Bài tổng quan
Khí sắc bốn mùa, sắc môi miệng và điềm lành dữ từng vị trí
Mùa xuân lấy xanh làm chính sắc, mùa hạ lấy đỏ, mùa thu lấy trắng, mùa đông lấy đen; cùng một màu mà trái mùa thì hóa tai họa. Cả sắc ở môi, ở tam dương, tam âm cũng đổi nghĩa theo từng mùa...
Mục lục · 14 phần
- 01Tàm thất, thê cung, thần môn: chuyện vợ con và tin từ phương xa
- 02Chính sắc đem chuyện vui mừng: thiên thương, địa thương, pháp lệnh, tam dương, tam âm
- 03Long giác, hổ giác, nhật giác, nguyệt giác: xuất tướng nhập tướng
- 04Dịch mã, thiên môn, đạo môn: mỗi nơi một nỗi lo
- 05Học đường phân minh, quý nhân tiến cử
- 06Màu vàng hiện ở tâm dương, sơn căn, ấn đường: tướng quý
- 07Sáu bộ vị từ thiên trung đến sơn căn cùng hiện tím
- 08Thọ thượng vàng hóa đen, lan vào mũi: khó giữ tính mạng
- 09Mùa xuân lấy xanh làm chính sắc, thái quá thì thành tai họa
- 10Mùa hạ lấy đỏ làm chính sắc, tài vận hanh thông
- 11Mùa thu lấy trắng làm chính sắc, bổng lộc dày
- 12Mùa đông lấy đen làm chính sắc, thái quá thì gặp họa
- 13Miệng và môi: sắc nào báo phú quý, sắc nào báo tai ương
- 14Sắc trắng hiện ở mép miệng, dưới mắt, quanh tai: đại họa gần kề
Tàm thất, thê cung, thần môn: chuyện vợ con và tin từ phương xa
Tàm thất hiện màu trắng hoặc đỏ đen thì người ấy gặp chuyện kinh hãi. Hiện màu trắng thì cha người ấy gặp chuyện chia ly. Thê cung phát màu vàng thì có chuyện mừng. Thần quang cũng căn cứ theo đó mà suy đoán.
Thần môn có khí sắc vàng lan đến tàm thất thì người ấy sinh quý tử; nếu là màu đỏ thì sinh con gái. Trong vòng hai mươi mốt ngày mà hiện màu đỏ thì nhận được tin từ phương xa. Người thường có khí sắc này phần nhiều gặp lại người thân đã lâu không gặp, và được phát tài.
Chính sắc đem chuyện vui mừng: thiên thương, địa thương, pháp lệnh, tam dương, tam âm
Có những chỗ trên mặt, vàng hay đỏ vàng hiện lên là cả nhà được rạng rỡ.
Thiên thương và địa thương hiện đỏ vàng thì người ấy được lộc hồi hương, hoặc đỗ tiến sĩ. Người thường có khí sắc này thì mọi việc trong nhà thuận lợi, lại được vinh hoa, danh tiếng vang khắp trăm dặm phương Nam. Pháp lệnh phát vàng thì người ấy từ chức quan thuộc sứ địa phương được chuyển thành quan viên trung ương; quan từ cửu phẩm trở lên thì có quyền thế.
Tam dương gồm thái dương, trung dương, thiếu dương; tam âm gồm thái âm, trung âm, thiếu âm. Các chỗ này hiện sắc đen thì người ấy bị phá tài; quan viên có khí sắc này thì mất chức; người thường thì phá tài, gia trạch không yên. Tam dương là gia, tam âm là trạch. Nếu hiện xanh thì có chuyện buồn lòng; hiện trắng thì có chuyện bị thương; hiện đỏ vàng thì có chuyện mừng. Chuyện mừng ở đây thuộc về sinh con trai; muốn xem sinh con gái thì không chuẩn.
Long giác, hổ giác, nhật giác, nguyệt giác: xuất tướng nhập tướng
Nhật giác và nguyệt giác hiện sắc vàng sáng thì người ấy được đề bạt; trong vòng một trăm hai mươi ngày nhận chiếu thư phong quan. Nếu lại hiện sắc tím thì có danh có lợi, triều đình thấy công lao mà thăng cấp. Long giác và hổ giác hiện màu vàng không tan thì trong ba năm người ấy được làm tướng quân, xuất tướng nhập tướng.
Hai bên quyền hiện màu vàng thì con cháu có chuyện mừng, nếu không thì bị phá tài. Hiện màu đỏ thì anh em xảy ra chuyện tranh cãi, lại dính vào việc quan phủ.
Dịch mã, thiên môn, đạo môn: mỗi nơi một nỗi lo
Dịch mã hiện vàng thì trong sáu mươi ngày có chuyện cát hung; hiện màu đỏ thì gặp tai họa vì ngựa. Giao hữu và thiên đình hiện màu trắng thì người ấy đi đến giữa đường phải quay về vì trong nhà có chuyện bị thương.
Thiên môn phát màu vàng thì người ấy là kẻ gian dâm. Phát màu đỏ thì nhiều việc công. Phát màu xanh thì có chuyện buồn lòng. Phát màu trắng thì vợ gặp tai họa, trong vòng bảy ngày hoặc mười bốn ngày ứng nghiệm.
Đạo môn phát màu xanh thì quan viên có nhiều công văn kiện tụng, rồi vì gặp nạn mà mất chức. Phát màu đỏ thì trong mười bốn ngày được thăng quan; dân thường có khí sắc này thì phát tài. Dịch mã và hát xướng hiện đỏ vàng sáng, lại phát đến ấn tín và ấn đường thì được thăng quan; nếu hiện xanh đỏ thì bị mất chức.
Học đường phân minh, quý nhân tiến cử
Ấn đường và hát xướng có thiên trụ, lại hiện khí sắc vàng tím thì người ấy làm việc đường đường chính chính.
Dưới mắt hiện màu xanh, trắng, đen hoặc đỏ thì trong vòng nửa năm cha mẹ người ấy gặp tai họa. Trưởng nam, trung nam, thiếu nam hiện các màu ấy cũng suy đoán như vậy. Phía dưới đầu mắt phải hiện các màu ấy thì trong nửa năm mẹ và chị em gái người ấy có tai họa.
Học đường nếu rõ ràng thì người ấy được quý nhân tiến cử mà nhậm chức quan. Người thường thì không luận ở vị trí này.
Màu vàng hiện ở tâm dương, sơn căn, ấn đường: tướng quý
Thuật tướng xưa nói: tâm dương hiện khí sắc tím vàng thì mới được cát lợi. Sĩ thần có khí sắc này thì được thăng quan; dân thường có khí sắc này thì hiển quý.
Sơn căn phát sắc vàng như hình rồng ngủ thì quan viên được thăng quan, bổng lộc nhiều. Ấn đường cũng có sắc ấy thì làm đại thần, phó tá nhà vua. Niên thọ hiện đỏ vàng thì người ấy bình thường; hiện đỏ thì gặp họa về quan phủ hoặc miệng lưỡi; hiện trắng thì phải đề phòng trong nhà có chuyện thương đau. Thừa tương hiện xanh đen thì người ấy gặp chuyện hung đến mất mạng.
Sáu bộ vị từ thiên trung đến sơn căn cùng hiện tím
Từ thiên trung thẳng đến sơn căn có sáu bộ vị. Nếu cả sáu đều hiện khí sắc tím thì người ấy nhất định có quan vị. Hiện đỏ vàng thì nhất định được thăng quan. Phát sắc trắng thì trong nhà có tang. Phát sắc đỏ thì có quan quỷ. Mọi việc đều có thể từ đó suy ra cát hung, phúc họa.
Kỳ đình phát màu vàng thì phần nhiều được hưởng vinh hoa, làm quan nơi đế đình. Nếu sắc vàng ấy như hình rồng, hổ thì người ấy làm đến công khanh.
Thọ thượng vàng hóa đen, lan vào mũi: khó giữ tính mạng
Có một thứ màu vàng báo điềm lành, và có một thứ màu vàng đang đổi sang đen.
Thọ thượng hiện sắc vàng, sau biến thành đen và xâm nhập vào mũi thì người ấy khó giữ tính mạng. Thuật tướng xưa cho rằng trước lúc lâm chung, người ta thường có điềm báo, thể hiện qua hành vi và khí sắc.
Niên thượng hiện sắc đỏ nằm ngang thì người ấy đi đường gặp nguy hiểm, nếu không thì mắc bệnh tật. Dưới mắt phát sắc đỏ thì hợp với việc ở ẩn. Kỳ đình phát sắc trắng thì người ấy khóc thương tâm. Sơn căn phát sắc trắng thì gặp chuyện kinh hãi. Chóp mũi phát sắc trắng thì cha mẹ và anh em gặp tai nạn. Giao hữu phát sắc đỏ thì gặp tai họa, không yên thân. Nhân trung hiện xanh trắng thì nhất định xảy ra chuyện biệt ly.
Mùa xuân lấy xanh làm chính sắc, thái quá thì thành tai họa
Mùa xuân lấy màu xanh làm chính sắc; nếu thái quá thì gặp tai họa. Khí sắc phát màu trắng là Kim khắc Mộc, nghịch với sự sinh trưởng của mùa. Tài bạch hiện trắng thì phá tài. Phụ mẫu hiện trắng thì cha mẹ sinh bệnh. Tử tức hiện trắng thì con cái sinh bệnh.
Khí sắc đỏ thuộc Hỏa; nếu ứ đọng thì người ấy phá tài hoặc có họa miệng lưỡi. Khí sắc vàng thuộc Thổ, Mộc khắc Thổ là tài, nên mùa xuân hiện vàng thì tài lộc thịnh vượng. Khí sắc đen thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc; vừa phải thì cát, quá nhiều thì sinh tai họa.
Mùa hạ lấy đỏ làm chính sắc, tài vận hanh thông
Mùa hạ lấy màu đỏ làm chính sắc, chủ về tài vận và phúc khí. Nếu đỏ quá vượng thì gặp họa quan phủ hoặc miệng lưỡi. Trên mặt hiện màu đen thì có đại họa; ở tật ách thì người ấy chết; ở quan lộc thì bị giam trong ngục, quan viên thì bị giáng chức hoặc mất chức.
Khí sắc trắng là Kim, chủ về phát đại tài, là cát khí. Khí sắc vàng là khí ứ đọng, người ấy có tài vận nhưng cũng có chuyện phải lo. Khí sắc xanh là Mộc sinh Hỏa; nếu xanh quá thịnh thì người ấy gặp chuyện bị thương và đau lòng.
Mùa thu lấy trắng làm chính sắc, bổng lộc dày
Mùa thu lấy khí sắc trắng làm chính sắc, người ấy có thể phát tài, bổng lộc hậu. Trắng thái quá thì không tốt. Khí sắc đen là tiết khí; trên mặt hiện sắc ấy thì người ấy phá tài, lại mắc bệnh nặng. Khí sắc đỏ là Hỏa khắc Kim; hiện sắc ấy thì gặp họa quan phủ, chuyện đau thương, mọi việc không thuận, người nhà bị đe dọa mà sinh lo sợ.
Khí sắc xanh là Mộc, Kim khắc Mộc; hiện sắc xanh thì người ấy phát tài, lại có chuyện mừng. Trên mặt hiện sắc vàng là Thổ sinh Kim, người ấy mưu sự đều thành công, có tài vận, mọi việc thuận lợi.
Mùa đông lấy đen làm chính sắc, thái quá thì gặp họa
Mùa đông lấy màu đen làm chính sắc; thuận thời mà thái quá thì phát sinh đại họa. Kim sinh Thủy, khí sắc màu trắng thì người ấy có tài lộc, vận tốt. Khí sắc màu vàng, tức Thổ khắc Thủy, thì người ấy gặp tai ách cản trở, con cái sinh bệnh. Nếu tài bạch hiện sắc ấy thì người ấy bị phá sản.
Các mùa khác nhau thì khí sắc cũng khác nhau. Lấy chính sắc của bốn mùa làm cát; thái quá hay thiếu khuyết đều không phải điềm cát.
Miệng và môi: sắc nào báo phú quý, sắc nào báo tai ương
Cửa miệng thấy tất cả: bữa ăn, lời nói, vợ con và cả đường xa.
Miệng vừa hiện sắc vàng thì người ấy gặp vận may lớn. Miệng hoàn toàn phát vàng thì trong một nghìn ngày làm quan. Môi phát sắc tím thì người ấy cơm ăn áo mặc đầy đủ. Môi phát sắc đỏ là bậc thượng khách quý. Môi đỏ hơn mặt thì người ấy vừa ý trong năm mươi bảy năm. Người nữ môi đỏ, răng trắng là tướng quý, có nhiều tiền, lắm lộc, đông con.
Người nữ có miệng phát sắc xanh thì phần lớn có gian tình. Miệng phát sắc tím thì người ấy tham của, phải đề phòng bị hại. Môi tím đen thì hại đến vợ con. Môi của người nữ phát sắc tím thì chồng chết sớm, lại phương hại đến con cái. Môi phát sắc đen thì người ấy chết bên đường. Hắc khí từ miệng xâm nhập đến tai thì người ấy chết trong vòng bảy ngày.
Miệng hiện màu xanh thì trong vòng một trăm ngày gặp tai họa, trong vòng chín mươi ngày bị phá sản. Hiện màu đen thì cha mẹ người ấy chết trong vòng một nghìn ngày. Khóe miệng phát màu xanh thì người ấy chết đói, lại dính vào chuyện dâm dục. Miệng có sắc đỏ thì tai họa giáng xuống.
Sắc trắng hiện ở mép miệng, dưới mắt, quanh tai: đại họa gần kề
Bốn bên mép miệng phát màu trắng gọi là động khẩu hưu phế; người ấy trong vòng năm mươi ngày gặp đại họa. Dưới mắt hiện màu trắng, hoặc dưới lông mày có sợi trắng, gọi là thành khẩu hưu phế; người ấy trong vòng ba mươi ngày gặp đại họa. Hai bên trên dưới tai đột nhiên hiện màu trắng gọi là nguyên thanh hưu phế; người ấy trong vòng sáu mươi ngày gặp đại họa.
Vị trí hung điều đột nhiên phát khởi thì người ấy tất được vinh hoa. Nếu chỗ này hiện sắc trắng thì trong nhà có tiếng khóc; hiện sắc đỏ thì gặp nhiều khắc chế.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
