng độ, thì thường tự tìm bận rộn, vất vả. Nếu có Kình Dương và Linh Tinh đồng độ, thì theo đuổi lí tưởng, vĩnh viễn không bao giờ hài lòng, dễ khiến họ nghĩ ngợi nhiều và cảm thấy đời người thật quá bi lụy.

"Thái Âm, Thiên Cơ" đồng độ, chủ về tinh thần luôn bận rộn, tư tưởng thì nhiều lúc suy nghĩ thiếu sâu sắc, nhưng thích cuộc sống thanh tĩnh.

"Thái Âm, Thái Dương" đồng độ, rất có phước, nhưng "rất có phước" ở đây là nhờ trong đời có rất nhiều lúc thiếu tinh thần tích cực!

"Thái Âm, Thiên Đồng" đồng độ, chủ về có sinh hoạt tình cảm thú vị.

Tham Lang

Tham Lang thủ cung phúc đức, nhập miếu, chủ về chìm đắm trong hưởng thụ vật chất, tửu sắc, hoặc chìm đắm trong nghệ thuật, tôn giáo hay triết lí.

Thông thường, Tham Lang có các sao đào hoa hội hợp thì chìm đắm trong tửu sắc; Tham Lang có các sao văn hội hợp thì chìm đắm trong nghệ thuật; Tham Lang có các sao không, Hoa Cái hội hợp thì chìm đắm trong tôn giáo hay triết lí.

Tham Lang thủ cung phúc đức, có sao cát hội hợp, chủ về mệnh tạo có phong cách thú vị, u mặc, thích nói đùa. Nếu không có sao cát mà lạc hãm, thì chủ về sinh hoạt vật chất không đủ, nhưng phong cách thú vị, u mặc không thay đổi.

Tham Lang có các sao phụ, tá cát hội chiếu, chủ về hưởng thụ vật chất dư dật.

Nếu Tham Lang có Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Thiên Hình hội chiếu, thì hay nổi giận, tranh chấp, sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần đều thiếu; sở thích cũng thiên về thế tục và dục lạc.

Nếu Tham Lang có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu, về hưởng lạc thì không có ảnh hưởng gì, vẫn giống trường hợp trên, nhưng chủ về có tính vội vàng, nóng nảy, cứng rắn.

Cự Môn

Cự Môn là ám tinh, nên khi thủ cung phúc đức, dù nhập miếu và có sao phụ, tá cát hội chiếu, vẫn chủ về hiếu sự, thích thị phi, mà còn đa nghi và hay đố kị. Cho nên khó tránh phải lao tâm phí sức lo liệu nhiều việc, việc gì cũng muốn đích thân làm.

Nếu Cự Môn Hóa Kị, thì tính đa nghi càng nặng, hành động thường do dự, làm việc hay bỏ dở nửa chừng. Nếu lại gặp Thiên Cơ đồng độ thì tính hay thay đổi nửa chừng trước khi công việc hoàn thành càng mạnh, dẫn đến hao phí tinh thần, mà còn nảy sinh sự hối tiếc trong lòng và không giữ chữ tín với người khác; dù Cự Môn không Hóa Kị, mức độ cũng chỉ giảm nhẹ.

Cự Môn thủ cung phúc đức, có sao phụ, tá cát hội chiếu, chủ về được hưởng thụ sinh hoạt vật chất, nhưng tinh thần vẫn ít khi cảm thấy thoải mái. Cần phải có Thiên Đồng đồng độ, mới có thể cảm thấy tâm an thần yên, không có cái tâm nghi ngờ, thay đổi và hối tiếc.

"Cự Môn, Thái Dương" đồng độ, tuy Thái Dương có thể giải "ám" của Cự Môn, nhưng Thái Dương là sao hiếu động, trôi nổi, nên dù có thể làm tăng hưởng thụ, nhưng vẫn chủ về lao tâm khổ tứ.

Cự Môn thủ cung phúc đức, nếu có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì cái tâm thị phi nghi kị càng thêm nặng, tạo áp lực về tinh thần. Nếu gặp các sao hình, kị, thì nhiều điều tiếng thị phi, thường gặp phiền phức, khiến thân tâm đều mệt mỏi.

Thiên Tướng

Thiên Tướng thủ cung phúc đức, nhập miếu, là người chính trực, rộng rãi, có tinh thần chính nghĩa, giàu lòng cảm thông. Nếu lạc hãm, thì dễ rơi vào chủ nghĩa lí tưởng, lúc hiện thực không như lí tưởng thì lòng không yên, dễ kích động, do đó thường xảy ra thị phi phiền phức.

Cho nên, Thiên Tướng tọa thủ cung phúc đức, rất kị có Vũ Khúc hay Phá Quân vây chiếu, chủ về dễ kích động, hoặc bôn ba vất vả để cầu đạt tới lí tưởng. Nếu có thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, thì lí tưởng lại rơi vào không tưởng, lâu ngày dễ biến thành nằm mơ giữa ban ngày, nhiều không tưởng mà ít có hành động thực tế.

Thiên Tướng rất ưa được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa (đặc biệt là có Thiên Phủ Hóa Khoa hội chiếu), lại được các sao phụ, tá cát hội chiếu, thì chủ về có thể đối diện với hiện thực, có hành động thiết thực, tính cách khoan dung, đôn hậu, thẳng thắn, chân thành, có đời sống tinh thần sung mãn.

Nếu Thiên Tướng thủ cung phúc đức mà gặp sát tinh hội hợp, vẫn không đủ vững vàng thiết thực, khiến không đạt được mục tiêu của lí tưởng.

Thiên Lương

Thiên Lương là sao sang quý, thanh cao, nên khi thủ cung phúc đức, thông thường đều chủ về có sinh hoạt tinh thần thiên nặng về vật chất, nhưng lại có tư tưởng thoát tục, đây là điều mà người bình thường khó hiểu được.

Thiên Lương ở cung phúc đức, nhập miếu, chủ về "lạc thiên tri mệnh", bụng dạ khoáng đạt, ưa bàn suông, ít hành động, dù có hành động thì cũng chỉ được một lát, không chịu bôn ba vất vả.

Nếu Thiên Lương lạc hãm, tính chất biến thành ưa lần lữa, uể oải, dẫn đến lỡ việc, hoặc bị hiểu lầm là bậc danh sĩ phong lưu trăng gió, thực ra là người có tư tưởng tầm thường.

Thiên Lương nhập miếu, tuy tính chủ quan mạnh, nhưng làm việc có nguyên tắc. Nếu lạc hãm, thì nguyên tắc có thể biến thành cố chấp.

Thiên Lương ở hai cung Tị hoặc Hợi, lòng đa nghi cực nặng, nhiều lo toan nghĩ ngợi, dễ trở thành người thiếu vững vàng. Nếu hội sát tinh, nhất là gặp Kình Dương, Đà La, thì chủ về người tính toán.

Nếu Thiên Lương có Thiên Cơ đồng độ, mà Thiên Cơ Hóa Kị, là chủ về tâm thần không yên, buồn phiền, dễ rơi vào tình cảnh bối rối khó xử. Nếu lại gặp Đà La đồng độ, cuộc đời tự chuốc buồn phiền. Nếu có Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì nhiều thị phi bất hòa, tranh chấp. Đây đều do tính cố chấp và thiên kiến.

Thiên Lương có Thái Dương đồng độ, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Quý, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Vu hội chiếu, mới chủ về cao thượng, độ lượng, có thể giữ vững nguyên tắc, mà còn có lòng giúp người, không nhiều lo nghĩ và nghi ngờ, nên tinh thần trong sáng.

Thiên Lương thủ cung phúc đức ở Tị, Thân hoặc Hợi, gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Mã, chủ về tính hời hợt, hiếu động.

Thiên Lương có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc hội hợp, thì làm việc thường không rõ ràng, minh bạch, còn ưa che lấp lỗi lầm, hay cho mình là đúng, thế là cuộc đời rất dễ gặp những tình cảnh bối rối khó xử.

Thất Sát

Thất Sát thủ cung phúc đức, nhập miếu, thì phẩm cách cao thượng, nhưng dễ rơi vào tình trạng lí tưởng quá cao. Cho nên dù có các sao phụ, tá cát hội hợp, cũng chỉ chủ về ít bị tị hiềm đố kị, nhưng vẫn vì lí tưởng quá cao nên ít duyên với người; cũng chủ về vợ có hình khắc, nên chậm lập gia đình, cũng nên chậm có con.

Nếu Thất Sát có Tử Vi đồng độ, lí tưởng càng cao, cho nên càng dễ cảm thấy bất đắc chí.

Lí tưởng cao của Thất Sát khác với lí tưởng cao của Thiên Tướng. Lí tưởng của Thiên Tướng có tính chất tập thể, ví dụ như có liên quan đến xã hội, nhân quần thế thái; còn lí tưởng của Thất Sát thì thuần túy thuộc về cá nhân; do đó Thiên Tướng có thể nói là lí tưởng chủ nghĩa, còn Thất Sát là cá nhân chủ nghĩa.

Thất Sát rất ngại đồng độ với Vũ Khúc, mà Vũ Khúc còn Hóa Kị, chủ về nhiều thị phi, nhiều lo lắng, cảm thấy đời người rất trống rỗng.

Thất Sát có Liêm Trinh Hóa Kị đồng độ, chủ về một khi lí tưởng cá nhân gặp trở ngại, thì mệnh tạo không chịu đối diện với hiện thực, thế là vẫn nhiều bôn tẩu vất vả, lòng buồn phiền không yên. Nếu Liêm Trinh không Hóa Kị, thì chỉ chủ về bận rộn, vất vả, về mặt tình cảm không gặp trở ngại.

Thất Sát có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Thiên Hình đồng độ, chủ về hao phí tâm lực, mà còn bôn ba vất vả không yên, đồng thời duyên với người cũng không tốt, dễ chuốc tị hiềm đố kị.

Nữ mệnh có Thất Sát ở cung phúc đức, thường kết hôn muộn hoặc ở chung mà không thực hiện nghi lễ chính thức, nếu không e rằng có "hình thương, khắc hại", cần phải xem thêm các sao ở cung phu thê mà định.

Phá Quân

Phá Quân thủ cung phúc đức, nhập miếu, chủ về giỏi quyết đoán, do đó cũng ít bị vất vả. Nếu Phá Quân lạc hãm, phàm làm việc gì cũng phải lao tâm phí sức, mà còn thiếu quyết đoán, rất dễ sinh lòng thay đổi, cũng chính vì do dự, thiếu quyết đoán, mà làm tăng tình huống bối rối khó xử trong cuộc đời.

Nếu Phá Quân có Vũ Khúc Hóa Kị đồng độ, chủ về mệnh tạo dễ có những quyết đoán sai lầm, ở trong tình trạng mù mịt, vì vậy làm việc gì cũng thường bị trở ngại.

Nếu Phá Quân có Liêm Trinh Hóa Kị đồng độ, chủ về khi cần quyết đoán lại không quyết đoán, hành động do dự, phản ứng sai lầm, hành động không mang lại hiệu quả tốt cho bản thân.

Nếu Phá Quân thủ cung phúc đức, không có Hóa Kị đồng độ, mà hội tứ sát tinh, chủ về dễ chuốc buồn phiền, hành động vẫn không ổn định.

Chỉ trường hợp Phá Quân có Tử Vi đồng độ mới có thể có được tâm trạng say mê, sinh hoạt tinh thần tốt; nhưng nếu có sát tinh hội chiếu, có lúc cũng dễ biến thành quá đà.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái