Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Sát Tinh: Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202622 phút đọc8 lượt đọc
Sát Tinh: Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp

Sát tinh không chỉ đem tai họa mà còn có thể tôi luyện con người thành tài, tùy cách chúng phối hợp. Kình Dương là sao hình, mang tai họa công khai, dứt khoát như một cuộc phẫu thuật; Đà La là sao kị, mang tai họa âm thầm và kéo dài. Gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh đúng cách, hai sao này hóa thành lực tôi luyện. Hỏa Tinh gây tai hại ngoài sáng, Linh Tinh gây tai hại trong tối; cả hai đều ưa gặp Tham Lang để thành cách Hỏa Tham, Linh Tham, chủ phát nhanh. Địa Không thiên về tinh thần, đả kích tâm lý nặng hơn tổn thất vật chất; Địa Kiếp thiên về vật chất, tổn thất tiền của lớn hơn đả kích tinh thần. Cả hai đều cần chính diệu có sắc thái hành động trung hòa.


Kình Dương, Đà La

Trong Đẩu Số, "Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh" gọi là "tứ sát tinh". Ngoài ra còn thêm vào Địa Không, Địa Kiếp, gọi chung là "lục sát tinh".

Tứ sát tinh không hoàn toàn chủ về hung, có lúc cũng thành lực "kích phát", như trong cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", "Hỏa Tham", v.v... là ví dụ. Nữ mệnh ưa có chút sát tinh, mới chủ về dung mạo kiều diễm, hoặc chủ về xinh đẹp nhờ có khiếm khuyết. Như cung mệnh có Đà La thì chủ về răng khểnh; có Kình Dương kèm Văn Xương, Văn Khúc thì chủ về có nốt ruồi duyên, v.v...

Sát tinh phối hợp với các sao phụ, tá, ảnh hưởng nhiều đến tính chất của 60 tinh hệ. Do đó cũng thành nguyên tố quan trọng của tổ hợp sao. Trong tiết này, chỉ trình bày tính chất cơ bản của bản thân sát tinh, để phối hợp với tính chất của các tinh hệ, mà thấy ra bản chất biến hóa, thay đổi của chúng.

Kình Dương và Đà La

Kình Dương thuộc dương kim, kiêm tính dương hỏa; còn Đà La thì thuộc âm kim, kiêm tính âm hỏa. Do có tính chất "hóa luyện kim", vì vậy trường hợp cát thì "tôi luyện", trường hợp hung thì "thiêu đốt".

Kình Dương gọi là "sao hình", Đà La gọi là "sao kị", là để hình dung "hung tính" của chúng. Kình Dương gặp Hỏa Tinh sẽ thành lực "kích phát", Đà La gặp Linh Tinh cũng thành hoàn cảnh "trui rèn", lúc này không còn là "hình kị". Bởi vì Kình Dương gặp Hỏa Tinh cũng giống như luyện kim loại thành vật hữu dụng; Đà La gặp Linh Tinh cũng giống như nung chảy kim loại thành vật liệu; tính hung của tứ sát tinh sẽ tác động lẫn nhau mà tiêu trừ, còn chuyển hóa thành lợi ích.

Nhìn ở một góc độ khác, kết cấu "Kình Dương, Hỏa Tinh" còn chủ về "minh tranh" (tranh chấp ngoài sáng, trực diện), vì có "minh tranh" mới có lực "kích phát". Kết cấu của "Đà La, Linh Tinh" lại chủ về "ám đấu" (đấu nhau ngầm, trong tối, không trực diện), vì có "ám đấu" mới chủ về "trui rèn".

Nhưng nếu tình huống giao thoa kể trên xảy ra ngược lại, Kình Dương gặp Linh Tinh, thì dương hỏa không đủ nung chảy khối kim loại; hoặc Đà La gặp Hỏa Tinh, thì lửa mạnh không đủ để rèn kim loại, trái lại sẽ chủ về "đun nấu" thành tính chất không lành.

Trên là các đặc điểm kết hợp của tứ sát tinh.

Về cơ bản, Kình Dương có lực phá hoại, thường thường còn chủ về xảy ra tình trạng lung lay về nền tảng, có tính phá hoại, cho nên gọi là "hình". Tính phá hoại của nó là những điều không may đến một cách công khai, mệnh tạo thấy rất rõ mà không thể tránh né.

Kình Dương có khí "hình sát", vì vậy thích hợp công tác trong quân đội, cảnh sát, lãnh vực pháp luật, làm bác sĩ ngoại khoa, hoặc nhân viên kĩ thuật; mà không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng không thích hợp làm việc trong chính giới.

Kình Dương ưa ở cung "Tứ Mộ" (tức bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), nhất là hai cung Thìn, Tuất "Thiên La, Địa Võng"; rất ưa Kình Dương "kích phát" hội hợp với Hỏa Tinh, như vậy lực "kích phát" càng lớn. Lúc đại vận đến cung độ này, cần phải xem xét kĩ tinh hệ chính diệu của cung hạn để định cảnh ngộ, thông thường đều phải trải qua trắc trở, gập ghềnh, bất đắc chí trước, rồi mới thành tựu, những trắc trở này có ảnh hưởng tốt đối với hậu vận.

Kình Dương không ưa Liêm Trinh, cũng không ưa Cự Môn. Gặp tinh hệ của hai chính diệu này, còn đồng độ với Hỏa Tinh, thì không phải là "kích phát", trái lại sẽ chủ về thị phi hoặc nạn tai, bệnh tật. Đây là vì Liêm Trinh thuộc âm hỏa, bản chất xung đột với Hỏa Tinh, Kình Dương; Cự Môn thuộc âm thổ, đủ để giải trừ dương hỏa. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, cung mệnh mà gặp chúng, cuộc đời sẽ nhiều tai họa, bệnh tật.

Cách "Hỏa Tham" hoặc "Linh Tham" cũng không ưa gặp Kình Dương, chủ về sau khi phát lên một cách nhanh chóng sẽ xảy ra tranh chấp, tiềm phục nguy cơ suy sụp rất nhanh chóng. Cho nên cần phải chọn phương kế bảo thủ, buông bỏ chuyện tranh chấp với đối thủ, mới có thể "theo cát tránh hung".

Tinh hệ Vũ Khúc đồng độ với Kình Dương lại không thích hợp với võ nghiệp; nếu Kình Dương chỉ hội hợp ở tam phương thì thích hợp công tác trong quân, cảnh sát, bảo an.

Tham Lang không ưa đồng độ với Kình Dương. Ở cung Ngọ, Tham Lang thành cách cục "Mộc hỏa thông minh", gặp Kình Dương tuy cũng là "Mã đầu đới kiếm", nhưng không phải chính cách, chủ về phải trải qua gian khổ mới phát lên rồi biến thành hanh thông, nhưng hanh thông lại không được lâu, cần phải đề phòng tai họa lửa nước, trộm cướp, phạm pháp, thất bại... sẽ xảy ra sau khi hưng thịnh.

Tham Lang và Kình Dương ở cung Tí, gọi là "Phiếm thủy đào hoa", chủ về đời người chìm đắm trong tửu sắc, cũng không phải là kết cấu đẹp.

Đà La chủ về lần lữa, cố chấp, thị phi, đố kị, những thứ không hay này đều ngầm xảy ra, mệnh tạo khó biết nguyên nhân tại sao, cho nên gọi Đà La là "sao kị". Đà La mang lại bất lợi giống như bị bắn lén (ám tiễn), thường thường khó "xu cát tị hung", hơn nữa hậu quả bất lợi phần nhiều cũng kéo dài một thời kì.

Đà La ưa ở cung "Tứ Mộ", nhưng ưa hai cung Sửu, Mùi hơn; ở cung "Thiên La, Địa Võng" nó không có lực đột phá.

Đà La rất kị đồng độ với tinh hệ Tham Lang, đối với cách cục "Hỏa Tham" và "Linh Tham" lực phá hoại của nó khá lớn, bởi vì có thể khiến tính chất "đột nhiên biến thành hanh thông" trở thành tính chất "kéo dài", là có mâu thuẫn rất lớn, thế là nảy sinh lực phá hoại. Thông thường tinh hệ Tham Lang gặp Đà La, chủ về vì sắc dục mà mắc bệnh nan y.

Tham Lang đồng độ với Đà La ở cung sự nghiệp tại Dần, gọi là "phong lưu thái trượng", chủ về vì chìm đắm trong tửu sắc mà ảnh hưởng đến sự tiến thủ; nhưng nếu ở cung mệnh thì lại chủ về mệnh tạo thông minh tuấn tú.

Tham Lang đồng độ với Đà La ở cung Hợi, cũng gọi là "Phiếm thủy đào hoa", không phải là cách cục tốt.

Đà La không ưa đồng độ với Cự Môn, chủ về thị phi trùng trùng ở sau lưng, hoặc chủ về có ám tật.

Đà La không ưa đồng độ với Thất Sát, mệnh cục này không thích hợp đối với nữ mệnh, chủ về chồng con li tán, hoặc lấy chồng rất muộn.

Hễ Đà La thủ cung phu thê, chủ về kết hôn muộn; thủ cung tử nữ, chủ về chậm có con.

Đà La ở cung sự nghiệp hoặc cung tài bạch, thích hợp với ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật, không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.

Kình Dương và Đà La luôn luôn giáp Lộc Tồn, nếu tinh hệ chính diệu không tốt mà đồng độ với Lộc Tồn, sẽ chủ về keo kiệt, bủn xỉn, đa nghi. Nếu tinh hệ chính diệu cát, thì chủ về nhiều lo toan nghĩ ngợi.

Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn ở cung Tị, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, lại có các sao sát, hình xung phá, vào năm Dậu, năm Sửu phải đề phòng tai họa lao ngục.

"Tử Vi, Thất Sát" ở hai cung Tị hoặc Hợi, cũng không ưa bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về lúc gặp cơ hội tốt để phát triển liền bị người ta gây trở ngại.

Kình Dương và Đà La giáp cung có chính diệu Hóa Kị, đây là cách cục "Kình Đà giáp Kị", chủ về nạn tai, bệnh tật, thất bại.

Nếu cung mệnh có Đà La đồng độ, cung phúc đức ắt sẽ gặp Kình Dương, thông thường tư tưởng thì có lực "kích phát" nhưng hành động lại do dự, thiếu quyết đoán.

Nếu cung mệnh đồng độ với Kình Dương, cung phu thê ắt sẽ gặp Đà La, chủ về tính cách vợ chồng không hợp nhau.

Nam mệnh Thái Âm Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về hôn nhân bất lợi, bị vợ gây lụy.

Nữ mệnh Thái Dương Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về có người chồng không tốt, hoặc chủ về chồng bị nạn tai, bệnh tật.

Như đã biết, Kình Dương và Đà La là một cặp sát tinh trong Đẩu Số. Kình Dương chủ về "hình", Đà La chủ về "kị", cho nên Kình Dương không ưa gặp Liêm Trinh, bởi vì Liêm Trinh chủ về "tù", cổ nhân nói là "sao hình và sao tù cùng đến", còn không ưa gặp Phá Quân, bởi vì Phá Quân chủ về "hao", cổ nhân nói là "sao hình, sao hao cùng tới". Đà La thì không ưa gặp Hóa Kị, cổ nhân nói là "kị hóa tương xung".

Từ tính chất trên mà phân biệt, Kình Dương có thể gọi là "chân tiểu nhân", còn Đà La thì giống như "ngụy quân tử". Kình Dương mang lại tai hại chỉ thuộc nhất thời, như phải phẫu thuật, sau phẫu thuật thì bình an; còn Đà La mang lại tai hại có tính chất kéo dài. Ví dụ như mắc bệnh, tuy không chủ về động dao động kéo, nhưng lại khiến người ta đau ốm triền miên.

Kình Dương hay gây ra xung đột, sau khi xung đột, bất kể là tốt xấu thế nào, sự tình cũng sẽ được giải quyết. Đà La thì không phải vậy, có mâu thuẫn, xung đột không xảy ra công khai mà ngầm kéo dài, kết quả là rất hao phí tinh lực. Vì vậy, Kình Dương chủ về dứt khoát, còn Đà La chủ về dây dưa.

Kình Dương chỉ ưa gặp Hỏa Tinh, là dương kim gặp dương hỏa, chủ về phải trải qua gian khổ mới có thành tựu.

Đà La cũng ưa gặp Linh Tinh (cách "Linh Xương Đà Vũ" là ngoại lệ), là âm kim gặp âm hỏa, chủ về đời người tuy có thành tựu, nhưng phải gặp nhiều tình huống rối rắm khó xử trong âm thầm, khiến cho mệnh tạo không thể nhàn hạ; còn dễ xảy ra hiện tượng "cát" thì chậm đến, "hung" thì chậm tiêu, tuy "cát" cũng sẽ đến, "hung" cũng sẽ tiêu, khiến cho người ta cảm thấy ngày tháng trôi qua một cách vô ích.

Cho nên so sánh hai sao thì "Hỏa Tinh, Kình Dương" đồng cung sẽ ưu hơn "Linh Tinh, Đà La" đồng cung.

"Kình Dương, Đà La giáp cung", do tính chất "Hình Kị" giáp cung, nên cung bị giáp sẽ gặp nhiều bất lợi. Có điều, cung bị "Kình Dương, Đà La" giáp cung ắt sẽ có Lộc Tồn, nên khá dễ "xu cát tị hung".

Ở xã hội hiện đại, hai sao Kình Dương, Đà La còn chủ về kĩ năng chuyên môn, tức câu cổ nhân nói "tay nghề khéo mà yên thân". Vì vậy người hiện đại may mắn hơn người xưa; thời cổ đại, địa vị của thợ thuyền rất thấp hèn, ngày nay một chuyên viên cũng có cơ hội phát đạt.

Hỏa Tinh, Linh Tinh

Hỏa Tinh thuộc dương hỏa, Linh Tinh thuộc âm hỏa, cho nên có thuyết "Hỏa minh Linh ám"; tức là Hỏa Tinh mang lại điều không hay từ chính diện, ngoài sáng; còn Linh Tinh thì ngầm mang lại tai hại, trong tối.

Cũng do bản chất này nên "Hỏa Tinh, Kình Dương" chủ về "kích phát", còn "Linh Tinh, Đà La" chủ về "trui rèn".

Hễ Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh ở cung mệnh, hoặc ở cung phụ mẫu, chủ về lúc bé đã chia li với gia đình hoặc làm con thừa tự người khác.

Hỏa Tinh thủ mệnh, hoặc thủ cung phụ mẫu, gặp các sao phụ, tá không đủ cặp (sao lẻ), chủ về cha mẹ "lưỡng trùng", có hai họ, hoặc cha mất sớm.

Hỏa Tinh ưa đồng độ với Tham Lang, chủ về đời người tích cực tiến thủ.

"Tử Vi, Thất Sát" cũng ưa có Hỏa Tinh ở cùng một cung, gặp thêm Kình Dương thì càng đẹp, cũng chủ về tích cực tiến thủ. Có điều không bằng "Hỏa Tham" Hóa Lộc, có thể phát lên một cách nhanh chóng.

Hai kết cấu sao thuật ở trên, không nên có Đà La đồng độ, nếu không, sẽ thành cách cục phá hoại.

Hỏa Tinh bay đến cung có tinh hệ ổn định (như Tử Vi, "Tử Vi, Thiên Phủ", Thiên Phủ, Thiên Lương, v.v...), có các sao phụ, tá hội hợp, có thể khiến tinh hệ chính diệu thiên về phát triển tính cương. Ví dụ như "Thái Dương, Thiên Lương" chỉ có tính chủ quan, thêm Hỏa Tinh thì thành tính ngoan cố.

Uy lực của Linh Tinh kém hơn Hỏa Tinh, nhưng là âm hỏa nên khá kéo dài, vì vậy mang lại tai nạn cũng có tính lâu dài. Ví dụ như Hỏa Tinh phần nhiều mang lại tổn thất vật chất chỉ thuộc loại không may nhất thời; còn Linh Tinh mang lại tai nạn thường kèm có đau khổ nội tâm, mệnh tạo rất khó quên.

Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về thất bại, mà thất bại là do mệnh tạo tự chuốc lấy. Nếu có Lưu Đà, Lưu Xương xung khởi nguyên cục "Linh Xương Đà Vũ", thì tai họa càng kịch liệt.

Liêm Trinh Hóa Kị, có Kình Dương đồng độ, lại gặp Linh Tinh, gọi là "Hình tù hội Linh", chủ về chết bất ngờ, hoặc chết trong binh đao. Nguyên cục "Hình tù hội Linh", lưu niên có Lưu Dương xung khởi, thì họa tai càng dữ dội, thường thường xảy ra trong kì khắc ứng.

"Liêm Trinh, Thất Sát" có Kình Dương đồng độ, gặp Linh Tinh, gọi là "Liêm Sát Dương Linh", là mệnh chết ngoài chiến trường.

Linh Tinh cũng không ưa đồng độ với Phá Quân, chủ về kinh doanh làm ăn thất bại, nhưng thích hợp các nghề nghiệp có tính trắc trở, như nha sĩ, bác sĩ, chuyên viên về trật đả, làm nghề tháo dỡ, thợ sửa xe, thợ sửa thuyền, v.v...

Hễ có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cung bị giáp thường thường rất xấu. Như giáp cung tài bạch, chủ về vất vả bôn ba mà tài khí rất kém; Hỏa Tinh và Linh Tinh chia ra ở cung phúc đức và cung mệnh, chủ về cuộc đời nhiều sóng gió, trắc trở; Hỏa Tinh và Linh Tinh chia ra ở cung mệnh và cung phu thê, phần nhiều cũng chủ về vợ chồng không được êm ấm, đời người khó thuận lợi toại ý.

Các chính diệu không ưa bị Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung là Thiên Cơ, Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương. Các chính diệu này cũng không ưa chúng đồng cung, dễ thành phá cách. Như "Thiên Cơ, Cự Môn" an mệnh ở cung Mão, Cự Môn Hóa Lộc, là "Cơ Cự đồng lâm cách" chủ về phú quý; nếu có "Hỏa Tinh, Linh Tinh" đồng độ thì chỉ chủ về no ấm mà không giàu sang.

Cung phu thê gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, chủ về thành hôn trong lúc bối rối vội vàng.

"Hỏa Tinh, Linh Tinh" ở cung mệnh, chủ về trước thì "việc sắp thành lại hỏng", trải qua nỗ lực mới chuyển thành "việc sắp hỏng thì lại thành". Người theo võ nghiệp gặp chúng thì chủ về lập được công trạng.

Nữ mệnh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, cổ nhân cho rằng hiếp đáp chồng, khắc con, quan hệ nhân tế rất kém, tính cách cương cường; nặng nhất là gặp Hỏa Tinh, còn nói là lòng dạ lang sói. Những luận đoán trên cần phải xem xét tinh hệ chính diệu của cung mệnh mới định được; không thể luận đoán lung tung, loạn xạ như vậy.

Cung phúc đức gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, phần nhiều nội tâm nóng nảy, nhưng vẫn có phân biệt. Hỏa Tinh chủ về tính "cương" (cứng rắn), Linh Tinh chủ về tính "liệt" (dữ dội). Tính "cương" thì phần nhiều nóng nảy, tính "liệt" thì không nói nhưng dùng hành động để phản kháng.

Cho nên hai sao tuy cùng có tính cứng rắn, nhưng tính cứng rắn của Hỏa Tinh mang tính chất chính diện, bộc trực; còn tính cứng rắn của Linh Tinh thì thâm trầm hơn.

Hai sao rất ưa đồng độ với Tham Lang, kế đó là hội hợp với Tham Lang, gọi là cách "Hỏa Tham" hay cách "Linh Tham", chủ về phát lên một cách nhanh chóng, hoặc chủ về lập được công danh một cách nhanh chóng. Ngoài ra, Hỏa Tinh và Linh Tinh cũng ưa đồng độ với hai chính diệu Tử Vi, Thất Sát. Tử Vi có thể hóa giải tính cứng rắn của Hỏa Tinh và Linh Tinh; Thất Sát thì có uy và có thể nhiếp phục Hỏa Tinh và Linh Tinh. Cho nên nếu so sánh thì mệnh cục Tử Vi có Hỏa Tinh đồng độ sẽ ít sóng gió, trắc trở hơn mệnh cục Thất Sát có Hỏa Tinh đồng độ.

Cự Môn là ám tinh, rất kị gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, bởi vì Hỏa Tinh, Linh Tinh không đủ sức làm sáng Cự Môn, mà "ám" của Cự Môn thì đủ để làm u ám Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nếu Cự Môn đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về là người dễ xung động, hẹp lượng, mà còn nhiều thị phi.

Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng không ưa Liêm Trinh; Liêm Trinh là âm hỏa, các sao hỏa cùng tụ tập ở một cung, gặp Thất Sát và Kình Dương sẽ chủ về xảy ra bất trắc.

Liên quan đến Hỏa Tinh, Linh Tinh, cổ nhân có lập hai cách cục, một là "Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp mệnh", hai là "Linh Xương Đà Vũ".

Cổ nhân nói:

"Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp mệnh là bại cục."

Trong Đẩu Số, hễ bị một cặp sát tinh giáp cung, nhất định sẽ có khuyết điểm, như "Kình Dương, Đà La" giáp cung, "Địa Không, Địa Kiếp" giáp cung, và "Hỏa Tinh, Linh Tinh" giáp cung. Cung bị "Hỏa Tinh, Linh Tinh" giáp cung sẽ có khuyết điểm gì, thì phải xem tinh hệ bị giáp cung mà định, thông thường, sẽ khiến đời người bị giảm sắc.

Xuất thân như nhau, cùng học như nhau, thậm chí cùng làm việc trong một cơ cấu, đến sau trung niên lại một thăng, một trầm; có thể là vì bị "Hỏa Tinh, Linh Tinh" giáp mệnh, mà chính diệu của cung mệnh lại vô lực.

Nếu bị giáp cung là tinh hệ hữu lực, như "Vũ Khúc, Thất Sát", "Vũ Khúc, Thiên Phủ", "Liêm Trinh, Thất Sát", "Tử Vi, Thất Sát", sẽ chủ về mệnh tạo vẫn có thể phát dương quang đại, bất quá chỉ phải trải qua gian khổ mà thôi.

Nhưng nếu cung vị bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung lại có Kình Dương, thì lúc luận đoán phải cực kì cẩn thận. Kình Dương có thể biến thành thiện mà cũng có thể biến thành ác, không thể luận chung chung được. Lúc này phải quan sát các sao hội hợp ở tam phương tứ chính mà định tính chất của nó.

Còn cách "Linh Xương Đà Vũ" là an mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, mà tam phương tứ chính lại tụ hội bốn sao Linh Tinh, Đà La, Văn Xương, Vũ Khúc. Cổ nhân nói:

"Linh Xương Đà Vũ, hạn đến thì nhảy sông."

Chủ về có tai nạn sông nước. Đây là do cổ nhân chứng nghiệm được nên đưa ra kết luận này. Theo Vương Đình Chi, thực ra cũng có thể xem là điểm báo tai nạn thông thường, nhất là về giao thông.

Cần lưu ý, nếu nguyên cục có Vũ Khúc và Linh Tinh hội chiếu (Hỏa Tinh thì không phải), trong đại hạn hoặc lưu niên cần phải có Lưu Xương, Lưu Đà hội hợp, bởi vì cách cục "Linh Xương Đà Vũ" cũng bao gồm cả Lưu Xương, Lưu Đà. Vốn dĩ đã có Đà La, Văn Xương, lại bay vào Lưu Đà hoặc Lưu Xương, xung khởi Đà La, Văn Xương, thì tai họa sẽ dễ xảy ra, năm đó cần phải cẩn thận giữ gìn sức khỏe, đồng thời để phòng tai nạn sông nước và tai nạn giao thông.

Địa Không, Địa Kiếp

Địa Không thuộc âm hỏa, Địa Kiếp thuộc dương hỏa.

Cổ nhân nói:

Địa Không thủ mệnh, chủ về "làm việc không tưởng, thành bại đa đoan"; Địa Kiếp thủ mệnh, chủ về làm việc qua loa, sơ sài, không theo chính đạo.

Thực ra có các thuyết này là vì người có Địa Không thủ mệnh ưa ảo tưởng, cách suy nghĩ của họ, người ta không hiểu được; người có Địa Kiếp thủ mệnh thì thích làm trái với truyền thống, trái với xu thế thay đổi phát triển của xã hội, hành vi của họ, người ta cũng không hiểu được.

Địa Không chủ về tinh thần; Địa Kiếp chủ về vật chất. Cho nên trắc trở do Địa Không mang lại sẽ đả kích về mặt tinh thần nhiều hơn là tổn thất vật chất; còn trắc trở do Địa Kiếp mang lại sẽ tổn thất về vật chất lớn hơn sự đả kích về mặt tinh thần.

Địa Không thủ mệnh, ưa gặp tinh hệ chính diệu có sắc thái hành động, như "Vũ Khúc, Thất Sát", Tham Lang ở cung vượng, Phá Quân Hóa Lộc, "Tử Vi, Thất Sát", còn được gặp cát tinh, tức chủ về có thể biến những điều không tưởng thành hành động, nhờ vậy có thể tiêu trừ khuyết điểm do Địa Không mang lại.

Nếu Địa Không cùng ở một cung với "Thiên Cơ, Cự Môn", phần nhiều là người không tưởng, hoặc lí tưởng quá cao, mà không thể biến thành hành động thực tế, thế là có biểu hiện "làm việc trồi sụt thất thường", hoặc "làm việc giả dối".

Hỏa trống (không) phát, kim rỗng (không) thì kêu, cho nên Địa Không ưa gặp Hỏa Tinh ở hai cung Tị hoặc Ngọ, chủ về phát đột ngột; cũng ưa gặp các sao thuộc kim ở hai cung Thân hoặc Dậu, chủ về danh vọng; tuy nhiên, không nên gặp thêm các sát tinh còn lại và sao kị.

Cung tật ách có Địa Không bay đến, phần nhiều chủ về mắc bệnh hiếm gặp. Vương Đình Chi từng gặp một trường hợp Thiên Lương thủ cung tật ách, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh và Địa Không đồng độ, bị mắc bệnh viêm não.

Địa Kiếp tuy chủ về tổn thất vật chất, nhưng di chứng nhẹ hơn Địa Không. Ví dụ như, thất bại của Địa Kiếp giống như mua được một món đồ cổ quý giá, nhưng khi đến tay thì bị vỡ, tuy có thể sửa chữa, nhưng bản thân không còn thấy thích nữa; thất bại của Địa Không thì giống như muốn mua một món đồ cổ thì lại bị người ta nhanh chân mua trước, cứ tiếc mãi.

Xét từ góc độ tinh thần, thì sự đả kích của Địa Không là khá nặng; còn nhìn từ góc độ vật chất, thì sự tổn thất của Địa Kiếp là khá lớn. Do đó có thể biết, Địa Không thì không nên ở cung phúc đức, cung phu thê, cung tử nữ; Địa Kiếp thì không nên ở cung mệnh, cung sự nghiệp, cung tài bạch.

Địa Kiếp thủ mệnh, thích hợp với hành động thiết thực, nên khởi nghiệp trong ngành công nghệ, từ đó có thể sáng lập sự nghiệp mới, cũng chủ về có thể phát đạt. Địa Kiếp ưa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, do nhập "Thiên La, Địa Võng" nên có khuynh hướng khá thực tế.

Địa Không, Địa Kiếp giáp mệnh, chủ về cuộc đời gặp nhiều trắc trở, gập ghềnh, bất đắc chí.

"Địa Không, Địa Kiếp" đồng độ thủ mệnh, hoặc đối xung, phần nhiều chủ về lúc còn nhỏ tuổi bất lợi, không được cha mẹ che chở, hay đau yếu, nghèo khó, hoặc nhiều tai ách. Cần xem xét các tổ hợp sao của các cung mà định tính chất.

"Địa Không, Địa Kiếp" thủ mệnh hoặc giáp mệnh, cổ nhân cho rằng lợi về xuất gia. Ở thời hiện đại, có thể là người thích nghiên cứu các môn học ít người lưu tâm.

Địa Không, Địa Kiếp chia ra ở cung phu thê và cung mệnh, chủ về vợ chồng có tính cách không hợp nhau, hôn nhân có nỗi khổ khó nói, phần nhiều đều đau khổ trong lòng.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái