Bài tổng quan
Duyên cha mẹ, phận con cái nhìn từ mười bốn chính tinh
Có người bất khắc cha mẹ, có người phải đổi tên đổi họ mới yên — cung Phụ Mẫu mở đầu một vòng xét lại toàn bộ chính tinh, lần này qua duyên phận hai chiều giữa cha mẹ và con cái...
Hai cung ở hai đầu một đời người: Phụ Mẫu — cha mẹ sinh thành, và Tử Tức — con cái nối dõi. Mười bốn chính tinh lại được xét, lần này qua lăng kính của tình ruột thịt hai chiều.
Cung Phụ Mẫu, các tinh cát hung luận
Tử Vi. Bất khắc hại. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp con cái khắc cha mẹ.
Thiên Cơ. Miếu vượng, bất khắc. Hãm địa phùng Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp đồng cư cùng cha mẹ nuôi, hoặc ở với bậc đã nhận mình làm “quá phòng tử” (tức cho mẹ hiện mình đang ở với, không mang họ với họ đích thực của mình) nhị tính ký cơ.
Thái Dương. Nhập miếu không khắc. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh số phải hai lần lạy nhận cha mẹ (trùng bái phụ mẫu).
Liêm Trinh. Được thừa hưởng tổ nghiệp bên cha mẹ nuôi. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, phụ mẫu bất toàn.
Thiên Phủ. Cha mẹ song toàn. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp chu thương (hại tới) phụ mẫu.
Thái Âm. Nhập miếu không khắc. Hãm địa gia Dương, Đà, Hỏa, Linh khắc mẹ, và chẳng hưởng tổ nghiệp bên nghĩa phụ.
Tham Lang. Đi làm con quá phòng. Hãm địa sớm bỏ tổ.
Cự Môn. Nhập miếu, không khắc cha mẹ. Hãm địa, thương khắc đến phải bỏ lìa tổ, quá phòng. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp mồ côi cả cha lẫn mẹ.
Thiên Tướng. Miếu vượng, cha mẹ đều khang kiện. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp sớm bị khắc.
Thiên Lương. Miếu vượng cát lợi. Hãm địa, gia Dương, Đà, Hỏa, Linh sớm mồ côi. Nhưng nếu bỏ đất tổ, bỏ tên họ nương nhờ người thời miễn được sự hình khắc.
Thất Sát. Sớm khắc cha mẹ, vì số ly tổ và lục thân, cốt nhục, nên phải sống kiếp cô đơn.
Phá Quân. Số phải thay tên đổi họ, sống nương với người ngoài quê hương, mới tránh khỏi sớm khắc cha mẹ.
Văn Xương. Nhập miếu gia cát tinh thì cha mẹ con cái chung sống đề huề. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, chủ hình khắc phụ mẫu, hoặc phải ly hương thay đổi tên. Văn Khúc. Nhập miếu, độc thủ bất khắc phụ mẫu. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp tất phụ mẫu bất toàn.
Tả Phụ. Độc thủ bất khắc. Cùng Liêm Trinh đồng cung, sớm khắc cha mẹ. Gia Văn Xương được phụ mẫu đề huề. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh tất phải ly hương thay đổi tên họ. Hữu Bật. Độc thủ bất khắc. Gia cát tinh được cha mẹ hộ trì. Gia Dương, Đà, Hỏa, Linh số phải ly hương đổi tên họ mới có thể an cư lạc nghiệp được. Khôi, Việt, Khoa, Lộc, Quyền. Cung Phụ Mẫu được các sao này tọa thủ, thì cha mẹ vinh quý, cùng con cái đề huề.
Lộc Tồn. Bất khắc. Gia Hỏa, Linh, Không, Kiếp sớm phá tán của cha mẹ khiến xảy ra chuyện hình thương, từ trung vận trở đi, mới tự tạo thành gia nghiệp.
Kình Dương. Ấu thời hình khắc. Hội Nhật Nguyệt tinh, phải ly hương và thay đổi tên họ mới có thể an cư. Đà La. Hồi nhỏ hình khắc cha mẹ. Hội Âm Dương ly tổ bất chợt và phải thay đổi danh tính mới yên ổn làm ăn được.
Hỏa Tinh. Độc thủ, mồ côi, phải thay tên đổi họ mới khả dĩ mưu sinh. Gia cát tinh được bình hòa. Linh Tinh. Số hình khắc cô độc. Phải hai lần lạy cha, nhận mẹ và sống nương nhờ vào gia đình của người.
Xét theo cặp sao đôi: Tử Vi Thiên Phủ cha mẹ con cái chung sống điền viên một nhà. Tử Vi Tham Lang nếu không ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh cha mẹ song toàn nhưng có duyên phận với nghĩa phụ. Tử Vi Thiên Tướng cha con hòa hợp, yên thú điền viên. Tử Vi Thất Sát gia cát tinh cha con đề huề, gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp phụ mẫu bất toàn. Tử Vi Phá Quân sảo khắc. Thiên Cơ Thái Âm cha mẹ con cái có khi đoàn tụ có khi không. Thiên Cơ Cự Môn số phải làm nghĩa tử, hoặc quá phòng tử. Thiên Cơ Thiên Lương gia đình đoàn viên.
Thái Dương Thái Âm nếu không ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh phụ mẫu song toàn tại gia. Thái Dương Cự Môn sảo khắc, gia đình không được hòa thuận bình thường. Thái Dương Thiên Lương tọa thủ cung Mão cha con hòa mục, tọa thủ cung Dậu con khắc cha, gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, sớm khắc cha mẹ. Vũ Khúc Thiên Phủ miếu vượng cha mẹ, con cái vui thú đề huề. Vũ Khúc Tham Lang hình khắc phụ mẫu. Vũ Khúc Thiên Tướng quan niệm bất đồng giữa cha mẹ và con cái, gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp tất có sự hình thương. Vũ Khúc Thất Sát sớm khắc phụ mẫu. Vũ Khúc Phá Quân sớm phải mồ côi cha hoặc mẹ.
Thiên Đồng Thái Âm phụ mẫu song toàn. Thiên Đồng Cự Môn phụ tử bất hòa, số phải nhận việc “lạy người làm cha mẹ” là sự may mắn, phải ly tổ mới khỏi hình khắc cha mẹ. Thiên Đồng Thiên Lương, không có Dương, Đà, Hỏa, Linh lâm vào, thì có cha có mẹ nhưng phải bỏ tổ nghiệp, gia Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, phụ mẫu bất toàn. Liêm Trinh Tham Lang chủ cô đơn, sớm khắc cha mẹ. Liêm Trinh Thiên Tướng chủ sự thuận đồng, đề huề giữa cha mẹ và con cái. Liêm Trinh Thất Sát số mồ côi. Liêm Trinh Phá Quân sớm khắc cha mẹ. Cát tinh ở trên nếu ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Hình, Kỵ tất chủ hình khắc phụ mẫu, hoặc phải lạy nhận người “quá phòng” (con có được quyền thừa kế như con chính thức) mới có thể tránh được sự hình khắc, khiến cha mẹ phải chết, vì không có số ở cùng nhà với con cái. Lại như, phàm xem về sự hình khắc hoặc bất dung hòa với cha mẹ tất phải coi sao Thái Dương là Cha, sao Thái Âm là Mẹ, để khi thấy sao Thái Dương lạc tại hãm cung, tức chủ mất cha trước, và sao Thái Âm lạc hãm tất chủ mất mẹ trước.
Âm Dương Tuần Triệt tại tiền
Mẹ cha ắt đã quy tiên thuở nào
Phụ-mẫu cung hội Thiên-Lương
Mẹ cha đồng hưởng thọ trường an vui
Thất Sát Nam mệnh ca
Thất-Sát Bính Thân Tý Ngọ cung
Tây-di cùng thủ phục anh-hùng
Khôi Việt Tả Hữu Văn-xương hội
Khoa lộc danh cao thực vạn chung
Cung Tử Tức, các tinh cát hung luận
Tử Vi. Miếu vượng tại cung Ngọ được năm con, ba trai hai gái. Cùng Tả, Hữu, Xương, Khúc được năm con trai và các con quý tử. Nếu gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp chỉ có hai con. Tuy nhiên nếu đổi dời nhà, hoặc chiều con cầu tự làm trưởng nam, mới nhiều con. Cùng Phá Quân đồng cư có được ba con. Cùng Thiên Phủ và gia cát tinh được bốn hoặc năm con. Sao Tử Vi độc thủ, ngộ Kiếp Không là người cô đơn.
Thiên Cơ. Miếu vượng chỉ sinh hạ được hai con. Nếu có nhiều tất là con thứ xuất. Cùng Cự Môn được một con. Cùng Thiên Lương tại cung Dần, được hai hay ba con; nếu Cơ Lương đóng tại cung Thân tất sinh nhiều con gái, con trai chỉ được một thôi. Cùng với Thái Dương tọa thủ Tý cung sẽ sinh hạ được hai hay ba con. Nếu Thiên Cơ hội với Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp tất vô tự.
Thái Dương. Đơn thủ miếu vượng cung (Thìn, Tỵ, Ngọ) sinh hạ được ba trai, hai gái, và con đầu lòng là trai, sẽ nuôi trọn được cả năm con tới lúc trưởng thành, con trai út là con quý tử. Cùng Cự Môn tại Dần hoặc Thân cung có được ba con, đứa con sinh sau rốt là con sự nghiệp vẻ vang. Cùng Thái Âm đồng cung, tất sinh được năm con trong đó có quý tử. Hãm địa, tuy có được ba con, nhưng bất thành khí, chẳng ra gì. Nếu ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, chỉ còn một con chống gậy cho cha mẹ lúc mãn phần.
Vũ Khúc. Sinh được một con, nếu lấy vợ thứ, tất có nhiều con dòng thứ. Cùng Phá Quân, có sự hình khắc, hiếm muộn, nhưng cũng được một con và tất phải vất vả nuôi nấng mới được. Cùng sao Tham Lang về tuổi già mới sinh được hai con nhưng dễ nuôi. Cùng Thiên Tướng đồng cung, trước phải nuôi dưỡng tử, sau mới sinh được một con. Cùng Thất Sát đồng cung, chủ cô đơn, may mắn lắm mới có được một con, nhưng đứa con ấy cũng chỉ là “thương tàn chi tử”. Nếu có Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp xung phá, nhất định bị tuyệt tự.
Thiên Đồng. Độc thủ miếu vượng cung, sinh được năm con trong đó có một quý tử. Tọa thủ cung Dậu, phải dời đổi chỗ ở luôn mới được đông con, bằng không nhiều lắm là hai con. Độc thủ tại hai cung Thìn Tuất, chủ sự hình khắc, khó nuôi con, có nhiều cát tinh phù chiếu, tất có được một con. Thiên Đồng tọa thủ Tỵ hoặc Hợi cung, chủ sự hình khắc khó khăn nuôi dưỡng, sinh hạ hai con là điều hòa, nếu có nhiều con tất con cái bất hòa phải ly tán, phiêu bạt, hoặc du đãng thuộc loại “phá gia chi tử”. Thiên Đồng cùng Thái Âm tọa thủ cung Tý, là vượng cách sinh hạ được năm con, trong có một quý tử thuộc loại “thần đồng nhập thế”, nhưng Đồng Âm tọa Ngọ cung lại là hãm địa, phải giảm đi một nửa. Cùng Thiên Lương đồng cung tại cung Dần, nếu sinh con gái đầu lòng thời có được năm con tất cả, nhưng tọa thủ tại cung Thân, chỉ có được một con chống gậy lúc cha mẹ mãn phần. Thiên Đồng gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, chủ sự hình khắc, khó có được con tống chung.
Liêm Trinh. Đơn thủ tại hai cung Dần, Thân duy chỉ có một con. Nếu gặp nhiều cát tinh phù trợ, mới may có thêm được một con nữa. Cùng Thiên Phủ đồng cung tất sinh được quý tử làm rạng vẻ tông môn, bốn con khác cũng được phú quý. Cùng Thiên Tướng đồng cung, tuy vất vả, khó nuôi, nhưng cũng có được hai con, đều hiển đạt lúc trưởng thượng. Nếu Liêm Trinh hội với Tham Lang, Phá Quân, Thất Sát chủ cô đơn, nên hiếm hoi. Nếu gặp nhiều cát tinh, tam phương lâm chiếu, khả giải, may có được một con nối dõi. Nhưng nếu ngộ Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp tất hoàn toàn tuyệt tự.
Thiên Phủ. Đơn thủ tại cung Tỵ, hoặc cung Hợi, sinh hạ được năm con sắp lên, trong có một quý tử. Tại các cung Sửu, Mùi, Mão, Dậu, nhiều lắm chỉ được ba con là cùng. Cùng với Tử Vi đồng cung, tất có được bốn hoặc năm con, sau đều khá giả. Cùng Vũ Khúc đồng cung, có được hai con sau đều quý hiển cả. Cùng Liêm Trinh đồng cung được ba con. Ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp chỉ được hai con hoặc ba con là nhiều nhất.
Thái Âm. Tọa thủ miếu vượng cung tại Dậu, Tuất, Hợi, sinh hạ được năm con, trong đó có quý tử làm vinh quang cho dòng họ; tuy nhiên con gái nhiều hơn con trai và phải là sinh con gái đầu lòng, sự nuôi con mới dễ và được toàn vẹn cho tới khi trưởng thành. Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ cung, có sự hình khắc, phải đúng tuổi có con mới dễ nuôi, và có được hai, được ba con là nhiều nhất, nhưng lại phải một “nhuyễn nhược chi tử” hoặc “hư hao bất thanh khí”. Cùng Thái Dương đồng cung, được hai con. Cùng Thiên Đồng cung, tất sinh được con quý tử và tất cả được năm con. Thái Âm tại hãm địa, gia hội Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, tất thị đường tử tức hiếm hoi.
Tham Lang. Đơn thủ tại Tý, Ngọ cung, chủ hữu sinh vô dưỡng. Sinh con muộn, mới có được hai nhưng không hòa thuận giữa anh em, xung khắc với cha mẹ. Cùng ở một cung với Tử Vi sinh hạ được hai con. Cùng ở một cung với Liêm Trinh rất khó nuôi và hiếm, phải có con cầu tự, rồi mới nuôi dưỡng được hai con. Cùng sao Vũ Khúc trước khó sau dễ, và có được hai hoặc nhiều lắm là ba con. Sao Tham Lang độc thủ tại cung Dần, hoặc cung Thân nếu có nhiều cát tinh ba phương phụ chiếu, sinh hạ hai con hiển đạt, nhưng tính tình xung khắc với cha mẹ.
Cự Môn. Độc thủ tại hai cung Tý, Ngọ, trước khó sau mới dễ nuôi, được hai con; nếu ngộ Tuần hoặc Triệt, tất sinh được quý tử, và được tới năm con. Đơn thủ tại Thìn Tuất, sinh đa dưỡng thiểu, phải vất vả mới may có được hai con, nhưng cùng cha mẹ xung khắc. Cùng Thái Dương đồng cung tại cung Dần hoặc cung Thân tất sinh hạ được ba hoặc bốn con, nuôi dưỡng dễ dàng, con cái về sau sẽ hiển đạt, người khá giả; nhưng nếu lại gặp thêm Dương, Đà, Hỏa, Linh xung chiếu, bị khắc phá rất hiếm con. Cùng Thiên Cơ đồng cung, chỉ duy được một con, lại có gia cát tinh sẽ có thêm được một con nữa, nhưng nếu lại có cả Không và Kiếp xung chiếu hoàn toàn vô tự. Cùng sao Thiên Đồng đồng cung, có nhiều cát tinh phụ chiếu sẽ có được ba con, lúc trưởng thành con cái sớm phân cư và không được hòa mục.
Thiên Tướng. Nếu không gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh và đơn thủ tại Tỵ hoặc cung Hợi, sẽ có được ba con. Đơn thủ tại Sửu Mùi được hai con. Đơn tọa cung Mão Dậu, phải sinh muộn mới nuôi được hai con. Nếu ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh tất phải chiều tự con trưởng, sau mới sinh hạ được ba con. Cùng sao Tử Vi đồng cung và gia hội Xương Khúc, Tả Hữu sẽ sinh hạ được bốn hoặc năm con. Cùng Vũ Khúc đồng cung, có được ba con; nhưng nếu ngộ Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp tất có sự hình khắc, hiếm hoi, nên nạp thứ phòng mới khỏi vô tự.
Thiên Lương. Đơn thủ tại cung Tý hoặc cung Ngọ, tất hạ sinh quý tử và có được bốn con, nếu gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp thì sớm khắc hiếm muộn. Đơn thủ tại Sửu Mùi may mắn có được ba con, nếu ngộ hung sát tất phải vất vả mới nuôi được con. Hội cùng Thiên Đồng gia Xương Khúc, Tả Hữu và cát tinh có được ba con. Cùng Thiên Cơ đồng cung sinh hạ được hai con, nhưng nếu gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp thì hoàn toàn vô tự. Cùng Thái Dương đồng cung tại cung Mão, có được năm con và sau đều thành đạt nên người, nhưng nếu lại ngộ Kình, Đà, Không, Kiếp, Kỵ tất toàn vô.
Thất Sát. Là sao chủ sự cô quả, nên nhất định chỉ có được một con, nếu lại Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp xung phá tất vô tự; nếu có chăng cũng chỉ là “hư hoa bất thành khí” hoặc lại là “cường hoạnh bại gia, táng nghiệp chi tử”. Cùng với Tử Vi đồng cung, có gia cát tinh dù có vất vả trong việc nuôi dưỡng, cũng được ba con trưởng thành, tuy nhiên con cái hay nghịch ý cha mẹ; nhưng nếu lại gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp xung chiếu tất sớm khắc, tất vô tự. Cùng Vũ Khúc cùng ở một cung chủ cô đơn, hiếm muộn; nếu may có được một tất cũng là “thương tàn chi tử”. Đơn thủ tại Thìn hoặc cung Tuất, chủ sinh hạ nhiều nhưng chỉ nuôi được có một con, và đứa con hiếm hoi ấy, nếu không mang tật nguyền cũng là con hư hỏng, bất lương chi tử.
Phá Quân. Đơn thủ tại Tý Ngọ cung, sinh hạ được ba con, và đều là những đứa con cương cường, không hợp ý cha mẹ tất phải viễn cư, mới được toàn vẹn. Đơn thủ tại Dần Thân dù sinh hạ được nhiều cũng chỉ nuôi được hai con. Đơn thủ tại Thìn và Tuất nếu có nhiều cát tinh xung chiếu, may có được hai con nhưng cũng ốm yếu bệnh tật, bằng chẳng vậy tất cũng thành “bại gia bất lương chi tử”. Cùng sao Tử Vi ở một cung, tất có được ba con, nhưng lớn lên không cùng cha mẹ đồng cư mới được. Cùng Vũ Khúc đồng cư, gia hội Tả Hữu, Xương Khúc tuy gian nan trong sự nuôi dưỡng, cũng còn được ba con khi về già. Cùng với Liêm Trinh đồng cung, đa sinh thiểu dưỡng duy chỉ có một con và sau cũng bình thường thôi.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
