Bài tổng quan
Cung Giao Hữu: Từ Cung Nô Bộc Đến Quan Hệ Giao Tế Hiện Đại
Cổ nhân gọi cung giao hữu là cung nô bộc, vì thời xưa nó phản ánh quan hệ chủ tớ trong gia tộc. Ngày nay nó được cách tân thành quan hệ giao tế: tam phương tứ chính hội hợp cung phụ mẫu là thượng cấp, cung huynh đệ là người ngang vai, cung tử nữ là người dưới quyền. Tử Vi thủ cung giao hữu thì quá mạnh nên khó khống chế người dưới, cần bụng dạ rộng rãi dìu dắt hậu bối, và rất ghét Phá Quân hội chiếu. Thiên Cơ cho giao du rộng nhưng người quen, thuộc cấp dễ đổi theo thời thế. Thái Dương cống hiến khắp nơi mà thường bị oán trách. Vũ Khúc ít bằng hữu, chỉ tương hội Thiên Phủ là kết cấu tốt nhất. Thiên Đồng giao du rộng, không câu nệ tầng lớp.
Cung Giao Hữu
Cung giao hữu
Cung giao hữu cổ nhân gọi là "cung nô bộc". Trong xã hội cổ đại, "nô bộc" là thành viên của gia đình. Một đời làm nô bộc, đời đời là nô bộc, cho nên sự tốt xấu của cung nô bộc đúng là có liên quan đến sự thịnh suy của gia tộc. Vì vậy, các nhà Đấu Số cổ đại khi luận đoán khá xem trọng nô bộc có lực hay không, nô bộc nhiều hay ít, có phản chủ không, có lừa dối chủ không, hoặc có phù trợ, giúp đỡ chủ không.
Ngày nay "cung nô bộc" đổi lại thành "cung giao hữu", là một sự cách tân rất lớn. Về mặt lí luận, ngày nay đã không còn mối quan hệ chủ tớ như ngày xưa, do đó về căn bản không cần nhìn từ "nô bộc" để suy diễn ra mệnh vận của gia tộc. Nhưng sự tốt xấu của các mối quan hệ giao tế là rất quan trọng đối với người hiện đại, việc sửa đổi thành "cung giao hữu" đúng là đã mang lại cho khoa Đấu Số cổ xưa một hàm nghĩa mới.
Có lẽ nhiều người sẽ hoài nghi rằng: "Cổ nhân truyền lại pháp môn này, sao có thể tùy tiện sửa đổi?" Thực ra bản thân Đấu Số là đời đời tương truyền, đã luôn luôn biến động thay đổi, từ "Thập Bát Phi Tinh" phát triển thành "Tử Vi Đẩu Số", chính là một biến động thay đổi cực lớn. Về sau, từ thời Nam Tống đến Minh, Thanh, đời nào cũng có người truyền lại không ít khẩu quyết khá hữu dụng, đó cũng là sự biến đổi cách tân trong Đấu Số. Vì vậy vấn đề không phải ở chỗ có nên thay đổi hay không, mà là những thay đổi cách tân đó có hợp lí hay không.
Thử xét tam phương tứ chính của "cung nô bộc", đối cung là cung huynh đệ, cung hội hợp là cung phụ mẫu và cung tử nữ, đây rõ ràng là một tổ hợp tổ tông ba đời và nô bộc, cũng tức là một mô thức điển hình của gia tộc cổ xưa.
Ngày nay lấy tính chất "nô bộc" biến đổi thành tính chất "quan hệ giao tế". Theo Vương Đình Chi, cũng lấy "cung huynh đệ" xem là quan hệ với người ngang vai; lấy "cung phụ mẫu" xem là quan hệ với bậc trưởng bối; lấy "cung tử nữ" xem là quan hệ với những người thuộc vãn bối. Các sao của ba cung vị này hội chiếu với "cung giao hữu", vì vậy sẽ phản ánh các mối quan hệ giao tế một cách chỉnh thể.
Lúc luận đoán Đấu Số, khi lấy "cung giao hữu" dùng để luận đoán về mối quan hệ với nhân viên làm thuê hoặc người dưới quyền; cũng cần đồng thời lấy "phụ mẫu" xem là ông chủ, thượng cấp, hoặc bậc tiền bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo; lấy "tử nữ" xem là trợ thủ trực thuộc, hoặc những người thuộc lớp vãn bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo; và lấy "huynh đệ" xem thành những người ngang vai với mệnh tạo; còn "cung giao hữu" là một phản ánh chung.
Người mới học Đấu Số thường mắc phải một bệnh, đó là không quan sát toàn diện các sao của các cung có liên quan. Lấy việc quan sát các sao của "cung nô bộc" làm ví dụ, cổ nhân lấy "cung phụ mẫu" và "cung nô bộc" trong tam phương tứ chính để đo lường, sau đó mới xem đến tinh hệ của "cung phụ mẫu" và "cung nô bộc" có quan hệ hỗ tương như thế nào, từ đó có thể biểu thị tình trạng nô bộc của đời "phụ mẫu"; nếu cũng lấy "cung huynh đệ" và "cung tử nữ" ra quan sát, xem xét mối quan hệ hỗ tương của chúng với "cung nô bộc", thì có thể biết được tình trạng nô bộc của ba đời.
Ngày sau quan sát cung giao hữu cũng có thể dùng biện pháp như vậy. Nếu lấy cung phụ mẫu và cung giao hữu ra so sánh, đồng thời tiến hành nghiên cứu mối quan hệ của chúng, thì có thể nhìn ra mối quan hệ của thượng cấp và người dưới quyền của mệnh tạo. Ví dụ như "cung phụ mẫu" Thiên Lương độc tọa cung Ngọ, "cung giao hữu" là Thiên Đồng độc tọa cung Tuất, còn "cung huynh đệ" là Cự Môn ở cung Thìn có sát tinh chiếu xạ, thế là chúng ta sẽ có một giả định tốt nhất là: thượng cấp là người rất thích soi bói, bới móc; trong đồng sự có người ưa đâm bị thóc, chọc bị gạo, xui nguyên giục bị, vì vậy mà bản thân rất lúng túng, khó xử về quan hệ giao tế ở nơi làm việc, có thể sẽ bị lôi kéo vào vòng tranh chấp, bất hòa. Điểm này có thể nhìn ra từ tính chất của Thiên Đồng ở cung Tuất.
Nhưng nếu Thiên Lương có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, tính chất của Thiên Lương sẽ biến thành cao thượng, độ lượng, Thiên Đồng của "cung giao hữu" cũng bị ảnh hưởng của Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu mà cải thiện.
Vương Đình Chi đưa ra phương pháp luận đoán như trên, có thể giúp cho người học Đấu Số tìm ra tình trạng quan hệ nhân tế của mỗi giai đoạn trong cuộc đời một người khá rõ ràng.
Cung Giao Hữu Có Tử Vi
Cung giao hữu có Tử Vi
Tử Vi thủ cung giao hữu, sao quá mạnh, trong các tình hình thông thường, chủ về khó khống chế người dưới quyền.
Nếu Tử Vi nhập miếu, còn có các sao phụ tá Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ hoặc hội chiếu, thì Tử Vi càng mạnh, trong việc giao du với những người ngang vai tuy chủ về có thể có bạn bè hữu ích, nhưng bạn bè ắt sẽ hơn mệnh tạo, còn người dưới quyền thì sẽ khó khống chế. Nhưng nếu mệnh tạo có bụng dạ rộng rãi, dìu dắt, giúp đỡ hậu bối, thì có thể cải thiện mối quan hệ giao tế, còn được bạn bè và những người thuộc lớp vãn bối ủng hộ.
Nếu Tử Vi lạc hãm, không có sao phụ tá cát hội chiếu, chủ về chỉ hào nhoáng bề ngoài, có thể nhiều bạn bè, nhưng lại ít tri kỉ; hoặc tuy kết giao được những người có địa vị xã hội, nhưng mối quan hệ lại không thân tình; cũng chủ về có nhiều người dưới quyền, nhưng họ đều có chủ kiến riêng.
Tử Vi rất ghét có Phá Quân hội chiếu ở cung giao hữu; nếu có Phá Quân hội chiếu, lại gặp thêm Địa Không và Địa Kiếp, thì chủ về bị thuộc cấp làm liên lụy, hoặc vì bạn bè mà phá tài.
Nếu Tử Vi đã gặp Phá Quân, còn gặp thêm Đà La, thì chủ về mệnh tạo vì thuộc cấp mà ra mặt nên dẫn đến bất hòa, tranh chấp thị phi.
Nếu Tử Vi có tứ sát tinh hội chiếu, chủ về thuộc cấp dễ làm lỡ việc. Về phương diện giao du, khó có bạn bè hữu ích, dễ gần với tiểu nhân, hoặc bị người có địa vị hãm hại.
Tử Vi nếu tương hội với Hóa Kị và Kình Dương, thì thuộc cấp bạc tình vô nghĩa, được mệnh tạo dìu dắt giúp đỡ nhưng quay lại báo oán, hoặc bị họ bán đứng. Về phương diện giao du, chủ về cố sức giúp người nhưng lại bị báo oán.
"Tử Vi, Phá Quân" đồng độ, chủ về người dưới quyền vô tình vô nghĩa, làm cho mệnh tạo bị tổn thương, sự nghiệp bị đả kích, tiền tài tổn thất, hoặc địa vị bị dao động. Về phương diện bạn bè, chủ về được bạn bè nói lời ngay thẳng khuyên can, nhưng nếu có sát tinh hội chiếu thì chủ về vì bạn mà phá tài. Nếu có các sao sát, kị, hình, hao cùng chiếu, thì vì bạn bè hoặc người dưới quyền làm liên lụy mà dính vào họa phạm pháp. Nhưng nếu có cát tinh hội hợp, thì nhờ bạn bè tốt mà được lợi ích; người dưới quyền tuy vô tình vô nghĩa, nhưng vì có nhiều người dưới quyền nên cũng có một thời kì trở thành trợ lực; hoặc chủ về gặp cơ hội được người có địa vị xã hội chiếu cố, nhưng mối quan hệ dễ trở thành lạt lẽo.
"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ, trong tình huống thông thường chủ về có thể kết giao với người có địa vị xã hội; người dưới quyền nhiều, nhưng ý kiến bất nhất. Nếu Tử Vi Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì người dưới quyền phần nhiều có chủ kiến riêng, có thể trở thành trợ thủ đắc lực, nếu tiến hành dìu dắt, giúp đỡ, thì tương lai có thể trở thành bạn bè hữu ích. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa thì không nên gặp thêm Lộc Tồn đồng cung, chủ về người dưới quyền tuy có thể giữ tiền, nhưng lại không giỏi kinh doanh, chỉ có thể thủ thành. Nếu có thêm sát tinh tụ tập thì chủ về oán hận; hoặc chủ về người dưới quyền có âm mưu. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, thì vì bạn mà phá tài, hoặc bị người dưới quyền trộm cắp. Nếu gặp Vũ Khúc Hóa Kị, thì chủ về thượng cấp của mệnh tạo bị người dưới quyền của mệnh tạo lừa gạt; nếu gặp Liêm Trinh Hóa Kị, thì bị người dưới quyền mà bản thân mệnh tạo đề bạt làm liên lụy.
"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ, chủ về giao du rộng. Nếu có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Vu, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Phúc hội chiếu, thì đến đâu cũng có bạn bè hoan nghênh; nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì nhờ tài phú, quyền lực, hoặc danh dự mà được bạn bè ủng hộ; nếu gặp các sao đào hoa, lại gặp thêm Đà La, Âm Sát, thì chủ về bị bạn bè hãm hại, hoặc người dưới quyền làm liên lụy; hoặc vì giao du với những người ở chốn gió trăng mà chuốc điều tiếng thị phi. Nếu có Lộc Tồn đồng độ mà gặp sát tinh, chủ về tranh chấp tiền bạc với bạn bè, hoặc bạn bè có nhiều tiền mà keo kiệt, bủn xỉn.
"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ, chủ về người dưới quyền và bạn bè đều có trợ lực. Nếu gặp sao cát và cát hóa hội chiếu, chủ về được người có địa vị dìu dắt, giúp đỡ, trợ lực; phần nhiều là bạn bè tốt, hoặc bạn bè và người dưới quyền phần nhiều là người có chính nghĩa. Nhưng nếu gặp sát tinh, thì chủ về vì bạn bè hoặc người dưới quyền mà phá tài; nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, thì chủ về chịu lỗi thay cho người khác. Có tứ sát tinh, Thiên Hình, Đại Hao hội chiếu, phần nhiều vì giao du với bạn xấu mà hao tổn, hoặc bị người dưới quyền trộm cắp.
Tử Vi rất ngại có Thất Sát đồng độ, chủ về bị bạn bè và người dưới quyền bài xích, chèn ép, dù gặp cát tinh cũng chủ về bị tước đoạt tiền bạc hoặc quyền lực; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì chủ về bạn bè và người dưới quyền lấy oán báo ân; có Hỏa Tinh, Thiên Hình đồng độ, thì bạn bè và người dưới quyền phần nhiều là người cứng rắn, thô bạo.
Cung Giao Hữu Có Thiên Cơ
Cung giao hữu có Thiên Cơ
Thiên Cơ thủ cung giao hữu, gặp sao cát, chủ về giao du rộng, nhập miếu cũng vậy. Tuy người dưới quyền tốt nhưng lại dễ thay đổi theo thời thế, làm trợ thủ đắc lực không được bền; bạn bè cũng có lúc thay đổi. Đời người tuy không cô tịch, nhưng khó được người dưới quyền trợ lực lâu dài. Nếu lạc hãm, hoặc hội sát tinh, thì bạn bè tuy nhiều, nhưng kết oán cũng nhiều; số người dưới quyền lưu động khá lớn, và thường mang trong lòng sự bất mãn.
Lấy tính chất của sát tinh để phân biệt. Kình Dương và Đà La đồng độ, thông thường chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền làm liên lụy; gặp thêm Thiên Hình, chủ về bị hãm hại. Hỏa Tinh và Linh Tinh đồng độ, chủ về có nhiều tranh đoạt; nếu Thiên Cơ Hóa Lộc thì vì tiền mà xảy ra tranh đoạt. Gặp Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, chủ về vì theo bạn mà phá tài, hoặc vì thay đổi người dưới quyền mà hao tổn tiền bạc, hoặc vì tranh chấp mà phá tán hao tài.
Thiên Cơ Hóa Lộc gặp sát tinh, chủ về vì bạn mà hao tán tiền bạc; có thêm Hóa Kị, Thiên Hình hội hợp, chủ về có tranh chấp, kiện tụng với bạn bè hoặc người dưới quyền.
"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ, nếu nhập miếu thì giao du rộng; nếu lạc hãm thì đề phòng bạn bè hoặc người dưới quyền âm mưu. Nếu gặp Thiên Đồng Hóa Lộc, chủ về có nhiều người dưới quyền. Cung giao hữu đồng thời gặp thêm sát tinh thì nên đề phòng người dưới quyền xâm phạm; gặp thêm Thiên Hình, chủ về bị thuộc cấp làm liên lụy.
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, trong các tình hình thông thường chủ về có điều tiếng thị phi với bạn bè một cách vô vị, hoặc dù có lòng khoan hậu nhưng vẫn bị người dưới quyền oán trách, cũng chủ về giao du với những người sốc nổi, không thiết thực. Cự Môn Hóa Kị, càng không nên gặp Thiên Hình, nếu gặp thì vì tranh chấp mà dẫn đến điều tiếng hay phạm pháp; gặp sát tinh Kình Dương, Đà La chủ về bị liên lụy, tranh cãi ồn ào; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ về bị hãm hại; gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về vì tranh hơn thua hảo mà phá tài.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ, chủ về có thể kết giao với bạn bè hữu ích, bạn bè tốt, nhưng quan hệ hữu nghị không lâu dài. Nếu gặp sao cát thì được bạn bè trợ lực, hoặc chủ về người dưới quyền có tính thẳng thắn, nhưng vẫn luôn thay đổi thuộc cấp. Vì vậy nếu cung giao hữu gặp Thiên Cơ và Thiên Lương đồng độ, cần phải khéo léo xử sự với người dưới quyền, mới có thể xoay chuyển vận thế tiên thiên. Nếu mệnh có Lộc Tồn đồng độ thì nên chú ý điều chỉnh cách đãi ngộ thuộc cấp. Gặp các sao sát, kị, hình, thì vì bạn bè hoặc người dưới quyền mà bị liên lụy, hoặc dẫn đến phạm pháp; nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, thì vì bị liên lụy hoặc phạm pháp mà phá tài. Nhưng nếu có sao cát hội hợp thì chỉ là một phen hú vía.
Cung Giao Hữu Có Thái Dương
Cung giao hữu có Thái Dương
Thái Dương ở cung giao hữu, trong tình hình thông thường đều chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền oán trách. Nếu các sao của cung phụ mẫu không cát tường, lại chủ về có lúc bị thượng cấp đòi hỏi, trách phạt. Đây là vì Thái Dương mang ánh sáng và nhiệt cống hiến khắp nơi, muôn vật nhờ vậy mà được ích lợi, nhưng muôn vật không những không báo đáp Thái Dương, mà thường thường lại oán trách Thái Dương.
Nếu Thái Dương Hóa Kị, thì tình hình thuật ở trên càng nặng, thường phải chịu lỗi thay cho người khác.
Nếu Thái Dương có Cự Môn hội chiếu, Cự Môn Hóa Kị, thì càng nhiều tranh chấp oan uổng, thậm chí vì người dưới quyền mà ra mặt, rồi bị cả thượng cấp lẫn những người dưới quyền khác oán trách. Vì vậy, nếu cung giao hữu có tổ hợp các sao này, mệnh tạo cần phải thành thật công bố, tuyệt đối không đứng về phe nào hoặc không để bị cuốn vào vòng tranh chấp. Ví dụ như đại diện cho người thuộc cấp đòi hỏi phúc lợi, hoặc đại diện cho ông chủ để hòa giải yêu sách của thuộc cấp, thảy đều không nên.
Thái Dương hội Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, nếu Thái Dương nhập miếu, thì có thể được bạn bè trợ lực, mà bạn bè còn hào sảng, người dưới quyền cũng có nhiều trợ lực, nhưng tính chất bị oán trách, đòi hỏi vẫn không thay đổi; nếu hội tứ sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, người dưới quyền ắt sẽ lấy oán báo ân. Đạo hóa giải là kiên trì nguyên tắc, đặt định trước các nguyên tắc chế độ rồi giao cho một người phụ trách chấp hành, còn bản thân cố gắng đứng bên ngoài.
"Thái Dương, Thái Âm" là tổ hợp cát lợi nhất của Thái Dương ở cung giao hữu, chủ về duyên với người khá tốt, có lúc được bạn bè hữu ích hay người dưới quyền trợ lực khá nhiều. Chỉ trường hợp hội các sao sát, hình, mới có tính chất bị người dưới quyền hay bạn bè oán trách, hoặc bị thượng cấp trách phạt, nhưng duyên với người vẫn tốt. Thái Dương Hóa Kị chủ về thị phi. Thái Dương Hóa Kị mà gặp Kình Dương, Đà La, thì nên đề phòng người dưới quyền có âm mưu.
Thái Dương và Cự Môn đồng độ, chủ về điều tiếng thị phi; gặp sát tinh thì càng bất lợi, như đã thuật ở trên. Nhưng nếu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì có bạn bè giỏi biện luận, giỏi ăn nói, hoặc bạn bè phần nhiều ở trong giới pháp luật và giới quảng bá. Chỉ giao du với những người có nghề nghiệp như vậy mới có thể thay đổi tính chất thị phi, bị oán trách.
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ, phần nhiều chủ về giao du với các nhân vật trong chính giới hoặc người nổi tiếng trong xã hội; nhưng nếu gặp Kình Dương, Thiên Hình, Đại Hao, thì chủ về vì giao du mà phá tán hao tài, thậm chí phạm pháp. Nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì có bạn bè chính trực hoặc người dưới quyền trung thành, còn nhờ bạn bè mà được ích lợi, được trợ lực của người dưới quyền, nhưng vẫn chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền oán trách. Vì vậy, cung giao hữu mà gặp các sao này, tối kị vì bạn bè mà bị cuốn vào vòng tranh chấp, nhất là trường hợp Thái Dương lạc hãm ở cung Dậu.
Cung Giao Hữu Có Vũ Khúc
Cung giao hữu có Vũ Khúc
Vũ Khúc nhập cung giao hữu, trong các tình hình thông thường đều chủ về ít bạn bè, người dưới quyền không nhiều, duyên với người cũng kém.
Nếu hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, và Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, mới chủ về nhiều bạn bè và người dưới quyền có trợ lực, nhưng vẫn khó được lòng bạn bè hoặc được lòng người dưới quyền.
Rất kị gặp các sao đào hoa, nếu lại hội Tham Lang, thì cuộc đời có nhiều bạn bè tửu sắc; cũng không nên hội Phá Quân lại gặp thêm Hóa Kị, Đại Hao, Thiên Vu, Âm Sát, chủ về vì bạn mà phá tài, giúp đỡ người khác lại bị họ oán hận; cũng không nên có Thất Sát hội chiếu, còn gặp thêm sát tinh, chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền bán đứng. Tóm lại, Vũ Khúc ở cung giao hữu, hội hợp với "Sát Phá Lang" đều có chỗ không nên.
Vũ Khúc chỉ ưa tương hội với Thiên Phủ, nếu Vũ Khúc nhập miếu, có cát tinh hội chiếu, thì không chỉ bạn bè nhiều, mà còn được bạn bè và người dưới quyền ủng hộ, mà bản thân mệnh tạo cũng có tính tình hào sảng.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ, chủ về nhiều bạn bè hoặc nhiều người dưới quyền, mà còn đắc lực. Đây là kết cấu tốt nhất của sao Vũ Khúc khi nhập cung giao hữu. Dù hội sát tinh, cũng chỉ chủ về bị tiểu nhân oán hận; nhưng không nên Vũ Khúc Hóa Kị, lại gặp thêm Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, chủ về tiền bạc của mệnh tạo bị bạn bè hay người dưới quyền đục đẽo, thậm chí dẫn đến tranh chấp lớn.
"Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ, gặp các sao đào hoa, chủ về giao du với bạn bè tửu sắc; gặp Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, thì giao du với bạn bè cờ bạc; nếu gặp thêm các sao sát, kị, thì bị bạn bè hoặc người dưới quyền dụ dỗ, dẫn đến phá tán hao tài, thất bại. Chỉ trường hợp có cát tinh hội hợp, hoặc Vũ Khúc Hóa Quyền, Hóa Lộc mới có tính chất cải thiện, nhưng vẫn cần phải giao du thận trọng, cẩn thận chọn người dưới quyền.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ, trong các tình hình thông thường đều chủ về bạn bè hoặc người dưới quyền bất nghĩa. Nếu gặp sát tinh đồng độ, thì chủ về bị bán đứng vào những lúc quan trọng. Nhưng nếu có cát tinh đồng độ, thì chỉ chủ về bạn bè hoặc người dưới quyền tranh chấp tiền bạc với mệnh tạo. Gặp kết cấu này, không nên kết bạn thâm giao với người xu nịnh, cũng không nên xem trọng lời ngon tiếng ngọt, và những người dưới quyền vâng vâng dạ dạ.
"Vũ Khúc, Thất Sát" đồng độ, là kết cấu xấu nhất của Vũ Khúc ở cung giao hữu, chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền bán đứng. Nếu gặp cát tinh hội hợp, còn gặp thêm Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì bạn bè và người dưới quyền tuy ít, nhưng đắc lực; nếu giao du rộng, hoặc có nhiều người dưới quyền thì vẫn bị tình trạng phản bội. Vũ Khúc Hóa Kị, gặp các sao sát, hao, Địa Không, Địa Kiếp, thì vì bạn bè làm liên lụy mà phá sản, hao tài; hoặc bị người dưới quyền gây lụy mà phá tán hao tài. Có Lộc Tồn đồng độ, chủ về bị người bài xích, chèn ép, lấy oán báo ân.
Vũ Khúc và Phá Quân cùng ở cung giao hữu, chủ về người dưới quyền phần nhiều đều a dua xu nịnh, bạn bè cũng khẩu phật tâm xà; gặp sao cát hội hợp thì có thể không bị tổn thất, hay cùng có lợi với bạn bè và người dưới quyền; nhưng nếu gặp Đại Hao, ắt vì bạn bè hoặc người dưới quyền mà phá tài; gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì chủ về bị bạn bè hoặc người dưới quyền phản bội vào những lúc quan trọng. Vũ Khúc và Phá Quân cùng ở cung giao hữu, mà Vũ Khúc Hóa Kị, lại gặp thêm các sao sát, hình, Âm Sát, chủ về bị bán đứng, dẫn đến phạm pháp.
Cung Giao Hữu Có Thiên Đồng
Cung giao hữu có Thiên Đồng
Thiên Đồng thủ cung giao hữu, chủ về giao du rộng mà không câu nệ người ở tầng lớp nào. Nếu gặp đủ Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, càng chủ về giao du khắp ngũ hồ tứ hải. Về phương diện người dưới quyền, cũng chủ về nhiều mà còn đắc lực.
Nếu Thiên Đồng lạc hãm, thì trong số bạn bè hoặc người dưới quyền có nhiều người muốn hãm hại mệnh tạo, bạn bè hữu ích hoặc có thể trợ giúp mệnh tạo lại rất ít.
Thiên Đồng ưa hội chiếu với Thái Âm hoặc Thiên Lương, chủ về có bạn bè hữu ích, bạn bè tốt, người dưới quyền có thể trợ lực, hoặc cương nghị thẳng thắn.
Thiên Đồng không ưa hội chiếu với Cự Môn, chủ về dễ bị bạn bè hoặc người dưới quyền hiểu lầm.
Thiên Đồng lạc hãm lại gặp Kình Dương, Đà La, chủ về bị bạn bè làm liên lụy, hoặc người dưới quyền hãm hại; nhập miếu thì chỉ chủ về bất hòa, hoặc người dưới quyền không có trợ lực.
Thiên Đồng lạc hãm mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về bị bạn bè giận, hoặc va chạm, xung đột với người dưới quyền; nhập miếu thì mức độ giảm nhẹ.
Thiên Đồng lạc hãm, tương hội với Địa Không, Địa Kiếp, chủ về vì bạn bè hoặc người dưới quyền mà phá tài; gặp thêm Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, Âm Sát, thì bị làm liên lụy nên dính dáng đến pháp luật, gây nên phá tán hao tài.
"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ, trong các tình hình thông thường đều chủ về có bạn bè hữu ích, hoặc người dưới quyền có nhiều trợ lực. Nhưng nếu gặp đủ tứ sát tinh, còn gặp thêm Thiên Hư, Âm Sát, thì vì bạn bè mà bị hại, hoặc người dưới quyền có âm mưu, nên cẩn thận đề phòng.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ, chủ về có nhiều bạn bè chính trực, hoặc người dưới quyền trung thành thủ phận. Nếu gặp đủ tứ sát tinh, hình, hao, lại gặp thêm Âm Sát, Phi Liêm, thì dễ bị thuộc cấp hãm hại, dẫn đến kiện tụng; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì chủ về phá tán hao tài.
Thiên Đồng và Cự Môn, chủ về có nhiều hiểu lầm với bạn bè hoặc người dưới quyền, hoặc trở mặt thành thù. Thiên Đồng và Cự Môn hội chiếu với Kình Dương, Đà La thì càng nhiều thị phi tranh chấp, kiện tụng. Thiên Đồng và Cự Môn gặp Địa Không, Địa Kiếp, Âm Sát, thì vì bạn bè hoặc người dưới quyền mà phá tài. Nếu gặp đủ tứ sát tinh, các sao hình, kị, hao, chủ về giao du thì nhiều, nhưng chỉ là bạn bè qua đường; người dưới quyền tuy nhiều, nhưng chỉ là trên danh nghĩa, đời người không tránh được cô tịch.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
