Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Sự nghiệp và tài vận: ba thế Kỵ không hợp kinh doanh

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh04/10/202616 phút đọc5 lượt đọc
Sự nghiệp và tài vận: ba thế Kỵ không hợp kinh doanh

Mệnh cung và Quan Lộc cùng hóa Kỵ cho nhau, người ấy hợp một việc cố định hơn là làm ăn chung với ai. Từ khí số vị của Mệnh, Tài, Quan mà đọc được vì sao hợp tác đổ vỡ, vì sao tiền về chậm, và nên chọn đối tác tuổi nào…


Sự nghiệp gồm công việc và học nghiệp: xem tuyến nào, xem điểm nào

Sự nghiệp bao gồm cả công việc lẫn học nghiệp, vì khi chưa có việc làm thì học nghiệp chính là sự nghiệp. Cát hung họa phúc ở đây chỉ ảnh hưởng đến bản thân, không tác động đến lục thân.

  • Tuyến Phụ – Tật và tuyến Huynh – Hữu để xem sự nghiệp.
  • Tuyến Tử – Điền và tuyến Huynh – Hữu để xem hợp tác.
  • Chủ yếu xem Nhất – Lục cộng tông, khí số vị và chuyển cung. Nhất – Lục cộng tông ít dùng, khí số vị được dùng nhiều hơn.
  • Xem sự nghiệp thì trọng điểm là khí số vị Nhất – Cửu, nơi sự nghiệp được khí vị số hóa nhập.
  • Nếu Mệnh – Tài – Quan bị phá thì chỉ là bị cản trở, không có nghĩa là không thể khởi nghiệp.
  • Hợp tác với ai là kỹ thuật cao cấp, xem tuổi sinh làm tiêu. Ví dụ Lai nhân cung có Nhâm Dần thì từng hợp tác với người tuổi Dần.

Mệnh cung và Quan Lộc: ba thế Kỵ không hợp kinh doanh

Quan Lộc là khí số vị của Mệnh cung. Có ba thế Kỵ không thích hợp kinh doanh:

  • Mệnh cung hóa Kỵ nhập Quan Lộc, Quan Lộc hóa Kỵ nhập Mệnh cung: hợp làm công việc cố định, dễ mê đắm công việc.
  • Mệnh cung và Quan Lộc cùng tự hóa Kỵ rồi xuyến liên: không hợp làm kinh doanh hợp tác.
  • Mệnh cung tự hóa Kỵ phát tượng đến Quan Lộc, Quan Lộc tự hóa Kỵ phát tượng đến Mệnh cung: không hợp làm kinh doanh hợp tác.

Đại hạn có Mệnh cung, Quan Lộc hóa Kỵ thì cũng áp dụng tương tự.

Vì sao Kỵ ở Quan Lộc gây trở ngại cho làm ăn chung

  • Quan Lộc là Giao Hữu của Huynh Đệ, làm việc chung với anh em dễ sinh thị phi.
  • Quan Lộc là Thiên Di của Phu Thê, dễ xa cách, sinh chán ghét.
  • Quan Lộc là Tật Ách của Tử Nữ, con cái có vấn đề sức khỏe thì bản thân lo lắng.
  • Quan Lộc là Điền Trạch của Phụ Mẫu, làm ăn kinh doanh không thể vinh hiển tổ tông, khiến gia đình phiền muộn.
  • Quan Lộc hóa Kỵ xung Phu Thê: vợ chồng không tốt, cần ổn định sự nghiệp rồi mới lập gia đình. Phu Thê là nhà bếp; nếu không có bếp hoặc bếp xấu thì bất lợi cho sự nghiệp. Phu Thê là Tật Ách của Điền Trạch, bất lợi cho kinh doanh, dễ thất bại, hợp tác đổ vỡ. Nếu Quan Lộc có Kỵ năm sinh, Điền Trạch tổn, xung Nhất – Lục vong, vị trí kho phá, dễ hao tài, tổn thất tài chính. Mệnh cung hóa Khoa hoặc hóa Lộc nhập hóa Quyền vào Quan Lộc là tốt nhất, có song tinh nhập càng tốt. Hóa Khoa là quý nhân, hóa Lộc là tiền bạc.

Ứng dụng Tứ Hóa cho công danh và nghề nghiệp

Về ứng dụng Tứ Hóa, định nghĩa cơ bản như sau:

  • Hóa Lộc: được đề bạt, thăng tiến, đi cửa sau để đạt được.
  • Hóa Quyền: dựa vào năng lực bản thân để thăng chức.
  • Hóa Khoa: được người khác tán thưởng, tác động lớn hơn trong học nghiệp so với sự nghiệp.
  • Hóa Kỵ: áp lực lớn, trở ngại nhiều, lao lực mà không có kết quả, khó thăng tiến.
  • Khoa cộng Kỵ: công việc dễ trì hoãn.
  • Quyền cộng Khoa, Lộc cộng Khoa: vận quý nhân tốt.
  • Lộc cộng Quyền: kinh doanh tốt.
  • Quyền cộng Kỵ: trở ngại bất ngờ, tốt xấu đều đến đột ngột, giống nhau trong tình cảm và sự nghiệp.

Dụng Thần trong chuyện thăng tiến thường là hóa Quyền (B); xét theo ba khía cạnh A – B – C để xem thăng tiến.

Tứ Hóa nhập các cung trọng điểm

  • Tứ Hóa năm sinh nhập Mệnh cung: sự nghiệp liên quan đến bản thân. Tài là tiền mặt.
  • Tứ Hóa năm sinh nhập Giao Hữu: Giao Hữu là Quan Lộc của Phụ Mẫu, nên sự nghiệp liên quan đến tương lai, cấp trên.
  • Tứ Hóa năm sinh nhập Điền Trạch: sự nghiệp liên quan đến thành tựu.
  • Nếu có Hóa Kỵ ở các cung trên thì dễ biến động, khó thăng tiến. Tuyến Phu – Quan có Hóa Kỵ thì thường đổi việc, địa điểm làm việc thay đổi nhiều.
  • Nếu D nhập Mệnh cung vẫn có tài lộc. Nếu D nhập Tài Bạch có thể là mệnh lao lực, cần kết hợp đại hạn và Nhất – Lục cộng tông để xét đoán. Cuối cùng quy về Lai nhân cung.

Cần xét thêm Điền Trạch: đó là cung âm đức, cung tổ phụ, có thể xem phúc báo của một người; Điền Trạch đại diện cho bất động sản, cửa hàng, kho tài, âm trạch. Nếu Tham Lang hóa Kỵ nhập Mệnh cung, Tham Lang đại diện cho bản thân, cho đồi núi, nơi có sinh khí, có thể nạp khí. Hóa Kỵ là thu nhập, ràng buộc; kết cấu tiên thiên này thường có nhiều tài lộc.

Xem biến động công việc

Chủ yếu xét Quan Lộc lưu niên, và Huynh Đệ có Hóa Kỵ xung Tật Ách đại hạn, hoặc Quan Lộc lưu niên có hóa Quyền. Nếu Hóa Kỵ nhập Tật Ách thì không nhất định phải đổi nơi làm việc; nếu xung Phụ Mẫu thì có thể là tốt nghiệp, đổi học nghiệp.

Khí số vị: Mệnh, Tài, Quan chế ước nhau

Khí số vị của một cung chính là cửu cung ngược của nó. Khí số vị là nơi sinh khí, nơi cất giữ khí khố. Bản cung là Thể, khí số vị là Dụng. Khí số vị chỉ đóng vai trò hỗ trợ; vẫn lấy “tam tượng nhất vật” và “tĩnh tâm quyết” làm chính. Khí số vị quan trọng nhất là ở Mệnh – Tài – Quan, ba cung tương hỗ lẫn nhau: Quan Lộc là khí số vị của Mệnh cung; Mệnh cung là khí số vị của Tài Bạch; Tài Bạch là khí số vị của Quan Lộc. Quan Lộc chế ước Mệnh cung, phù hợp để xét đại hạn, lưu niên, bản mệnh.

Về thành tựu của một người: Mệnh cung làm Thể, Quan Lộc làm Dụng; dùng mạnh yếu của Mệnh cung để luận số mệnh mạnh yếu, dùng thiên can của Quan Lộc và Tứ Hóa để luận. Luôn phải lấy khí số vị làm Dụng: Thể là tiên thiên tồn tại, có thực thể làm vật mang tải; khí số vị là lưu động, lấy hư làm dụng. Tinh diệu và Tứ Hóa năm sinh làm Thể, phi hóa làm Dụng.

Phụ – Tật và Huynh – Hữu: hai tuyến của thành tựu

  • Huynh Đệ là Phụ Mẫu của Quan Lộc, tức mẹ của Quan Lộc, là vị trí thành tựu. Nhất – Lục cộng tông của Quan Lộc (Mệnh cung) và Huynh Đệ đều phải xét.
  • Tật Ách là Điền Trạch của Quan Lộc, biểu thị địa điểm làm việc, nhà máy.
  • Phụ Mẫu có Hóa Kỵ năm sinh xung Tật Ách thì bất lợi cho hợp tác; nếu đại hạn đi tốt thì ảnh hưởng nhỏ, nhưng hợp tác chắc chắn từng có thất bại.
  • Tứ Hóa nhập tuyến Phụ – Tật và Huynh – Hữu đều có ý nghĩa; không có Tứ Hóa thì không tốt không xấu.
  • Thành bại của tuyến Phụ – Tật lớn hơn tuyến Huynh – Hữu. Huynh – Hữu là nỗ lực cá nhân và quan hệ xã hội; Phụ – Tật là thiên thành, đại diện cho quang minh, quý khí, quản lý.
  • Khí số vị của bản cung hóa tam cát (A, B, C) nhập tuyến Phụ – Tật thì dễ thành công; Hóa Kỵ nhập tuyến này thì có trở ngại, khó khăn, không hợp kinh doanh. Khí số vị của bản cung hóa tam cát nhập tuyến Huynh – Hữu thì có năng lực.

Ví dụ khí số vị của Quan Lộc là Tài Bạch, và tuyến Phụ – Tật của Quan Lộc chính là tuyến Tử – Điền. Nếu Quan Lộc hóa Lộc, Quyền, Khoa nhập tuyến Phụ – Tật, tuyến Mệnh – Thiên thì thường xuyên thăng chức, có quang minh, quý khí, hợp làm công chức. Hóa Kỵ nhập tuyến Phụ – Tật thì làm quan sẽ thất bại. Hóa Lộc, Quyền, Khoa nhập tuyến Huynh – Hữu thì dựa vào quan hệ mà thăng tiến, có năng lực; Hóa Kỵ nhập tuyến Huynh – Hữu thì không hợp kinh doanh.

Hóa Kỵ của Quan Lộc

Quan Lộc hóa Kỵ nhập cung nào, cung đó chính là nguyên nhân khiến sự nghiệp thất bại; có thể là yếu tố bên ngoài, cũng có thể do tính cách. Quan Lộc hóa Kỵ xung cung nào thì việc xấu xảy ra ở cung đó.

  • Hóa Kỵ nhập Tử Nữ xung Điền Trạch: liên quan đào hoa, con cái, điền sản.
  • Hóa Kỵ nhập tuyến Huynh – Hữu: liên quan bạn bè, cấp dưới (Tử Nữ cũng là cấp dưới).
  • Nếu Quan Lộc có Hóa Kỵ nhập, hoặc Kỵ năm sinh, không cần lo lắng: chỉ biểu thị sự kiên trì, đấu tranh, gặp nhiều trở ngại, nhưng vẫn có khả năng thành công.
  • Quan Lộc hóa Kỵ nhập đại hạn thì sự nghiệp dễ gặp thị phi.

Luận tài vận

Lấy Tài Bạch làm Thể, Mệnh cung làm Dụng, vì Mệnh cung là khí số vị của Tài Bạch; dùng thiên can của Mệnh cung và Tứ Hóa để luận tài vận. Nếu Mệnh cung hóa Lộc nhập tuyến Tử – Điền, mà tuyến Tử – Điền là Phụ – Tật của Tài Bạch, thì nhờ danh tiếng mà có tài lộc. Nếu Mệnh cung hóa Kỵ nhập tuyến Tử – Điền, tức Mệnh hóa Kỵ nhập Điền Trạch xung Tử Nữ, thì gia đình nhiều chuyện, không giỏi quản lý tài chính; tuyến Tử – Điền không tốt cũng không thể hợp tác kinh doanh, dễ vì tiền mà mất danh tiếng. Sáu điểm trọng tâm của chuyên đề này là: chuyển hóa Thái Cực điểm, ứng dụng khí vị số, Nhất – Lục cộng tông, ứng dụng của Hóa Kỵ, ứng dụng của các cung vị, ứng dụng của tinh diệu.

Bốn lá số về làm ăn và hợp tác

Có hợp kinh doanh không: lá số thứ nhất

Xem Mệnh cung can Ất, dùng phi hóa để xem sự nghiệp, kết hợp tự hóa. Tứ Hóa của can Ất gồm Thiên Cơ, Thiên Lương, Tử Vi, Thái Âm. Thái Âm hóa Kỵ nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu: cản trở học nghiệp, dễ bỏ học, thi lại, học lực thấp (cấp tiểu học).

Có thể kinh doanh không? Tuyến Phụ – Tật không bị phá, có hướng tâm Lộc, được trưởng bối giúp đỡ, có thể khai triển sự nghiệp; hóa Quyền biểu thị tự lực cánh sinh, hóa Lộc là dựa vào gia đình, trưởng bối. Nhưng khí số vị của sự nghiệp bị phá nên ảnh hưởng thành tựu, dễ thất bại: can Quý, Tham Lang tự hóa Kỵ. Mệnh hóa Kỵ nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu (tuyến quang minh): kết cấu sự nghiệp không cao, chỉ làm được kinh doanh nhỏ mang tính địa phương, không mở rộng toàn quốc.

Tài Bạch có Vũ Khúc hóa Kỵ năm sinh lại tự hóa Kỵ: tiền đến rồi đi, không tích trữ được nhiều. Tài Bạch có hóa Khoa năm sinh lại tự hóa Kỵ (tam tượng nhất vật) khiến việc hoàn vốn, thu hồi tài chính bị trì hoãn; năm 2015 có hơn một trăm nghìn chưa thu hồi được.

Hợp tác kinh doanh được không? Tuyến Tử – Điền bản thân không có vấn đề, Lai nhân ở Tử Nữ nên chắc chắn có hợp tác xảy ra. Tử Nữ can Nhâm có Tứ Hóa: Thiên Lương, Tử Vi, Tả Phụ, Vũ Khúc. Tả Phụ (hóa Khoa) và Vũ Khúc (hóa Kỵ) nhập Phụ Mẫu gây ảnh hưởng xấu, dẫn đến thất bại trong sự nghiệp. Tử Nữ có địa chi Dần, từng hợp tác với người tuổi Dần; đối tác hiện tại cũng là người tuổi Dần. Hợp tác với người tuổi Dần có hiện tượng trì hoãn, liên quan đến Tài Bạch có hóa Khoa năm sinh tự hóa Kỵ, như chuyện cung ứng hàng hóa, hoàn trả vốn bị trì hoãn.

Ở địa phương có danh tiếng tốt, không thiếu tiền: tuyến Huynh – Hữu có Thiên Lương hóa Lộc; Phụ Mẫu tự hóa Lộc phát tượng đến Huynh Đệ có Thiên Lương hóa Lộc, được trưởng bối che chở; Thiên Lương là cách cục giỏi kinh doanh. Phụ Mẫu tự hóa Lộc đại diện cho địa phương, nên rời quê thì không còn Thiên Lương hóa Lộc. Tuyến Tử – Điền không tốt không có nghĩa mãi mãi không hợp tác được; khi nào hợp tác được phụ thuộc lưu niên. Nhiều sự việc thể hiện rõ trong đại hạn, lưu niên. Nếu bất kỳ tuyến Mệnh – Tài – Quan nào bị phá thì cản trở khởi nghiệp, nhưng không có nghĩa là không thể khởi nghiệp mà là do vấn đề của lưu niên.

Lá số thứ hai: công việc không ổn định, hợp tác thiếu quyết đoán

Mệnh – Tài – Quan chủ quản sự nghiệp, tương hỗ qua khí số vị Nhất – Cửu; Huynh – Hữu và Tử – Điền chủ quản hợp tác. Mệnh cung có hướng tâm hóa Kỵ; Quan Lộc có hóa Khoa năm sinh nhưng bị Thiên Cơ hóa Kỵ xung từ đối cung. Quan Lộc bị xung nên công việc không ổn định. Lai nhân ở Phu Thê, có Kỵ năm sinh, bị tự hóa Kỵ kéo phá.

Điều kiện gia đình: Điền Trạch có hóa Lộc năm sinh nhưng bị tự hóa Kỵ kéo phá nên thường xuyên đổi việc; cục này thuộc dạng sự nghiệp và tình cảm đều không ổn định. Dù bị kéo phá nhưng vẫn có Lộc năm sinh nên gia cảnh không tệ, có dấu hiệu trung suy. Thiên Cơ hóa Kỵ: tính cách khó hòa hợp, dễ sinh thị phi với người khác. Tuyến Phụ – Tật không bị phá, Quan Lộc hóa Khoa nhập Phụ – Tật: trưởng bối vẫn giúp, cha có trợ lực cho đương số. Nghề hợp: liên quan khẩu tài hoặc cơ khí; trước đây từng làm ở xưởng in của cha, sau đó làm bảo hiểm hoặc việc cần kỹ năng giao tiếp để kéo khách. Hợp tác kinh doanh thì Tử – Điền và Huynh – Hữu đều có vấn đề: Tử – Điền bị kéo phá, Huynh – Hữu có pháp tượng Quan Lộc bị trì trệ; do dự, thiếu quyết đoán, không có dũng khí.

Lá số thứ ba: làm việc nhà nước và muốn kinh doanh thêm

Người này làm trong cơ quan nhà nước. Quan Lộc bị Hóa Kỵ xung nên thăng tiến bị trì hoãn, không thuận. Muốn tự kinh doanh thêm nhưng không phải nghỉ việc để làm mà là làm bán thời gian. Sự nghiệp có biến động: công việc đầu liên quan giáo viên và văn thư, sau làm tiếp viên hàng không, cả hai đều là đơn vị nhà nước. Xét nghề theo Tài Bạch đại hạn, tức bản mệnh Phu Thê dùng để phi hóa: Thái Dương, Thái Âm nhập Tài Bạch thì chắc chắn là cơ quan nhà nước; Thiên Đồng nhập Thiên Di, Thiên Cơ – Cự Môn nhập Phu Thê thì công việc không ổn định, đi nhiều nơi, hợp nghề tiếp viên hàng không hoặc hướng dẫn viên du lịch. Cự Môn chủ khẩu tài, và tiếp viên hàng không cũng là ngành liên quan giao tiếp.

Có hợp kinh doanh không? Hợp, nhưng dễ nảy sinh tình cảm trong quá trình hợp tác: Tham Lang hóa Lộc cùng tự hóa Lộc đều nằm trên tuyến Tử – Điền, thêm một hóa Lộc thì đào hoa nhiều. Nếu hợp tác làm ăn thì chắc chắn dính đến tình cảm, đó cũng là ứng nghiệm của lá số; đã từng hợp tác một công việc bán thời gian và nảy sinh chuyện tình cảm với đối tác, nhưng đó là đào hoa trong hợp tác, không phải chính duyên. Khí số vị của Quan Lộc là Tài Bạch, Hóa Kỵ nhập tuyến Tử – Điền thành duyên tình thoáng qua. Dụng Thần của tuyến Tử – Điền vẫn là Tham Lang hóa Lộc. Tạm thời không có tranh chấp tài chính lớn, vấn đề lớn nằm ở khía cạnh tình cảm.

Lá số thứ tư: hợp đồng quyết định thăng tiến

Tật Ách đại diện cho địa điểm làm việc, không phải môi trường làm việc. Bị xung Tật Ách thì dễ đổi địa điểm làm việc, nhưng không phải ai bị xung Tật Ách cũng thường xuyên đổi việc. Tuyến Phụ – Tật có vấn đề thì thăng tiến gặp trở ngại, vì đó là tuyến quang minh và tuyến hợp đồng. Dụng Thần nằm ở Thái Dương hóa Kỵ, biểu thị hợp đồng có vấn đề; hợp đồng ấy là yếu tố quyết định thăng tiến, sẽ gặp cản trở.

Có thể hợp tác làm ăn, nhưng không kiếm được nhiều tiền, cũng không lỗ nặng. Điều kiện hợp tác: đối tác phải là người có học thức, có chút văn tài, không thô lỗ cục mịch; Mệnh cung có Vũ Khúc hóa Khoa nên phải tìm đối tác có Văn Xương hóa Khoa làm Dụng Thần. Hợp tác thất bại vì tuyến Tử – Điền có Khoa và Kỵ, biểu thị tiến độ trì trệ, không thuận; và không thể hợp tác với người tuổi Sửu hoặc Mão. Gặp đối tác có tuổi phù hợp cũng chỉ là điều kiện cần, chưa đảm bảo thành công; địa chi Sửu là Thái Dương năm sinh nhưng bị kéo phá, lại có pháp tượng với Tài Bạch và bị kéo phá thêm lần nữa.

Làm sao biết cả đời nhất định sẽ hợp tác? Xem pháp tượng của tuyến Tử – Điền: nếu có pháp tượng đến Mệnh cung hoặc Phụ Mẫu thì hợp tác chắc chắn xảy ra. Tuyến Tử – Điền có Khoa – Kỵ pháp tượng đến Mệnh cung và Phụ Mẫu; Mệnh cung là cung sự nghiệp, Phụ Mẫu là cung hợp đồng. Hóa Quyền nhập Phu Thê, thuộc ngoại cục, chắc chắn sẽ có hợp tác. Hóa Quyền có lợi cho hợp tác, nhưng Phu Thê nằm ở ngoại cục nghĩa là chưa tìm đúng người để hợp tác.

Nguồn: Đại Hoa, Giáo Trình Khâm Thiên Tứ Hóa.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh