Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cự Môn Độc Tọa Tí, Ngọ Và Thiên Tướng Độc Tọa Sửu, Mùi

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202620 phút đọc3 lượt đọc

Hai tinh hệ này đều bị phân định bởi một ranh giới mỏng trong nội tâm và khí chất. Cự Môn độc tọa ở Tí, Ngọ đối Thiên Cơ; được cát hóa Lộc hay Quyền, không gặp sát tinh thì gọi là Thạch trung ẩn ngọc, chủ người anh hoa nội liễm, làm nên đại nghiệp. Nhưng anh hoa nội liễm và nội tâm nghi kị chỉ cách nhau một đường ranh: người nghi kị cho rằng ai cũng hại mình, nên đời nhiều khốn khó. Thiên Tướng độc tọa ở Sửu, Mùi đối Tử Vi, Phá Quân, tam hợp Thiên Phủ. Thiên Tướng thủ mệnh mang khí chất tham mưu, cố vấn, và phải xét khí chất ấy cao thượng, thanh nhã hay tầm thường, dung tục. Tài ấm giáp ấn chưa chắc cao thượng, và Hình kị giáp ấn cũng chưa chắc dung tục.


Cự Môn Độc Tọa Ở Hai Cung Tí Hoặc Ngọ

Cự Môn độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ắt đối nhau với Thiên Cơ, cung tam hợp là Thái Dương, và "Thiên Đồng, Thiên Lương" mượn sao an cung.

Cự Môn ở hai cung độ này, nếu cát hóa làm Lộc hay Quyền, lại không gặp sát tinh, thì gọi là "Thạch trung ẩn ngọc", chủ về là người "anh hoa nội liễm", có thể trở thành đại nghiệp. Trường hợp có Lộc Tồn đồng độ là kế đó; nếu không được cát hóa mà gặp sát tinh, là phá cách.

Thực ra, muốn luận đoán đặc tính của Cự Môn ở hai cung độ này, chỉ cần chú ý xem nó thuộc tính chất "anh hoa nội liễm" hay là "nội tâm nghi kị". Hai tính chất này đều thuộc thế giới nội tâm, hơn nữa chỉ cách nhau một đường ranh.

Cự Môn vốn là "ám tinh", tức có bản chất che lấp người khác, bề ngoài thì như không có gì, nhưng trong thực tế thì cho rằng không có người nào tốt, ai cũng gây bất lợi cho mình, một khi có tính cách này, đời người sẽ nhiều cảnh khốn khó.

Do đó có thể nói, Cự Môn cần phải hội Lộc, Quyền, Khoa mới "anh hoa nội liễm". Nếu có Kình Dương đồng độ, thì sản sinh lực "che lấp", nếu không được cát hóa, mà gặp sát tinh, thì nghi kị trùng trùng.

Thiên Cơ Hóa Kị ở đối cung, cũng đủ gây ảnh hưởng làm cho Cự Môn có nội tâm nghi kị. Nếu không Hóa Kị, mà chỉ có sát tinh đồng độ hoặc chiếu xạ cung độ của Cự Môn, thì không sinh tính nghi kị.

Thiên Cơ Hóa Lộc, cũng có ảnh hưởng tốt đối với Cự Môn, nhưng không thành cách cục. Cần phải bản thân Cự Môn Hóa Lộc hay Hóa Quyền, mới bắt đầu cải biến tính của nó. Bản thân Cự Môn không cát hóa, mà chỉ Thiên Cơ cát hóa, bất quá chỉ giảm bớt tính lo nghĩ nghi ngờ của Cự Môn mà thôi.

Thái Dương của cung tam hợp ưa nhập miếu, không ưa lạc hãm. Nhưng đối với Cự Môn của cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", dù hội hợp với Thái Dương lạc hãm cũng chẳng phải phá cách, bởi vì lúc này không cần ánh sáng và nhiệt của Thái Dương để giải trừ "u ám" ("Thạch trung ẩn ngọc" tức chẳng phải "u ám"), cho nên chỉ là không thành cách cục Cự Môn ở hai cung Tí hoặc Ngọ. Khi Cự Môn đồng độ với Kình Dương, mới cần ánh sáng của Thái Dương. Lúc này, Thái Dương ở cung Thìn đương nhiên tốt hơn ở cung Tuất, cũng tức là Cự Môn ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ.

Một nhóm sao hội hợp khác là "Thiên Đồng, Thiên Lương". Thiên Đồng Hóa Kị, tăng thêm tính nghi kị của Cự Môn; Thiên Lương Hóa Lộc cũng đủ hạ thấp cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", bởi vì lúc Thiên Lương Hóa Lộc, Cự Môn rất khó kềm chế để không biểu hiện bản thân, không hợp với tính chất của cách cục này.

Nhưng Thiên Đồng cũng nên kích phát, cho nên Thiên Đồng rất ưa có Long Trì, Phượng Các và các sao khoa văn đồng độ, chủ về có thể nảy sinh lực kích phát nhờ tài năng. Nếu có Đà La đồng độ, thì dễ nảy sinh tình cảm buồn phiền.

Hễ Cự Môn của "Thạch trung ẩn ngọc" đến niên hạn Thiên Tướng độc tọa, đại khái là tốt lành. Bởi vì Cự Môn cát hóa, mà Thiên Tướng giáp cung cũng vậy mà thôi: khí chất tốt, cho nên lúc trẻ được giáo dục tốt, cảnh ngộ xuất thân cũng tốt.

"Thạch trung ẩn ngọc" thuộc loại Cự Môn đồng độ với Lộc Tồn là thứ cách. Bởi vì lúc này Thiên Tướng ắt sẽ có Kình Dương đồng độ, do đó đời người sẽ gặp một số khó khăn trở ngại, vận trình lúc trẻ không bằng trường hợp Cự Môn Hóa Lộc, xuất thân cũng không bằng. Nếu Cự Môn thuộc loại nội tâm nghi kị đến cung hạn Thiên Tướng, sẽ chủ về nội tâm hay thay đổi, tính nghi kị của nó được dưỡng thành từ lúc còn trẻ.

Vận trình "Thiên Đồng, Thiên Lương" ưa tụ hội với Lộc Tồn, đối với Cự Môn thuộc tính chất nào cũng đều có lợi. Nếu các sao sát, kị cùng đến, Cự Môn mà thuộc loại "anh hoa nội liễm", có thể xem là vận thế khai sáng, tuy có gập ghềnh, trắc trở cũng là chuyện mà đời người phải trải qua, nhờ đó dưỡng thành tính cách vững vàng cho bản thân. Nhưng đối với Cự Môn thuộc loại nội tâm nghi kị, do vận thế chìm nổi làm tăng tính nghi kị, dễ đổ vỡ tình cảm với lục thân và đồng nghiệp, quan hệ giao tế xấu đi, ảnh hưởng đến hậu vận.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" dù có Thiên Mã đồng độ, cũng chẳng ảnh hưởng lớn đến vận thế của Cự Môn. Bởi vì rời xa quê hương không ảnh hưởng đến việc tiến thủ trong sự nghiệp, nhưng về vận thế tăng tầng suất chìm nổi mà thôi.

"Vũ Khúc, Thất Sát" được cát hóa, đối với Cự Môn có bản chất nào cũng đều có lợi, đây là vận trình kiếm tiền. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, không kị Cự Môn thuộc loại "anh hoa nội liễm", lúc này chỉ cần làm công việc lặng lẽ mà vững vàng, thì vẫn có thể duy trì thành tựu đã đạt được; nhưng đối với Cự Môn thuộc loại "nghi kị trùng trùng", thì sẽ là vận trình có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, làm càn, mà chuốc tổn thất.

Cự Môn thuộc loại "anh hoa nội liễm", đến đại hạn Thái Dương nhập miếu, hơn nữa còn hội các sao cát, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, là cuộc trải nghiệm nghiêm túc, bởi vì vậy mà thay đổi tính cách, leo lên ngọn núi cao, lúc vào lưu niên có vận thế không được tốt ắt sẽ sinh thất bại. Phép "theo cát tránh hung", là vẫn nên chiếm vị trí thứ hai, hơn nữa, không phát biểu ý kiến công khai.

Đối với Cự Môn có nội tâm nghi kị, đến cung hạn này, trái lại sẽ có thể hởi lòng hởi dạ. Nhưng nếu Thái Dương lạc hãm, lại gặp sát tinh, thì có lợi cho Cự Môn thuộc cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", mà bất lợi đối với Cự Môn có nội tâm nghi kị.

Cung hạn Thiên Cơ độc tọa, bất kể cát hóa như thế nào, hoặc hội các sao cát, đối với Cự Môn có bản chất nào cũng đều bất lợi. Bởi vì Thiên Cơ mà gặp Cự Môn tức sẽ mang tính chất "phá sạch". Chỉ lúc Cự Môn Hóa Lộc mới có thể làm giảm bớt tính chất "phá sạch" của nó. Cho nên khi cung mệnh của lưu niên có Thiên Cơ Hóa Kị, thì không nên có ý muốn thay đổi bất cứ điều gì. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, lại gặp lưu sát tinh hội chiếu, bất kể Cự Môn có bản chất tốt như thế nào, đều không nên cạnh tranh, mà nên nhường nhịn nhiều.

Cung hạn "Tử Vi, Phá Quân" cùng đến, đại khái cũng bất lợi đối với Cự Môn. Lúc cung hạn này cát hóa hoặc hội cát, Cự Môn thuộc loại "anh hoa nội liễm" cũng có thể bị hiện tượng bề ngoài dẫn dụ, kết quả dễ bị người ta bài xích, công kích; còn người "nghi kị trùng trùng" thì dễ cùng bị ngã. Nếu cung hạn này lại hội các sao hung, đối với người nặng lòng nghi kị, sẽ làm càn, đây là một lưu niên thất bại.

Cung hạn Thiên Phủ thủ tọa, chỉ cần không phải là "kho trống", "kho lộ", đối với Cự Môn thuộc tính chất nào cũng đều có lợi. Lợi nhất là Cự Môn thuộc loại "anh hoa nội liễm", đây là vận trình thu hoạch. Nếu Thiên Phủ thuộc loại "kho trống", "kho lộ" thì Cự Môn có nội tâm nghi kị ắt sẽ nảy sinh lời qua tiếng lại, bất hòa, tranh chấp.

Cự Môn thuộc cách cục "Thạch trung ẩn ngọc", rất ưa đến cung hạn Thái Âm thủ tọa, nếu nhập miếu và gặp sao lộc, hơn nữa còn hội các sao cát, là vận tốt, có thể phát tài, phát phúc; nếu lạc hãm và gặp cát tinh, thì cách cục hơi kém hơn.

Nếu Thái Âm hóa làm sao kị, lại gặp sát tinh, hơn nữa còn ở cung lạc hãm, là vận nguy của Cự Môn có nội tâm nghi kị. Không những nhiều thị phi quấy nhiễu, gây khó khăn, mà còn thường phạm sai lầm, tình cảm nội tâm không được cởi mở, khổ sở gian nan.

"Liêm Trinh, Tham Lang" cát hóa, cũng không thích hợp với Cự Môn. Bất kể là đại vận hay lưu niên, Cự Môn đều không ưa đến cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ, gặp Hóa Kị và sát tinh thì càng bất lợi; nếu gặp Hóa Lộc và các sao cát, Cự Môn thuộc cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" sẽ giảm bớt khí "anh hoa nội liễm" trong vận hạn này; còn Cự Môn thuộc loại nội tâm nghi kị thì sẽ chuốc rối rắm tình cảm, dễ nảy sinh tình yêu không bình thường và đau khổ vì tình. Lưu niên mà gặp chúng, người thuộc loại "anh hoa nội liễm" tuy không đến nỗi thay đổi khí chất, nhưng lại dễ nảy sinh sự thay đổi không cần thiết.

Đến đây xin cử một ví dụ thực tế thuyết minh tình hình Cự Môn ở cung mệnh.

Người sinh năm Đinh, Cự Môn thủ mệnh ở cung Ngọ, có Lộc Tồn đồng độ, nhưng Cự Môn Hóa Kị, hơn nữa còn bị Kình Dương và Đà La giáp cung mệnh, thuộc bản chất nội tâm nghi kị.

Đến đại vận Đinh Mùi, Thiên Tướng giữ cung, là lưỡng trùng "Hình kị giáp ấn", có thể biết vận trình này không cát tường. Ở cung phu thê của đại vận, "Liêm Trinh, Tham Lang" cũng bị lưỡng trùng Đà La cùng bay đến, chủ về vì hôn nhân mà bị quấy nhiễu, gây khó khăn.

Đến năm Giáp Tí, Thái Dương Hóa Kị ở cung phu thê của lưu niên, hội hợp với lưỡng trùng Cự Môn Hóa Kị, vì đa nghi lo nghĩ mà hôn nhân tan vỡ. Năm Bính Dần, ở cung phu thê của lưu niên, Thiên Cơ gặp lưỡng trùng Cự Môn Hóa Kị, dẫn đến đoạt tình yêu của bạn bè, xảy ra sóng gió rất lớn.

Đây là một ví dụ về Cự Môn có nội tâm nghi kị, vì tâm lí mất quân bình, dẫn đến tự tìm buồn phiền. Nếu đây là nam mệnh, thì điểm thất bại cũng biểu hiện ở sự nghiệp, không chỉ xấu ở phương diện tình cảm.

Thiên Tướng Độc Tọa Ở Hai Cung Sửu Hoặc Mùi

Thiên Tướng độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đối cung là "Tử Vi, Phá Quân", cung tam hợp là Thiên Phủ, và "Liêm Trinh, Tham Lang" mượn sao an cung.

Muốn luận đoán tính chất của Thiên Tướng ở hai cung này, cần phải chú ý xem nó thuộc khí chất "cao thượng, thanh nhã", hay "tầm thường, dung tục". Bởi vì hễ người Thiên Tướng ở cung mệnh, ắt sẽ có khí chất làm tham mưu, cố vấn; nếu thuộc khí chất "cao thượng, thanh nhã" thì sẽ không mất tính độc lập của họ; nếu thuộc khí chất "tầm thường, dung tục" thì bất quá chỉ là kẻ tầm thường ở quan trường, đầy tớ nhà giàu mà thôi.

Thiên Tướng thuộc loại "Tài ấm giáp ấn" chưa chắc là "cao thượng, thanh nhã", bởi vì kẻ tầm thường ở quan trường mà leo lên chức quan cao thì cũng phù hợp với ý vị của "Tài ấm giáp ấn".

Thiên Tướng thuộc loại "Hình kị giáp ấn" cũng chưa chắc là "tầm thường, dung tục", bởi vì tính tình đặc biệt, xử sự không hòa hợp, tức là có ý vị "hình kị", mà người này ắt sẽ không chịu trôi theo dòng nước.

Muốn phân biệt khí chất của Thiên Tướng, cần phải xem nó có gặp các sao Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái hay không mà định; nếu có tất là khí chất "cao thượng, thanh nhã".

Nếu Thiên Tướng gặp các sao ác Âm Sát, Thiên Hư, Phi Liêm, Chỉ Bối, Tức Thần, Vong Thần là hạng "tầm thường, dung tục".

Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã", mệnh vận chưa chắc bằng Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục", nhưng địa vị xã hội thì hơn.

Xem xét "Tử Vi, Phá Quân" ở đối cung để luận đoán, nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa là điểm Thiên Tướng gặp được minh chúa, lợi cho khí chất "cao thượng, thanh nhã". Nếu "Tử Vi, Phá Quân" gặp sát tinh, Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" dễ sinh phản phúc, sẽ khó tránh "sáng Tần chiều Sở", đứng núi này trông núi nọ.

Thiên Phủ ở cung tam hợp đương nhiên có sao lộc là tốt, cũng rất ưa được đối cùng với sao lộc của "Vũ Khúc, Thất Sát" ở đối cung, được vậy thì bất kể Thiên Tướng thuộc loại bản chất nào cũng đều chủ về nguồn tiền tài thuận lợi toại ý. Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", từ khí chất "tầm thường, dung tục" biến thành giỏi thay đổi, xu phụ quyền thế một cách tráo trở, mà vẫn coi như không có gì.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung tam hợp, nếu có các sao khoa văn đồng độ, hoặc gặp sao không, thì sẽ ảnh hưởng khiến Thiên Tướng có khí chất "cao thượng, thanh nhã", hơi gặp một hai sao đào hoa cũng không sao, bất quá chỉ là phong lưu thi tửu. Nếu gặp các sao ác, sát, hình cùng bay đến, hoặc Tham Lang Hóa Lộc đồng độ với Kình Dương, Đà La, thì khó tránh gây ảnh hưởng khiến Thiên Tướng thành "xuôi theo dòng nước", khí chất "tầm thường, dung tục". Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, thì khí chất tuy không tốt nhưng cũng không đến nỗi quá tầm thường.

Thiên Tướng có khí chất tốt, chưa chắc mệnh vận đã tốt; Thiên Tướng có khí chất kém, chưa chắc mệnh vận đã xấu; cho nên luận đoán đánh giá vận trình của Thiên Tướng tương đối khó, ở đây chỉ có thể đưa ra một số nguyên tắc cơ bản.

Cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ, nếu Thiên Đồng Hóa Lộc, mà Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã" là vận tốt, chủ về nội tâm vui vẻ. Nếu Thiên Lương Hóa Lộc, thì lợi về học hỏi kinh nghiệm cuộc sống. Có điều khí chất "cao thượng, thanh nhã" của nguyên cục mà ở trong vận trình của Thiên Lương Hóa Lộc sẽ dễ chuốc đào hoa, phong lưu, tự phụ, do đó ảnh hưởng đến hậu vận. Nếu Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" thì bất kể Thiên Đồng Hóa Lộc hay Thiên Lương Hóa Lộc, cũng đều dễ chìm đắm trong tửu sắc.

Thiên Tướng rất kị gặp Thái Âm Hóa Kị hoặc Thiên Cơ Hóa Kị. Nếu trong lưu niên "Thiên Đồng, Thiên Lương" mà gặp Thái Âm và Thiên Cơ đều hóa làm sao kị, thì đây là năm thất bại, hậu trường điên đảo.

Cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" đều nên Hóa Lộc hay Hóa Quyền; Hóa Khoa bất quá chỉ là hư danh hư lợi. Nếu có Kình Dương đồng độ, nên đề phòng bị người ta bài xích, chèn ép. Thiên Tướng rất xem trọng "nhân hòa", cho nên điểm này rất quan trọng. Nhất là Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục", càng ghét có sát tinh cùng đến cung hạn, mệnh tạo dễ gặp những tình hình như: nơi mình làm việc bị vỡ nợ, sập tiệm, người chủ quản bị bãi chức dẫn đến bản thân bị liên lụy.

Đến cung hạn Thái Dương độc tọa nhập miếu, Thiên Tướng thuộc loại "cao thượng, thanh nhã" sẽ biểu hiện được bản thân. Nếu lại được cát hóa hay gặp sao cát, thường thường là lưu niên hoặc đại vận được lột xác, người khác trọng dụng. Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" gặp vận này cũng tốt.

Nếu Thái Dương lạc hãm, thì không có sức để trọng dụng, đề bạt. Nếu lại bị Hóa Kị, thì đây là vận tiến mà thành lùi, được mà thành mất. Nếu Thiên Tướng của nguyên cục bị "Hình kị giáp ấn", đến vận này dễ phạm pháp, nếu không sẽ chủ về bị người ta oán trách, gây lụy.

Thiên Tướng của nguyên cục tọa mệnh ưa đến cung hạn Thiên Cơ độc tọa, được cát hóa làm Lộc, Quyền, Khoa, hơn nữa còn hội hợp với các sao phụ, tá cát ở tam phương tứ chính. Được vậy, Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã" có thể nắm trọng quyền; Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" cũng cảm thấy đắc ý, tiền bạc và chuyện vui đến liên tiếp. Lưu niên mà gặp nó cũng nhiều thuận lợi toại ý, vì Thiên Cơ được cát hóa hợp với khí chất của Thiên Tướng.

Nếu Thiên Cơ độc tọa mà Hóa Kị, hơn nữa còn gặp nhiều sao ác, sát, hung; Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã" nên thoái lui về chỗ nhàn hạ, sẽ dễ được người ta tri ngộ hơn; nếu cố hoạt động, có thể ảnh hưởng đến danh tiếng. Nếu Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" đến cung hạn này, sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, hai bên công kích nhau, càng muốn thay đổi thế yếu thì càng rơi vào thế yếu.

Cung hạn "Tử Vi, Phá Quân" đồng độ là lưu niên quan trọng của Thiên Tướng, khi cung này là cung mệnh của lưu niên là lúc thay đổi mệnh vận. "Tử Vi, Phá Quân" cát hóa mà gặp cát tinh, chủ về đổi chủ đầu minh chúa; Hóa Kị mà gặp sao hung, thì bị người dìu dắt, giúp đỡ ở hậu trường bỏ rơi.

Thiên Tướng đến cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", thường thường là năm hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp. Lúc này cần đồng thời quan sát cung giao hữu và cung huynh đệ xem được mất thế nào.

Thiên Tướng đến cung hạn "Tử Vi, Phá Quân" còn là lưu niên thường xảy ra rắc rối tình cảm. Lúc này cần đồng thời quan sát cung phu thê và cung phúc đức xem được mất thế nào.

Thiên Phủ độc tọa là vận trình và niên hạn quan trọng đối với người có Thiên Tướng của nguyên cục thủ mệnh. Xem Thiên Phủ có sao lộc hay không để định cát hung. Thậm chí có thể nói, có thu hoạch được hay không, là phải xem cơ hội của niên vận này mà định. Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", hội hợp với Liêm Trinh Hóa Kị (mượn sao an cung) và có các sao sát, hao, hình cùng ở một cung, thì chủ về phạm pháp hoặc có điều tiếng. Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" đến cung hạn này, càng dễ dẫn đến bị nhiều oán trách, hoặc chìm đắm trong tửu sắc mà phá tán, thất bại.

Cung hạn Thái Âm nhập miếu và gặp cát tinh, rất thích hợp với Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã", đây là vận tốt tài lộc như ý. Đối với Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" thì hơi kém hơn.

Cung hạn Thái Âm lạc hãm và gặp cát tinh, vẫn thuộc vận tốt, có điều kiếm được tiền trong gian khổ. Nếu lạc hãm lại gặp các sao sát kị, thì trái lại sẽ là vận trình phá tài, không như ý. Đối với Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục" thì càng tệ.

Đại vận hoặc lưu niên "Liêm Trinh, Tham Lang" thủ cung, nếu có kèm các sao khoa văn, đối với Thiên Tướng thuộc loại khí chất "cao thượng, thanh nhã" là đắc ý; gặp Tham Lang Hóa Lộc thì càng lợi (nếu Tham Lang Hóa Lộc ở đại vận, "Liêm Trinh, Tham Lang" ở lưu niên gặp Lưu Lộc đồng độ, chủ về đây là năm phát đột ngột). Nếu là Thiên Tướng thuộc loại khí chất "tầm thường, dung tục", thì cũng gặp nhiều cát lợi, nhưng không được lâu.

Nhưng nếu trong cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang" có sao đào hoa trùng trùng, thì người Thiên Tướng thủ mệnh càng dễ chuốc đào hoa. Gặp phải năm "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng thời Hóa Kị, là đào hoa kiếp; nếu lại gặp các sao sát, hình, sẽ chủ về vì sắc mà thất bại.

Cung hạn Cự Môn thủ cung rất quan trọng đối với người có Thiên Tướng thủ mệnh. Cự Môn ưa Hóa Quyền, Hóa Lộc, nếu không gặp sát tinh, là vận 10 năm cát lợi. Nếu Cự Môn Hóa Kị, lại gặp sát tinh, sẽ chủ về nguội lạnh với lục thân. Do đây là đại vận thứ hai của người có Thiên Tướng tọa mệnh, cho nên ảnh hưởng đến xuất thân và quan hệ giao tế của mệnh tạo, cần phải luận đoán cẩn thận.

Đến đây xin cử một ví dụ thực tế thuyết minh trường hợp Thiên Tướng thủ cung tật ách.

Thiên Cơ thủ mệnh ở cung Tí, Thiên Tướng ở cung tật ách. Người sinh năm Tuất, Thiên Tướng hội hợp với Tham Lang Hóa Lộc, lại gặp Lộc Tồn. Cung mệnh là Thiên Cơ Hóa Kị, có Kình Dương và Đà La cùng chiếu.

Khí chất của Thiên Cơ tầm thường, vì không những gặp nhiều sao lộc, mà còn gặp Hóa Lộc của Tham Lang, do đó dễ sinh bệnh ác tính. Thiên Cơ chủ về gan, Tham Lang cũng chủ về gan, cho nên kết cấu tinh hệ này biểu thị mệnh tạo dễ mắc bệnh gan.

Đến đại vận Nhâm Tuất, Thái Dương lạc hãm thủ cung mệnh, có Lưu Đà đồng độ. Cung tật ách là "Liêm Trinh, Tham Lang", nguyên cục có Kình Dương, Đà La giáp cung, bị Lưu Đà của đại vận và lưu niên xung khởi, lại hội hợp với "Vũ Khúc, Thất Sát" mà Vũ Khúc Hóa Kị, trong đại vận này mắc bệnh ung thư gan.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái