Bài tổng quan
Luận Tài Vận Qua Phi Hóa Cung Huynh Đệ, Tài Bạch Và Mệnh Tài Quan
Theo lý số Hà Đồ, Lạc Thư, tiền bạc được đọc chủ yếu qua hai cung: tài bạch mang số 5 và huynh đệ mang số 2, cung vẫn được gọi là kho tiền. Vì vậy, mọi trường hợp Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ bay qua lại giữa hai cung này đều trở thành dữ kiện then chốt khi luận tài vận. Từ đó, phép đoán mở rộng sang bộ ba mệnh, tài, quan: lần lượt lấy cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc phi Hóa Kỵ làm thái cực, có thể nhận ra một người hợp làm chủ hay làm công, kiếm tiền dễ hay khó, biết để dành hay tiêu hết. Hai hướng ấy hợp thành bộ khung đoán tài vận khá trọn vẹn. Nghịch lý dễ nhớ nhất: kho tiền của một người không nằm ở cung tài bạch mà ở cung huynh đệ.
Ý Nghĩa Của Hiện Tượng Cung Huynh Đệ Và Cung Tài Bạch Phi Hóa
Hà Lạc Dịch lí có thuyết "tam đồng lưỡng dị" (ba giống nhau, hai khác nhau), lấy vị trí số của Hà Đồ và Lạc Thư để so sánh, vị trí số "1", "3", "5" đều tương đồng nên gọi là "tam đồng"; còn "lưỡng dị" là vị trí số "2" của Hà Đồ là "9" của Lạc Thư, và vị trí số "4" của Hà Đồ là "7" của Lạc Thư. Lấy số trong Đẩu Số để nói, "1"+"3"+"5"="9", Càn là "thiên", "thiên" là "1"; Khôn là "địa", "địa" là "3"; Kiền là "nhân", "nhân" là "5"; "thiên nhân hợp nhất" là "1"+"5"=6. Thêm vào thành "thiên địa nhân" là số "9", đây là cái dụng của Lạc Thư, vì vậy vạn vật vận dụng số "9".
Như đã thuật ở trên, thiên "1" + địa "3" + nhân "5" = vận dụng là "9". Mà Khôn là địa, Khôn chủ về vạn vật, vì vậy địa "3" là then chốt của vạn vật. Lão Tử nói: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật", cho nên có lí luận "thiên nhân hợp nhất", do đạo sinh nhất, nhất không thể vận dụng, vì cô dương bất sinh, cô âm bất trưởng, cho nên lúc có nhất, nhị không thể vận dụng, trước tiên phải sinh nhị, nhị là hai đơn vị âm và dương, đến lúc có tam thì quay trở về nhất, đây gọi là "tam tam quy nhất". Tại sao còn phải quy về nhất? Là vì nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, đến tam là dừng. Hơn nữa "số bổng dương mà cộng âm", vì lúc vạn vật có dương thì phải có âm đến hợp mới có thể sinh, vạn vật mới được sinh ra, cho nên đến tam là dừng ở vị trí "nhân", tức tam tài thành lập, như trong mệnh bàn Đẩu Số, "tam hợp nhất" được định là "thiên địa nhân", tam tài thành lập mới có thể luận đoán mệnh.
Vì "1" + "3" = "4", "4" là khởi thủy của tứ tượng vạn vật, nhưng do "1" không thể vận dụng, nên phải thành "4", tức "4" là bội số của "2", là "2"+"2"="4". Số "2" trong thứ tự của Đẩu Số là cung huynh đệ, cho nên lúc luận đoán mệnh, cung huynh đệ cực kì quan trọng. Cung huynh đệ còn là cung vị điền trạch của cung tài bạch, tức kho của "5" là ở "2"; do đó tình hình cát hung của cung huynh đệ sẽ ảnh hưởng đến sự biến động thay đổi của tài vận.
Đẩu Số vận dụng số "2" và số "5", trong đó "5" là cung tài bạch; cung tài bạch là cung vị chủ về nguồn tiền tài, phương thức kiếm tiền, và cách tổn thất, tiêu hao tiền bạc, cũng có ý nghĩa là tiền bạc; còn số "2" là cung huynh đệ, là cung vị chủ về tài khoản hoặc thẻ tiền tệ trong ngân hàng hay bưu cục, cũng có ý nghĩa là "kho tiền". Ý tượng kiếm tiền của cung tài bạch và cung huynh đệ phi hóa như sau:
Cung tài bạch phi Hóa Kị, chỉ nên nhập cung mệnh, cung điền trạch mới tốt, là ý tượng: giữ được tiền bạc, có hàm nghĩa thu giữ, cất chứa. Cung huynh đệ phi Hóa Kị, chỉ có thể nhập cung mệnh, cung điền trạch, cũng chủ về giữ được tiền bạc. Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung mệnh, cung huynh đệ, cung điền trạch không được gặp tự hóa, tự hóa thì sau khi giữ tiền không lâu, số tiền này vẫn phải mang ra dùng hết. Nếu cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, cung quan lộc là chủ về đầu tư, nhập các cung khác đều chủ về kiếm được tiền phải mang ra dùng hết.
Nếu cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung thiên di và xung cung mệnh, nhập cung tử nữ và xung cung điền trạch, hay nhập cung nô bộc và xung cung huynh đệ, đều chủ về "kho tiền" của người này bị phá, tiêu xài lớn, không giữ được tiền, có bao nhiêu xài hết bấy nhiêu.
Nếu cung tài bạch và cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, là người cầm tiền đi hưởng thụ, ham thích vật chất, như đi du lịch, mua xe hơi, đi mua sắm, ăn chơi.
Nếu cung tài bạch và cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung tật ách, cung phụ mẫu, cũng chủ về tiêu xài tiền cho bản thân, cũng chủ về tiêu xài trong chuyện ăn mặc, thực phẩm bồi bổ sức khỏe. Do cung phụ mẫu là cung vị nô bộc của cung tài bạch, cung tật ách là cung vị điền trạch của cung quan lộc, nên cũng có ý nghĩa là công ti, do đó cũng chủ về mang tiền đi tiêu xài với bạn bè, hoặc mang tiền bạc cho bạn bè mượn nhưng bạn bè không trả lại; hoặc đầu tư mở tiệm, hoặc mua cổ phiếu, ngoại tệ, chơi hụi; trường hợp nhập cung phụ mẫu và xung cung tật ách là nghiêm trọng, sẽ bị phá sản hay tổn thất; nhập cung tật ách thì không nghiêm trọng, hoặc không bị phá sản hay tổn thất.
Nếu cung tài bạch hay cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung phu thê và xung cung quan lộc, thì chủ về tiền bạc phải giao cho người phối ngẫu quản lí, nhưng cần phải xem "kho tiền" của người phối ngẫu có bị phá không (cũng vận dụng như trên), tuyệt đối không được đầu tư, nếu không ắt sẽ bị tổn thất, một khi vận hạn đến nhất định sẽ ứng nghiệm.
Cung tài bạch phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa đều chủ về kiếm được tiền, thu được tài lợi. Nói về tiền, Hóa Lộc lớn hơn Hóa Khoa; nói về phúc phận, quý nhân, gặp hung hóa cát, thì Hóa Khoa mạnh hơn Hóa Lộc; còn Hóa Quyền thì tuy tài lợi cũng lớn, nhưng có lúc cũng chủ về có tình trạng vay mượn; sự tiêu hao của Hóa Quyền, nói về góc độ tiêu xài tiền, sẽ nghiêm trọng hơn Hóa Kị, hoặc vay mượn nhiều hơn nhưng không chủ về tổn thất.
Nếu cung tài bạch, cung huynh đệ phi Hóa Quyền hoặc Hóa Kị nhập cung quan lộc, là chủ về tiền kiếm được còn dư sẽ mang đi tái đầu tư. Lúc này số tiền mang ra đầu tư của Quyền và Kị không chênh lệch nhau nhiều, nhưng Quyền thì sẽ có thu lợi, Kị thì không nhất định sẽ có thu lợi.
Cung tài bạch và cung huynh đệ phi Hóa Quyền hoặc Hóa Kị nhập cung mệnh; Hóa Quyền chủ về mệnh tạo nắm quyền tài chính; còn Hóa Kị thì chủ về rất tiết kiệm. Nhưng Quyền Kị nhập cung mệnh có tổn thất tiền bạc hay không, thì phải xem cung mệnh Hóa Kị nhập cung nào để luận đoán.
Nếu cung tài bạch và cung huynh đệ phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa nhập cung điền trạch, là ý tượng: nhà rất có tiền, sẽ mua bất động sản; Lộc và Quyền chủ về rất có tiền, mà chi dụng trong nhà cũng nhiều; Hóa Khoa chủ về có tiền bình thường. Cung tài bạch phi hóa nhập cung điền trạch, hoặc cung huynh đệ phi hóa nhập cung mệnh và cung điền trạch, đều chủ về sẽ có tiền, bất kể hoàn cảnh hiện tại thế nào, khi vận thế đến nhất định là cách cục có tiền.
Nếu muốn xem ai làm cho mệnh tạo hao tài, thì xem cung nào phát xạ Hóa Kị nhập cung phúc đức và xung cung tài bạch, hoặc cung nào phát xạ Hóa Kị nhập cung nô bộc và xung cung huynh đệ.
Nếu cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung phúc đức và xung cung tài bạch, hoặc nhập cung giao hữu và xung cung huynh đệ, thì chủ về sau khi kết hôn người phối ngẫu liên tục làm tiêu hao tiền của mệnh tạo, hoặc không phải người phối ngẫu làm tiêu hao tiền của mệnh tạo, mà vì kết hôn, vô hình trung phải liên tục tiêu hao tiền bạc.
Nếu cung tử nữ phi Hóa Kị xung cung tài bạch hoặc xung cung huynh đệ, là ý tượng: sau khi sinh con cái, tiền bạc liên tục bị tiêu hao, hoặc vì chuyện của con cái mà phải tiêu hao tiền bạc. Điều đặc biệt là, cung tử nữ còn là cung vị chủ về hợp tác cổ đông, vì vậy tuyệt đối không nên hợp tác cổ đông, nếu không, đầu tư sẽ bị tổn thất, cho dù dự tính là nhờ hợp tác mà kiếm tiền, rốt cuộc vì hợp tác mà tổn thất lớn.
Nếu cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung phúc đức và xung cung tài bạch, hoặc cung nô bộc tự Hóa Kị và xung cung huynh đệ, là ý tượng: bạn bè giao du sẽ làm hao tổn tiền bạc của mệnh tạo. Nếu mệnh tạo thường mời khách, hoặc bạn bè thường rủ rê mệnh tạo đi vui chơi, phần lớn đều do mệnh tạo xuất tiền ra đãi. Cũng cần chú ý, trong cuộc đời dễ có tình trạng vì gặp gỡ bạn bè mà bị gây lụy, hoặc cho bạn bè mượn tiền bạc rồi bị giật.
Nếu cung thiên di phi Hóa Kị và xung cung tài bạch hoặc xung cung huynh đệ, là ý tượng: chỉ cần ra ngoài là phải tiêu hao tiền bạc.
Nếu cung điền trạch phi Hóa Kị và xung cung tài bạch hoặc xung cung huynh đệ, là ý tượng: gia đình chi tiêu rất lớn.
Nếu cung quan lộc phi Hóa Kị và xung cung tài bạch hoặc xung cung huynh đệ, là ý tượng: trong sự nghiệp hay trong công việc cần phải dùng đến tiền hoặc phải đầu tư, nhưng chỉ cần sự tình thuộc về đầu tư là sẽ bị tổn thất, mà không có thu lợi.
Nếu cung phụ mẫu phi Hóa Kị và xung cung tài bạch hoặc xung cung huynh đệ, là ý tượng: cha mẹ cần dùng đến tiền của mệnh tạo, thường hỏi tiền mệnh tạo. Đồng thời cung phụ mẫu còn là cung vị nô bộc của cung tài bạch, là cung vị chủ về cổ phiếu; nếu có tình trạng vay mượn tiền để đầu tư cổ phiếu, ngoại tệ, v.v… ắt sẽ tổn thất tiền bạc.
Tóm lại, luận về tiền bạc, cung nào phi Hóa Kị chỉ có thể nhập cung tài bạch, cung huynh đệ, cung điền trạch, là ý tượng: có trợ giúp cho lợi ích của mệnh tạo, là người ta mắc nợ mệnh tạo, nhưng Kị nhập thì không được chủ về nhiều, có ít mà thôi. Còn phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa nhập cung phúc đức, cung tài bạch, cung huynh đệ, hay cung điền trạch, là chủ về có giúp ích cho mệnh tạo về phương diện tiền bạc, nhưng cần phải xem người nào giúp, về việc gì, và vật gì; ý nói cần phải phân biệt tài lộc thuộc loại tự có hay cần phải dựa vào người nào đó, chuyện gì đó mới được tài lợi. Nếu phi nhập cung mệnh, cung thiên di là thuộc loại có người trợ lực.
Ý Nghĩa Của Hiện Tượng Các Cung Mệnh, Tài, Quan Phi Hóa
(1) Cung mệnh: Cung mệnh là cung vị quan lộc của cung tài bạch, vì vậy muốn xem mệnh tạo làm nghề nghiệp gì, phải lấy lúc cung mệnh phi Hóa Lộc, phi Hóa Quyền, hay phi Hóa Khoa làm chủ.
Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung tài bạch: muốn kiếm tiền phải dựa vào bản thân, tự sáng lập cơ nghiệp, tiền vốn ngắn hạn, thuộc mệnh cách tự lập.
Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung quan lộc: không nên bỏ vốn ra để sáng lập cơ nghiệp, có thể làm ăn vốn nhỏ bằng tiền mặt, hoặc đi làm hưởng lương.
Cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ hoặc cung nô bộc: khó có thể một mình cáng đáng công việc, vì vậy không thích hợp làm chủ quản.
Cung mệnh tự Hóa Kị: thích hợp với những nghề ít người chú ý hoặc nghề tay trái.
(2) Cung tài bạch: Lúc xem mệnh tạo làm nghề gì, kiếm được tiền như thế nào, phải lấy cung tài bạch lập thái cực.
Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung thiên di: năng lực kiếm tiền kém, vận khí kiếm tiền không tốt, không đủ no ấm, vất vả mà không thu hoạch được nhiều.
Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung quan lộc: muốn kiếm tiền phải có vốn liếng, nhưng không bảo đảm sẽ kiếm được tiền.
Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung phu thê: không nên giữ chức tài vụ, còn chủ về kiếm được tiền thì giao cho người phối ngẫu quản lí.
Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung phúc đức: kiếm được bao nhiêu thì xài hết bấy nhiêu, không đủ no ấm, cũng chủ về chưa kiếm được tiền đã phải tiêu tiền để giao tế, có kiếm được tiền hay không còn chưa biết, đây là điểm chưa kiếm được tiền đã có tổn thất.
Cung tài bạch tự Hóa Kị: vốn liếng ít, không có "kho tiền", cần phải tự lập, phấn đấu để kiếm tiền.
(3) Cung quan lộc: Cung quan lộc là cung vị tài bạch của cung tài bạch, nên có thể xem tiền dùng vào việc gì.
Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh: kiếm được tiền sẽ để dành, tiết kiệm; keo kiệt, không tiêu xài. Ngoài ra còn phải xem hướng đi của Lộc Quyền Khoa, để biết có thể có số tiền lớn hay không.
Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung thiên di: tiêu nhiều tiền ở bên ngoài, không có dư để dành dụm.
Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung tài bạch: kiếm được tiền mang tiền đầu tư tiếp vào sự nghiệp, để kiếm lời.
Cung quan lộc của đại vận có Hóa Kị đại vận hoặc bị Hóa Kị lưu niên xung: chủ về hao tài.
Cung quan lộc tự Hóa Kị: dùng tiền không tiết kiệm, kiếm được bao nhiêu tiêu bấy nhiêu, người phối ngẫu cũng thích tiêu tiền, không có quan niệm để dành.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái
