Bài tổng quan
Cung Phu Thê: Nguyên Tắc Luận Và Chuỗi Sao Từ Tử Vi Đến Liêm Trinh
Hôn nhân chạm tới cả sự nghiệp lẫn đời sống tinh thần, vì cung phu thê hội hợp tam phương với cung phúc đức, sự nghiệp và thiên di. Luận cung này phải xem kèm cung mệnh; nhiều cát tinh chưa chắc có lợi, sao hung chưa chắc không tốt. Tử Vi cho người phối ngẫu gia trưởng mà có trách nhiệm; Tử Vi, Thiên Phủ kết hôn muộn nhưng bạc đầu. Thiên Cơ khiến tình cảm dễ đổi thay. Thái Dương gặp Kình Dương, Đà La thì lúc đầu nồng ấm về sau nguội lạnh; Thái Dương, Cự Môn ở Dần có thể lấy người ngoại quốc. Vũ Khúc chủ cô độc hình khắc, rất ngại Hóa Kị, dễ vì nghèo mà li dị. Thiên Đồng khuyên kết hôn muộn, còn Liêm Trinh, Tham Lang thường có người phối ngẫu xinh đẹp, giỏi giao tiếp.
Cung Phu Thê
Cung phu thê
Cung phu thê hội hợp với "tam phương tứ chính" là cung phúc đức, cung sự nghiệp và cung thiên di. Cách phối trí này rất hợp lôgic, sự nghiệp của một người đương nhiên chịu ảnh hưởng của sinh hoạt hôn nhân; di cư (thiên di) tha hương, nếu không phải là vợ chồng sinh li tử biệt thì hoặc là vợ chồng đều nên sống ở tha hương, đây cũng là một vấn đề trọng đại của đời người; còn cung phúc đức thì chủ về sinh hoạt tinh thần của một người, mà quan hệ hôn nhân rất có ảnh hưởng đến sinh hoạt tinh thần, điều này không nói cũng biết.
Cho nên việc quan sát và luận đoán cung phu thê, cần phải xem xét kĩ các sao của cung phúc đức, cung sự nghiệp, và cung thiên di; các sao của ba cung này cũng chịu ảnh hưởng các sao của cung phu thê, đây là hiện tượng rất hợp lí.
Tiết này tuy dùng phương thức trình bày giản lược về các tinh hệ của hiện tượng hôn nhân, nhưng đã suy tính đến mối quan hệ tam phương tứ chính. Nhưng để tiện cho bạn đọc nghiên cứu ảnh hưởng các sao phụ, tá, sát đối với tính chất của các tinh hệ chính diệu, nên sau khi trình bày tính chất của 14 tinh hệ chính diệu, vẫn có thêm một mục trình bày tính chất của các sao phụ, tá, sát ở cung phu thê. Bạn đọc có thể dung hợp nó với tính chất của tinh hệ chính diệu, xem nó làm mạnh thêm hay yếu đi, hoặc tình hình chuyển hóa như thế nào.
Ví dụ, "Thiên Cơ, Cự Môn" chủ về trước hôn nhân có sóng gió, trắc trở, hơn nữa còn chủ về phiêu bạc; còn tính chất của Lộc Tồn là vợ chồng ân ái, chỉ dễ bị người phối ngẫu bắt nạt, hà hiếp, vì vậy mà hai người chia li. Nếu dung hòa hai tính chất này, có thể tham khảo đại vận hoặc lưu niên để luận đoán xem phần nhiều xảy ra chuyện gì.
Có điều, khi luận đoán hôn nhân, không nên chỉ xem cung phu thê, mà còn nên xem kiêm tinh hệ của cung mệnh, bạn đọc có thể tham khảo mục "Cung mệnh và cung thân" trong chương 3 này.
Trong xã hội hiện đại, sinh hoạt hôn nhân giữa vợ chồng, việc luận đoán không ngoài những hạng mục như tình cảm, tài năng, dung mạo và tài phú. Thế sự rất khó toàn mĩ, tài năng và dung mạo rất khó lưỡng toàn, nhưng cũng không phải là không có khả năng tài năng, dung mạo và tài phú đều có đủ, cho tới trường hợp khi các phương diện đều hợp với lí tưởng, thì tình cảm thường thường lại dễ xảy ra thay đổi. Cho nên đạo vợ chồng quý ở chỗ biết thích ứng, những điều được trình bày ở tiết này không những chỉ ra những hiện tượng quan trọng, mà còn gợi ý biện pháp dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu và thích ứng với cuộc sống hôn nhân.
Dưới đây là một số thể lệ thích hợp cho tình hình chung dùng để luận đoán cung phu thê.
Luận đoán hôn nhân xem có mĩ mãn hay không, ngoại trừ việc quan sát cung phu thê ra, còn cần phải xem kèm tinh hệ của cung mệnh, sau đó dung hòa hai tính chất này.
Mỗi một cung phu thê của đại hạn đều phải chú ý xem xét, sau đó mới có thể nhìn ra sự thay đổi trong quan hệ hôn nhân và tình cảm vợ chồng. Nhưng thông thường không cần dùng thêm tinh hệ của cung mệnh đại hạn để trợ giúp trong việc luận đoán, trừ phi xem nạn tai tật bệnh.
Muốn luận định về hôn nhân, tốt nhất là mang tinh bàn của cả hai người nam và nữ ra quan sát một lượt, chỉ cần cân nhắc cặn kẽ, tỉ mỉ thì có thể nhìn ra một số tình tiết.
Khi luận đoán cung phu thê, phải lưu ý một nguyên tắc: nhiều cát tinh chưa chắc có lợi, như Văn Xương, Văn Khúc chủ về người phối ngẫu quan tâm, chăm sóc, nhưng lại có thể có tình nhân bên ngoài; sao hung, sao ác cũng chưa chắc là không tốt, như Đà La chủ về người phối ngẫu rời xa quê hương, nhưng nếu gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, lại chủ về phát tài ở nơi xa, hơn nữa tình cảm vợ chồng có thế rất tốt. Cho nên cần phải cân nhắc thật tỉ mỉ, cẩn thận.
Luận đoán cung phu thê của đại hạn hoặc lưu niên, ngoại trừ tham khảo tiết này, còn cần phải tham khảo tính chất của tinh hệ thủ cung phu thê, bạn đọc có thể tham khảo ở tiết "Tính chất cơ bản của các sao" trong chương 3 này.
Cung Phu Thê Có Tử Vi
Cung phu thê có Tử Vi
Chủ về người phối ngẫu có tính gia trưởng, tính thống trị, mà cũng có tinh thần trách nhiệm; Tử Vi Hóa Quyền, chủ về vợ đoạt quyền chồng, hôn nhân tuy không như ý nhưng không dễ nói lời chia li. Gặp cát tinh, nữ mệnh chủ về chồng vinh hiển, nam mệnh chủ về vợ có khí khái đàn ông. Gặp hung tinh, thì nội tâm đau khổ nhưng bề ngoài vẫn khoan dung.
Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không có cát tinh, chủ về gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều, hoặc bằng mặt mà không bằng lòng, hoặc có xu hướng hay hứng thú khác nhau, hoặc người phối ngẫu bị ám tật. Tử Vi ở cung Tí thì người phối ngẫu có tính hướng nội, Tử Vi ở cung Ngọ thì người phối ngẫu có nghề nghiệp đặc biệt. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi hơn mình.
"Tử Vi, Phá Quân", phần nhiều lấy vợ lớn tuổi hơn mình, còn chủ về nạp thiếp, hoặc có tình nhân bên ngoài. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi hơn mình. Chủ về vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc có sóng gió, trắc trở.
"Tử Vi, Thiên Phủ", nội tâm thường có tâm sự giấu kín; chủ về hôn nhân muộn, nhưng có thể sống đến bạc đầu.
"Tử Vi, Tham Lang", vợ có chí đàn ông, khó tránh hình khắc, nên kết hôn muộn; người phối ngẫu nhiều tài nghệ, có tình cảm thú vị. Gặp sát tinh thì trăng gió; gặp đào hoa thì có tình nhân bên ngoài, rơi vào mê lộ nhưng cuối cùng biết quay trở về. Nếu cung phu thê vô chính diệu, đối cung có "Tử Vi, Tham Lang", mà tứ sát cùng chiếu cung phu thê, Kình Dương và Linh Tinh lại đồng độ với "Tử Vi, Tham Lang", thì trái lại, không có niềm vui gia đình.
"Tử Vi, Thiên Tướng" ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là "Thiên La, Địa Võng", dễ xảy ra thay đổi bất ngờ. Vợ tuy có thể giúp chồng về sự nghiệp nhưng bạc tình. Nên kết hôn muộn. Nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi.
"Tử Vi, Thất Sát", người phối ngẫu có thuật giữ chồng, có lực khai sáng, giỏi nói năng.
Cung Phu Thê Có Thiên Cơ
Cung phu thê có Thiên Cơ
Chủ về người phối ngẫu dễ thích ứng hoàn cảnh, tình cảm dễ thay đổi. Không nên gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hỏa Tinh, Linh Tinh; chủ về tình cảm thay đổi thường do tính tự do phóng khoáng, thích sao làm vậy mà ra; gặp cát tinh trong niên hạn tốt có thể hòa hợp lại; người phối ngẫu có nhiều tài, nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi hơn mình, cần phải chênh lệch từ ba tuổi trở lên, vợ tính tình khéo léo, cơ trí và biết chăm lo gia đình, dễ bất hòa với thân gia; gặp các sao sát, kị thì càng đúng. Thường có hôn lễ một cách không chính thức, hoặc chủ về người phối ngẫu thích đầu cơ.
Thiên Cơ độc tọa ở cung Sửu thì chủ về người phối ngẫu dễ đi xa, li biệt; ở cung Mùi thì chồng dễ bị dụ dỗ, trước hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, trắc trở.
"Thiên Cơ, Thái Âm", ắt phải có một thời kì sóng gió, trắc trở; gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hỏa Tinh, Đà La, Văn Xương, Hóa Kị thì càng nặng. Gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền và lục cát tinh thì văn nhã phong lưu, được vợ là người thông minh, nên lấy người nhỏ tuổi hơn mình.
"Thiên Cơ, Cự Môn", trước hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, trắc trở; cũng chủ về nửa cuộc đời phiêu bạt, hoặc sớm thành cô quả, nhẹ thì bằng mặt mà không bằng lòng, người phối ngẫu mê cờ bạc hoặc có tình nhân bên ngoài.
"Thiên Cơ, Thiên Lương", trước hôn nhân từng li hôn, hoặc bị gia đình phản đối; sau kết hôn dễ có sóng gió, trắc trở, hoặc người phối ngẫu bị nạn tai tật bệnh, nhưng rốt cuộc có thể hóa giải.
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về tình cảm dễ thay đổi, yêu đương hay bị trở ngại. Nữ mệnh đoan trang gặp người không đàng hoàng.
Cung Phu Thê Có Thái Dương
Cung phu thê có Thái Dương
Thái Dương gặp Kình Dương, Đà La, lúc đầu nồng ấm về sau nguội lạnh, chủ về kết hôn không chính thức; nữ chủ về người phối ngẫu quý hiển. Thái Dương lạc hãm thì người phối ngẫu bình thường, nhưng cũng nhiệt tình.
Thái Dương hãm mà Hóa Kị, chủ về vợ thì đa nghi, chồng thì nhiều nạn tai tật bệnh, hoặc dễ chia li.
Thái Dương gặp cát tinh, nam chủ về nhờ vợ mà được quý.
Thái Dương gặp Phá Quân thì thành hôn mà không có nghi lễ chính thức.
Thái Dương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nên kết hôn muộn; nam mệnh thì được vợ kiên trinh, biết chăm lo gia đình; nữ mệnh có chồng lớn tuổi, lạnh nhạt mà tự cam chịu. Dù tình cảm có sóng gió, trắc trở, rốt cuộc cũng được hóa giải. Gặp nhiều sao trong lục cát tinh, lại gặp thêm sát tinh và sao đào hoa, thì vợ chồng đều có tình nhân bên ngoài.
Thái Dương ở hai cung Sửu hoặc Mùi mà có Thái Âm đồng độ, có sự thay đổi trước hôn nhân hoặc sau kết hôn. Gặp lục sát tinh, Hóa Kị, Tả Phụ, Hữu Bật thì càng nặng; chủ về người phối ngẫu ích kỉ, thân gia bất hòa. Nữ mệnh thì nặng hơn nhiều, chủ về làm kế thất hoặc nhị phòng.
Thái Dương, Cự Môn ở cung Dần rất có lợi, không có Hóa Kị và Hữu Bật thì đẹp đôi, cũng chủ về lấy người ngoại quốc.
Thái Dương, Thiên Lương ở hai cung Mão hoặc Dậu, chủ về li tán rồi xum họp, hoặc trước hôn nhân có trở lực, người phối ngẫu gặp hiểm nạn, rốt cuộc có thể hóa giải. Nữ mệnh chồng không nên kinh doanh làm ăn.
Thái Dương độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh, chủ về người phối ngẫu nhường nhịn; gặp sát tinh nên lấy chồng lớn tuổi, lấy vợ nhỏ tuổi, nên kết hôn muộn.
Thái Dương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, ở cung Tị thì ưu hơn cung Hợi. Ở cung Tị chỉ chủ về hôn nhân không có nghi lễ chính thức; ở cung Hợi, kết hôn sớm phần nhiều chủ về li dị, là một đôi không hoàn mĩ, còn chủ về vợ tính cương cường.
Cung Phu Thê Có Vũ Khúc
Cung phu thê có Vũ Khúc
Vũ Khúc chủ về cô độc và hình khắc. Gặp Thất Sát, Phá Quân, chủ về ba lần nhân duyên; Vũ Khúc nhập miếu thì khó tránh kết hôn muộn.
Vũ Khúc gặp Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, chủ về vợ hiền năng (có đức, có tài). Gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì nhờ vợ mà được tiền bạc. Gặp sao hung thì vì vợ mà phá tài.
Vũ Khúc rất ngại Hóa Kị, thường vì nghèo mà li dị, không vì tình cảm.
Vũ Khúc gặp Thiên Diêu, nếu nhờ bà mai ắt sẽ hình khắc hoặc chia li, chủ về vì yêu đương mà lấy nhau.
Nữ mệnh Vũ Khúc hội Thất Sát, Phá Quân, Hóa Kị, chủ về tái hôn, hoặc làm nhị phòng, hoặc chồng không thể thực hiện được nghĩa vụ làm chồng ở phòng the. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị gặp Thất Sát, Phá Quân thì cũng chủ về hữu danh vô thực.
Vũ Khúc gặp Hỏa Tinh, chủ về nửa cuộc đời cô độc; gặp Hóa Kị càng nặng.
Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về chồng là nhân tài trong giới làm ăn kinh doanh. Vũ Khúc Hóa Quyền thì chủ về chồng là người có quyền thế, vinh hiển. Vũ Khúc Hóa Khoa là chồng có đủ danh lợi, gặp sát tinh thì giảm sắc.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ", nữ mệnh dễ yêu người đã có gia đình.
"Vũ Khúc, Tham Lang" chủ về vợ đoạt quyền chồng, còn có tính đào hoa; vì vậy nên lấy vợ lớn tuổi, hoặc lấy chồng lớn hơn mười tuổi; người phối ngẫu nên làm việc trong ngành giải trí, vui chơi, hay sự nghiệp văn nghệ.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" chủ về sóng gió, trắc trở; nam mệnh lấy vợ đẹp nên nhiều tranh giành; nữ mệnh nếu tuổi tương đương với chồng thì gần nhau ít mà xa nhau nhiều.
"Vũ Khúc, Thất Sát" gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Khúc, Thiên Việt, chủ về dễ nảy sinh tình yêu kì lạ, hoặc tranh đoạt tình yêu. "Vũ Khúc, Thất Sát" mà gặp Đà La, chủ về trước hôn nhân xảy ra sóng gió, trắc trở. Nữ mệnh chủ về đoạt quyền chồng. Nếu các sao sát, kị mà nặng thì chủ về người phối ngẫu gặp chuyện thương tâm bất ngờ.
"Vũ Khúc, Phá Quân" chủ về sợ vợ. Nữ mệnh thì chủ về gặp nhau ít mà xa nhau nhiều. Nếu Hóa Kị hoặc gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Tả Phụ, Hữu Bật chủ về vợ ngoại tình, hoặc chủ về chồng mắc chứng bệnh bất trị, hoặc không thể thực hiện được nghĩa vụ làm chồng ở phòng the; chủ về tái hôn, hoặc làm kế thất.
Cung Phu Thê Có Thiên Đồng
Cung phu thê có Thiên Đồng
Gặp lục cát tinh, chủ về người phối ngẫu xinh đẹp, ung dung, tự nhiên, lịch sự.
Nữ mệnh Thiên Đồng thủ cung phu thê gặp tứ sát, Hóa Kị, chủ về hữu danh vô thực, làm nhị phòng, hoặc li hôn, tái giá, hoặc người phối ngẫu bị tật bệnh nạn tai. Gặp Cự Môn thì điều tiếng liên miên.
Nam nữ đều nên kết hôn muộn, chủ về đã đính hôn rồi hủy bỏ hôn ước sau đó mới kết hôn, hoặc lấy nhau nhưng không cử hôn lễ chính thức. Nếu không, thì dễ có nhiều vợ, khó tránh lấy vợ nhỏ tuổi. Gặp tứ sát cũng chủ về hữu danh vô thực.
Thiên Đồng, Cự Môn, chủ về trắc trở, trước hôn nhân xảy ra sóng gió. Nữ mệnh gặp bản cung, có thể lấy chồng sang quý, chủ về lấy nhau không có danh phận chính thức, nếu không, đến trung niên có thể xảy ra sóng gió.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" thời kì tân hôn và lúc già thì cát, thời kì trung niên gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc tái hôn, cũng chủ về sau khi li hôn có thể lấy vợ đẹp, hoặc lấy chồng đa tài. Nam mệnh chủ về lấy được vợ giỏi giang biết chăm lo gia đình; nữ mệnh chủ về bản thân vất vả chăm lo gia đình.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu; ở cung Mão nên kết hôn sớm; ở cung Dậu nên kết hôn muộn. Nữ mệnh thiếu duyên với chồng, trung niên cô độc. Gặp các sao đào hoa như Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Hỉ, chủ về tình cảm thay đổi, có người khác.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về yêu đương gặp trở ngại, sau kết hôn ở nơi khác, vợ chồng không cùng xu hướng, sở thích. Ở cung Tuất nặng hơn.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về thể hình, địa vị sang hèn, tư tưởng đều không hợp nhau, thân gia bất hòa, dễ có tình nhân bên ngoài.
Thiên Đồng, Thái Âm, chủ về nên lấy chồng lớn tuổi, hoặc lấy được vợ có năng lực làm việc. Nữ mệnh dễ nảy sinh thay đổi tình cảm, chỉ cuộc hôn phối cuối cùng mới đẹp.
Cung Phu Thê Có Liêm Trinh
Cung phu thê có Liêm Trinh
Liêm Trinh chủ về hình khắc, gặp sát tinh nhiều thì khắc ba lần.
Nam mệnh lấy được vợ đẹp; gặp Hóa Kị thì li hôn rồi tái hôn lấy được vợ đẹp; gặp đào hoa thì vợ có tình nhân bên ngoài; gặp Thất Sát, Phá Quân thì vợ chồng bất hòa; gặp tứ sát thì hình khắc, vì chuyện tình cảm nam nữ mà có kiện tụng.
Nữ mệnh, Liêm Trinh gặp sát tinh, chủ về chồng chỉ có hư danh, hoặc chủ về không cử hành hôn lễ.
Liêm Trinh gặp Thiên Phủ, chủ về người phối ngẫu tính cương cường, khó tránh khắc khẩu.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" gặp Tả Hữu, lục sát, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kị, chủ về chia li, hoặc người phối ngẫu không trung trinh; sát tinh nặng thì chủ về tranh chấp bất hòa, không có con cái.
"Liêm Trinh, Thất Sát" chủ về vợ đẹp mà dâm; gặp cát tinh thì có thể tránh được họa; gặp Tả Phụ, Hữu Bật, lục sát, Hóa Kị thì hôn nhân bất lợi. Nữ mệnh chủ về có chồng giỏi quản lí tài chính.
Liêm Trinh độc tọa hai cung Dần hoặc Thân, chủ về gần nhau ít mà xa nhau nhiều. Nam mệnh chủ về lấy được vợ thanh bạch; gặp các sao sát, kị, vẫn có sóng gió, trắc trở. Nữ mệnh thì chồng không có tình cảm thú vị.
"Liêm Trinh, Phá Quân", gặp sát tinh thì chủ về bất hòa; không có sát tinh thì chủ về hôn nhân mĩ mãn, nhưng cũng có tình nhân bên ngoài.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" chủ về tình cảm bất hòa, có tranh chấp, người phối ngẫu giỏi giao tế. "Liêm Trinh, Thiên Phủ" gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Kị, lục sát, chủ về có người bên ngoài, người phối ngẫu tính cương mà không khắc. "Liêm Trinh, Thiên Phủ" gặp sao đào hoa, chủ về yêu người đã có chồng.
"Liêm Trinh, Tham Lang" phần nhiều chủ về người phối ngẫu xinh đẹp. Nam mệnh chủ về vợ không hiền thục nhưng giỏi giao tiếp thù tạc.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
