Bài tổng quan
Xem khí sắc trước bình minh và đọc ấn đường, mép miệng
Một thiền sư xưa dặn nên soi mặt vào lúc sau tiếng gà gáy, trước khi mặt trời mọc, dưới ánh nến chiếu từ trên xuống, khi chưa ăn, chưa rửa mặt, chưa gặp ai. Chỉ khi ấy khí sắc mới là khí tự nhiên. Bảy loại màu hiện lên trong khoảnh khắc ấy, mỗi loại mang hình dáng ra sao?
Mục lục · 13 phần
- 01Sắc đen: vận thế kém, nhẹ thì phá của, nặng thì khó giữ mạng
- 02Xem khí sắc sau tiếng gà gáy, trước khi mặt trời mọc
- 03Bốn mùa: vượng, tướng, hưu, tù, tử
- 04Đoán quan vận và tai họa qua các màu
- 05Khóe mắt có vân xanh, vợ có tư tình
- 06Thiên đình vàng là điềm cát lợi
- 07Tư không vàng thì mọi sự thuận lợi
- 08Cằm có màu đen, có việc ưu sầu
- 09Ấn đường: năm màu, năm lời báo
- 10Mặt không sáng thì hung nhiều, cát ít
- 11Thiên đình đỏ, ấn đường vàng, mép miệng đen: lời đoán từng vị trí
- 12Sắc vàng làm chính sắc
- 13Mỗi bộ phận một khí sắc, mỗi khí sắc một cái hung
Sắc đen: vận thế kém, nhẹ thì phá của, nặng thì khó giữ mạng
Mặt có sắc đen thì vận thế rất kém: nhẹ thì phá bại gia tài, nặng thì khó giữ tính mạng. Vì thế khi trên mặt có màu đen, phải cẩn thận mọi việc, ra ngoài cần chú ý an toàn.
Dưới mắt hiện đen mà ánh sáng không rực rỡ thì có thể biết vợ người ấy đang mang thai: nếu là bé gái thì nhất định xinh đẹp, nếu là bé trai thì nhất định có quan vị. Tư không và trung chính đen khá nặng thì người ấy nhiều ý tưởng nhưng khó thực hiện, như mây che mặt trời, cuối cùng đều phải tan, cuộc sống nhiều khó khăn. Ấn đường, niên thượng, thọ thượng và sơn căn đều đen thì không có danh dự, bệnh tật suốt đời. Hai tai và thọ môn cùng đen thì dù nam hay nữ cũng dễ sống buông thả, không thể trở về nhà, chỉ có thể trôi dạt bên ngoài.
Phúc đường và sơn căn đều đen thì cha con không được gặp nhau, thường ở nơi đất khách không về nhà, mười năm chỉ gặp được một lần. Trù táo đen thì người ấy bị đưa đi làm binh lính, vợ con theo người khác mà bỏ đi, bặt tin. Trên mặt hiện khí đen như khói, tan rồi lại hiện, hiện rồi lại tan, lại xuyên qua mũi thì gia đình nhất định gặp nhiều hung họa. Bên cạnh miệng và thương khố đen như khói thì bốn mùa trong năm chẳng mùa nào được bình an, rất khó quay về; lúc có khí sắc ấy, tốt nhất đừng đi ra ngoài. Kim quỹ và tam dương đen thì dù nam hay nữ đều rất mê muội.
Xem khí sắc sau tiếng gà gáy, trước khi mặt trời mọc
Khi bầu trời còn chưa sáng, khuôn mặt giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên nhất của nó.
Nhất Hành thiền sư cho rằng khí sắc có bảy loại: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, hồng, tím. Nên xem khí sắc sau lúc gà gáy và trước lúc mặt trời mọc, vì khi ấy huyết khí còn bình hòa, chưa ăn uống nên thần sắc không tạp loạn, chưa tiếp xúc với người hay việc nên thân thể đoan chính, chưa rửa mặt đánh răng. Bởi vậy khí sắc trên mặt lúc ấy mới là khí sắc tự nhiên. Có ánh nến chiếu từ trên xuống, quan sát kỹ khí sắc trên mặt thì có thể luận được cát hung. Khí sắc của con người hiện trên mặt vào buổi sớm, đến tối lại trở về phổi phủ.
Hình dạng của nó to nhỏ khác nhau: có chỗ nhỏ như hạt gạo, có chỗ dài như chiếc đũa, có chỗ vuông như chiếc ấn, có chỗ tròn như viên ngọc, có chỗ giống mây, có chỗ giống chim. Hiện xanh thì có chuyện ưu buồn. Hiện vàng thì có chuyện vui; vàng thuộc Thổ, trong bốn mùa đều vượng mười tám ngày, lại là khí thai dưỡng, nên là phúc đức cát khánh. Hiện đỏ thì có tai họa về máu và miệng. Hiện trắng thì bị tổn thương. Hiện đen thì có lao ngục và tử vong.
Màu xanh lúc mới khởi giống như sợi tơ tằm vừa nhả ra, ấy là khí sắc thịnh vượng. Màu vàng lúc mới khởi giống màu ngựa vàng, trâu vàng; khi rút đi thì giống hoa đào. Màu đỏ lúc mới khởi như lửa, lúc đến như chu sa nghiền nhỏ, khi rút về như lá sen. Màu trắng lúc mới khởi như bột mỡ nghiền, sau giống vệt bùn đất. Màu đen lúc mới khởi như đuôi ngựa, tản ra thành màu xám tối, về sau giống như bùn đất.
Bốn mùa: vượng, tướng, hưu, tù, tử
Ba tháng xuân, mặt hiện xanh thì tương ứng với mùa, gọi là vượng tướng; hiện đỏ là tương sinh; hiện đen là hưu; hiện trắng là tù; hiện vàng là tử. Ba tháng hạ, hiện đỏ là vượng tướng; hiện vàng là tương sinh; hiện xanh là hưu; hiện đen là tù; hiện trắng là tử. Ba tháng thu, hiện trắng là vượng tướng; hiện đen là tương sinh; hiện vàng là hưu; hiện đỏ là tù; hiện xanh là tử. Ba tháng đông, hiện đen là vượng tướng; hiện xanh là tương sinh; hiện trắng là hưu; hiện vàng là tù; hiện đỏ là tử.
Đoán quan vận và tai họa qua các màu
Các màu tím, trắng, đỏ vàng, xanh, đen có dáng vẻ khó đoán, nhưng dùng để đoán quan vận và tai họa lại rất ứng nghiệm. Tam dương đột nhiên từ tím chuyển sang vàng thì được hưởng niềm vui tiệc tùng. Lan đài, tức cánh mũi trái, có vằn trắng thì phải lo lắng. Khí sắc ở vị trí phúc lộc đổi thay như khói phủ ở xa. Hai tai đen như khói thì vận mệnh chẳng dài. Tam dương đột nhiên xanh đen u ám thì trẻ nhỏ trong nhà yểu mệnh; nếu khí sắc ấy đậm thì người ấy bị tù giam.
Khóe mắt có vân xanh, vợ có tư tình
Khóe mắt hiện vân xanh thì vợ người ấy có tư tình mà chồng không biết xử lý thế nào; nếu chuyện đến tai thì người ấy hóa ra là kẻ ai cũng ghét. Khí sắc đỏ hoặc xanh lam thì có chuyện mừng; hiện trắng thì trong chuyện mừng lại có chuyện phải lo. Nếu những khí sắc ấy hiện bất ngờ ở tiểu bội thì nhất định gặp tai họa không nhỏ. Một nửa vị trí thượng dương hiện vân xanh lại lẫn vân đỏ thì nhất định khó giữ mạng; ngoài ra còn phải đề phòng mất tiền của, trâu ngựa bị thương và nhiều tai nạn khác. Hai bên mặt xanh u uất lẫn khí tím thì vợ và con sinh bệnh hoặc nhiều tai họa phát sinh.
Thiên đình vàng là điềm cát lợi
Thiên đình hiện vàng thì trong khoảng năm mươi đến bảy mươi ngày có chuyện mừng; quan dưới lục phẩm thì được gia phong, sau ba lần phong có thể làm quan cao mà hưởng vinh hoa phú quý. Niên thọ khí sắc phân minh thì trong một năm bình an vô sự. Ấn đường phát tím thì có quan vận. Chóp mũi phát đỏ thì thăng quan. Tỉnh bộ và trung chính phát trắng thì có quan vận. Mùa thu mà khí sắc phát trắng thì nhiều tin vui, thăng quan liên tiếp.
Từ mệnh môn đến sơn căn phát đen thì trong năm mươi ngày khó giữ mạng; nếu dưới mắt lại hiện trắng thì tai họa xảy ra với vợ con. Thiên trung và thiên đình phát đen thì phải xem cụ thể tai nạn thế nào. Niên thượng và thọ thượng bỗng nhiên hiện đen thì trong một năm có tang sự.
Tư không vàng thì mọi sự thuận lợi
Tư không có màu vàng xuyên vào trung chính và ấn đường thì làm quan được thăng chức, mọi sự thuận lợi nhưng dễ tán tài. Từ tư không đến ấn đường mà tím thì cũng tán tài. Từ ấn đường đến sơn căn đều xanh dạng vết đốm thì không khắc hại cha mẹ, nhưng trong sáu mươi ngày cần xem xét kỹ: nếu lúc ấy ấn đường hiện trắng thì khắc hại cha mẹ, mệnh môn hiện trắng thì khắc hại anh em. Màu trắng ở mệnh môn ba năm chưa tan thì khó giữ mạng. Thiên trụ lõm xuống và đen sáng, môi trắng như gừng tươi ngâm lâu, bước đi chẳng vội thì vận mệnh không quá ba năm nữa. Cằm hiện vàng thì đi buôn bán xa mọi sự đều hưng thịnh.
Cằm có màu đen, có việc ưu sầu
Cằm đen như đám mây trôi thì nếu trong ba năm chỗ ấy lại hiện đỏ thì nhất định thăng quan; còn hiện xanh đen thì có chuyện buồn. Từ cánh mũi trái lên trán có tím đỏ pha vàng thì có quan lộc; nếu chỗ ấy biến thành xanh đen pha tím hồng thì nhất định vướng chuyện hình ngục. Từ giữa trán đến mặt phải hiện vàng thì trong năm ấy phát tài bất ngờ, người làm quan thì thăng chức, người chưa vợ cưới vợ không cần mai mối. Tam dương hiện khí sắc ấy thì mất chức quan và bôn ba. Niên thượng, thọ thượng và thiên trung hiện khí sắc ấy thì khó giữ mạng. Hai mắt đều vàng thì chủ về đoản mệnh. Thiên đình và thọ đới đen thì vận mệnh chẳng dài. Khí sắc pha trộn mà thần quang không thấy được thì có phú quý cũng chỉ ở mức bình thường.
Ấn đường: năm màu, năm lời báo
Chỉ trong khoảng nhỏ giữa hai lông mày, năm màu đã đủ kể năm câu chuyện khác nhau.
Ấn đường hiện xanh thì có tai họa; nếu không phải trong nhà có tang thì cũng mất mát tiền tài. Ấn đường hiện sắc máu thì tổn hao huyết tài, nên heo, ngựa, trâu, dê, chó đều cần lùa về chuồng sớm. Ấn đường hiện đỏ thì có chuyện vui, không phải chuyện cưới hỏi thì cũng là thêm ruộng đất của cải. Ấn đường hiện tím thì có chức quan; nếu không thì sinh quý tử và thêm lộc. Ấn đường hiện trắng thì có tang. Ấn đường hiện đen thì nhất định có tai họa, vợ con cần tu đức để tránh tai ương.
Mặt không sáng thì hung nhiều, cát ít
Các vị trí trên mặt đều có sắc chính tương ứng; khí sắc mà đổi thì người ấy hung nhiều cát ít, và có thể lụy đến người thân. Dưới mắt hiện xanh thì trong lòng tất có chuyện không vui; hiện trắng thì cha mẹ khó giữ mạng, anh em vận mệnh cũng chẳng dài. Thiên cổ không sáng thì khó bảo toàn tính mạng; thần quang không sáng thì vận mệnh chẳng dài. Thiên trụ nghiêng thì khó giữ mạng. Niên thượng không sáng lại có khí đen xâm nhập thì thận tất có bệnh; nếu đang lúc an nhàn mà hiện ra như vậy thì là đại kỵ.
Cánh mũi trái và pháp lệnh không sáng thì làm quan có thể bị bãi chức, người thường thì nghèo khó bần cùng. Thần khí u ám như người mê muội thì tiền đồ nhất định không tốt, có lộc làm quan cũng chẳng quá nửa năm. Ấn đường có vết lõm lại không sáng thì rất khó làm quan; nếu nhờ âm đức tổ tông mà được chức quan thì đến trung niên cũng mất vị hoặc bần hàn. Bàn tay không sáng thì một đời vất vả; bàn tay sáng mà hồng nhuận thì nhất định là quý nhân; bàn tay sáng nhưng màu vàng thì là người nghèo hèn. Vân tay vừa thô vừa loãng thì sự nghiệp gia đình bị phá hoại, điền trang cũng bị cắt giảm.
Long giác không sáng thì làm việc gì cũng không thành. Ấn đường đen và không sáng thì hành sự không những không thành mà còn nhận về mệt mỏi. Mặt không sáng, trông như phủ bụi đất, thì chắc chắn sắp mất chức, lại có thể bị tai họa giáng xuống. Nếu sơn căn lại hiện đỏ thì ngày ngày đều có chuyện buồn phiền, lo lắng.
Thiên đình đỏ, ấn đường vàng, mép miệng đen: lời đoán từng vị trí
Thiên đình hiện đỏ thì có thể thăng quan, dân thường cũng được vinh quang. Ấn đường hiện trắng xanh thì bị kiện cáo với người khác; hiện vàng thì quan vận hanh thông. Sơn căn hiện tím đen thì có thể gặp hỏa hoạn, còn có thể bị trộm; hiện tím vàng thì phát tài; hiện đỏ thì có tai họa chảy máu, càng phải đề phòng bị hình sát. Cả vùng miệng đỏ thì nhất định có bệnh; đen xanh thì có thể nguy hiểm đến tính mạng; trắng thì gặp họa vì thị phi miệng lưỡi; vàng thì trong nhà có hỷ sự.
Thừa tương và địa các hiện vàng thì phải lo gia đình xảy ra hỏa hoạn; hiện đỏ thì trong nhà thêm nhiều lương thảo tiền tài; hiện trắng thì có việc phải lo lắng. Pháp lệnh hiện trắng thì cát lợi. Tam dương hiện đen thì dù nhiều tiền cũng không tiêu được tai ương: người làm quan thì mất quan lộc, người thường thì phá tài hoặc tử vong. Mệnh môn hiện đen hoặc xanh thì vận mệnh chẳng dài; hiện đỏ thì nhất định có tai họa; hiện trắng thì trong nhà chắc chắn có tang.
Sắc vàng làm chính sắc
Khí sắc trên mặt mà từ dưới lên trên đều là một màu vàng thì người ấy có thể có quan vị. Màu vàng như mây vòng quanh nhật giác thì trong mười ngày có thể được bái làm công khanh. Chóp mũi hiện vàng sáng, lại uốn khúc quanh thực thương thì phát tài, có hỷ sự, nhưng vẫn phải xem nó vượng ở chỗ nào. Ấn tín hiện vàng nhẹ, thiên môn hiện vàng trải ngang qua long thủ và phụng vĩ thì người ấy có thể thành quan to. Ấn đường có một chút vàng như sợi tóc thì người ấy có danh dự và địa vị, được quý nhân tán dương.
Xem tường bích mà biết nhà nào có hỷ sự; xem thần cung mà biết con cháu ai hưng vượng; xem dịch mã mà biết ai có thư tín; xem biên địa mà biết ai có thể thành võ tướng lập công.
Mỗi bộ phận một khí sắc, mỗi khí sắc một cái hung
Chóp mũi bị màu đỏ quấn quanh thì vì kiện cáo mà ưu sầu lo lắng. Mép miệng hiện xanh là điềm vận mệnh chẳng dài. Lông mày hiện đen thì nữ giới ưu sầu; nếu xanh đen rất tối hoặc hiện đỏ thì khó giữ mạng. Trên mặt toàn thanh khí thì mùa hè và mùa thu có thể gặp tai họa. Mép miệng bỗng nhiên tụ thanh khí thì có thể mắc bệnh lâu năm khó chữa. Mặt hiện trắng vào mùa thu thì gọi là ứng thời. Lông mày và trán hiện trắng là điềm tai nạn liên tiếp. Khí sắc nào không ứng thời thì nhất định có tai ương; nếu còn tụ lại một thời gian dài thì càng thêm ưu sầu.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
