Bài tổng quan
Hóa Lộc năm sinh và đối cung: giữ được hay tiết ra
Kiếm một trăm đồng về nhà rồi lại dùng một trăm đồng ra: kiểu tiêu xài ấy có tên riêng và một cung nhất định. Hóa Lộc năm sinh chỉ giữ được khi đối cung có Quyền đứng chặn, còn lại thì Lộc đang chảy đi…
Lộc từ Mệnh, Tài, Quan hóa sang đối cung
Khi Mệnh, Tài Bạch hoặc Quan Lộc trực tiếp hóa Lộc sang đối cung, đó là mệnh mang tượng lạc thiên. Nhưng đối cung ấy không được tọa hóa Lộc năm sinh. Nếu đối cung có hóa Lộc năm sinh tọa thủ thì gọi là hồi quy Lộc: kiếm tiền nhẹ nhàng, tiêu xài thoải mái. Vì có Lộc hóa tới nên kiếm được tiền, nhưng tiền kiếm được đều tiết ra ngoài, cho nên hồi quy Lộc không phải Lộc cát tường.
Điều khó nhất là Lộc khó hiểu hơn Kỵ. Lý của Lộc và Kỵ mà thấu thật sự thì việc gì cũng hiểu được.
Điền Trạch và Tử Tức: Lộc chảy thuận hay chảy ngược
Cùng một chỗ có Lộc, nhưng tiền theo dòng nào mà đi thì khác nhau một trời một vực: tiền ra ngoài tiêu hay tiền lại chảy về nhà gấp bội.
- Hóa Lộc năm sinh tọa Điền Trạch, mà Điền Trạch lại hóa Lộc sang Tử Tức, hoặc hóa Kỵ sang Tử Tức: do Điền Trạch hóa tới Tử Tức là Lộc, vốn là Xạ Xuất Lộc, và khi bắn ra nó cũng kéo luôn hóa Lộc năm sinh rời khỏi cung. Nghĩa là từ trong nhà, Điền Trạch, người ấy mang vật dụng, tiền tài ra bên ngoài, Tử Tức, mà tiêu xài. Lộc hóa ra từ Điền Trạch kiểu này gọi là Thuận Thủy Lộc. Nếu Điền Trạch lại hóa Kỵ nhập Tử Tức thì gọi là Tiết Xuất Kỵ, cũng là ý mang tài từ trong nhà ra ngoài mà tổn thất.
- Điền Trạch hóa Lộc đến Tử Tức mà Tử Tức tọa hóa Lộc năm sinh: Lộc này không có tác dụng chặn trả. Đây là ra ngoài kiếm tiền, bao nhiêu cũng vui vẻ tiêu xài. Nếu hóa Lộc năm sinh ở Điền Trạch mà Điền Trạch lại hóa Lộc đến Tử Tức thì ở nhà vốn có hưởng thụ, nhưng lại mang tiền tài ra ngoài tiêu.
- Hóa Lộc năm sinh ở Điền Trạch, hóa Kỵ năm sinh ở Tử Tức, mà Điền Trạch hóa Kỵ đến Tử Tức: đó là Nghịch Thủy Kỵ phạm Lộc, có thể lợi thêm lợi gấp mấy lần. Ở nhà vốn đã đủ hưởng thụ, lại gặp Nghịch Thủy Kỵ, tiền tiêu ra lại kiếm về gấp mấy lần.
- Tử Tức hóa Lộc nhập Điền Trạch mà Điền Trạch tọa hóa Lộc năm sinh: Lộc này không có hiệu cát lợi. Khi đi chơi tiêu tiền thì lấy tiền trong nhà đi. Ngược lại, nếu Điền Trạch vốn tọa hóa Lộc năm sinh mà lại hóa Lộc nhập Tử Tức thì là từ trong nhà chuyển tài sản ra ngoài tiêu xài, tức bại gia tử.
- Tử Tức hóa Lộc đến Điền Trạch, Điền Trạch tọa Sinh Niên Lộc: ở ngoài cần dùng bao nhiêu thì lấy từ nhà ra bấy nhiêu, không có ý bại gia.
- Tượng cát nhất là Tử Tức tọa Sinh Niên Kỵ, Điền Trạch tọa Sinh Niên Lộc, và Điền Trạch hóa Kỵ nhập Tử Tức, đó là Nghịch Thủy Kỵ.
- Hóa Lộc năm sinh tọa Điền Trạch mà Tử Tức hóa Lộc nhập Điền Trạch: ở ngoài kiếm tiền về nhà tiêu xài, vẫn từ trong nhà dùng ra, kiếm một trăm đồng về thì dùng một trăm đồng ra. Hóa Lộc năm sinh của Điền Trạch này không đủ lực chặn Lộc do Tử Tức hóa tới, lại vì hóa Lộc năm sinh ở Điền nên tiền kiếm về từ ngoài có lẽ đi mua nhà, kết quả tay vẫn không có tiền mặt. Nếu Điền Trạch tọa hóa Lộc, Quyền năm sinh thì sau khi tiêu vẫn còn không ít tích lũy. Nếu Điền Trạch tọa hóa Lộc, Khoa năm sinh thì sau khi tiêu vẫn còn chút ít.
Mệnh và Thiên Di: Lộc năm sinh phải có Quyền hộ vệ
- Hóa Lộc năm sinh nhập Mệnh, mà Mệnh cung lại hóa Lộc đến Thiên Di: vốn có Lộc giữ cung, nhưng hóa Lộc ra Thiên Di tức là mang Lộc ra ngoài tiêu xài, nghĩa là ở nhà vốn có phúc nhưng lại mang tiền tài ra ngoài tiêu.
- Mệnh tọa hóa Lộc năm sinh, Thiên Di có hóa Kỵ năm sinh chặn lại thì cát. Nhưng nếu Mệnh cung hóa Lộc đến Thiên Di thì không cát lợi.
- Hóa Lộc năm sinh tọa Mệnh thì Thiên Di tuyệt đối không được tự hóa Kỵ. Nếu tự hóa Kỵ thì Lộc của Mệnh cung bị phá: vốn hóa Lộc nhập Mệnh là chính mình có phúc, nhưng vì Thiên Di tự hóa Kỵ, là chính mình hưởng thụ mà tiêu hết Lộc ấy. Loại Sinh Niên Lộc này không còn là cát tinh. Cũng vậy khi Mệnh cung hóa Kỵ đến Thiên Di mà Thiên Di không những không có hóa Kỵ năm sinh lại còn tự hóa Kỵ; hoặc dù Thiên Di có hóa Kỵ năm sinh nhưng lại tự hóa Kỵ, ý vẫn như nhau.
- Nói gọn: đối cung của hóa Lộc năm sinh tuyệt đối không được tự hóa. Nhưng nếu đối cung của hóa Lộc năm sinh tự hóa Quyền thì cát, vì lực của Quyền lớn, Lộc phải dùng Quyền để đè. Cùng lẽ với lực của Kỵ: dùng Quyền cũng chặn được Lộc trở lại. Cho nên nếu đối cung của hóa Lộc năm sinh tọa hóa Quyền năm sinh, hoặc tự hóa Quyền, thì tương đối có tiền. Lộc phải dùng Quyền chặn; mười hai cung vị đều cùng lý ấy.
- Nếu Điền Trạch có hóa Lộc năm sinh thì Tử Tức không được tự hóa ra ngoài. Trong các kiểu tự hóa, chỉ tự hóa Quyền thì Lộc tinh mới giữ được; tự hóa Khoa, tự hóa Lộc, tự hóa Kỵ đều giữ không được. Vì vậy cát nhất là Lộc Quyền tương chiếu ở hai đối cung.
- Điền Trạch tọa hóa Lộc năm sinh mà Tử Tức không có Quyền tinh, cũng không tự hóa Quyền, lại thêm Điền Trạch hóa Lộc hoặc hóa Kỵ nhập Tử Tức: nếu là hóa Kỵ thì nhiều tổn thất; nếu là hóa Lộc thì lạc thiên tiêu xài. Đây không phải Nghịch Thủy mà là Thuận Thủy chảy đi.
Lộc ở Thiên Di là quý nhân, Kỵ xung phá thì quý nhân nguội dần
Có người được nâng đỡ từ đầu mà về sau chỉ còn tự mình đứng vững: chuyện ấy do vận mệnh đi đến cung này, không phải lỗi của ai.
- Hóa Lộc năm sinh tọa Thiên Di, hoặc Mệnh cung hóa Lộc nhập Thiên Di: giải thích đơn giản là ở ngoài có quý nhân. Nếu đối cung, tức Mệnh cung, có hóa Quyền chặn được Lộc tinh thì cát. Nếu không có hóa Quyền mà có tự hóa Khoa thì tuy tài có tổn cũng cầu danh, tức thể diện. Nếu Mệnh cung có cả Quyền lẫn Khoa thì Quyền chặn Lộc còn Khoa cầu danh, vừa muốn tài vừa muốn danh.
- Nhưng nếu Mệnh cung có Quyền Khoa mà lại hóa Kỵ nhập Thiên Di, thì lấy hóa Quyền làm chính. Lộc đã bị Kỵ xung phá: có người muốn đề bạt mình mà mình không muốn, quý nhân, tức Lộc, bị Kỵ đuổi đi, chỉ còn lại Quyền, Khoa. Chính mình đi phấn đấu, muốn danh thì tự đi cầu, và thỏa mãn với thành tựu do nỗ lực của mình.
- Hóa Kỵ đến đối cung xung phá hóa Lộc năm sinh của Thiên Di thì Lộc tinh bị phá: ban đầu tuy có người đề bạt, về sau quý nhân không còn nhiệt tâm, cuối cùng dựa vào biểu hiện cá nhân. Lộc ở Thiên Di là quý nhân, mà Mệnh cung hóa Kỵ xung phá Lộc, thì quý nhân trước nóng sau lạnh, toàn dựa vào nỗ lực của chính mình. Đây gọi là Chủ Tự Cách.
- Hỏi: tình trạng quý nhân như thế là do vấn đề của chính mình hay của đối phương? Đáp: không liên quan đến vấn đề của người, đó là khí số vận mệnh đi đến cung này thì tự nhiên xảy ra tình trạng ấy. Đây là chuyện vận mệnh, không phải chuyện của ai.
- Nếu Thiên Di Lộc Quyền đồng cung mà lại tự hóa Lộc thì Lộc đi ra, chỉ còn Quyền tinh ở lại, tức chỉ phấn đấu nỗ lực mà thôi. Nếu Lộc Quyền đồng cung mà lại tự hóa Quyền thì đại cát, vì Quyền có thể ngăn Lộc tiết ra; Quyền tọa cung mà tự hóa Quyền thì không liên quan.
Đối cung tự hóa Khoa, Lộc, Kỵ: Lộc đều không giữ được
Chỉ Quyền chặn được Lộc, chỉ Quyền hoặc Kỵ năm sinh chặn được Kỵ; còn lại đều chỉ làm cho việc mất đi chậm hơn hoặc nhanh hơn mà thôi.
- Đối cung tự hóa Khoa cũng không có tượng cát. Hóa Lộc chỉ có Quyền mới chặn được sự tiết xuất, hoặc có hóa Kỵ ngăn trở đến. Với Kỵ tinh bắn ra, chỉ có đối cung tọa hóa Quyền hoặc hóa Kỵ năm sinh mới chặn được. Với Lộc tinh bắn ra, chỉ có đối cung tọa hóa Quyền năm sinh hoặc tự hóa Quyền mới chặn được; còn lại đều không có lực.
- Nếu đối cung tọa hóa Khoa năm sinh thì chỉ tăng thêm lải nhải mà thôi. Cung này tọa hóa Lộc năm sinh, đối cung có hóa Khoa năm sinh, thì Khoa ấy không đủ lực chặn Lộc tiết đi, vẫn phải tổn thất, chỉ là tổn không dứt khoát: việc kéo dài lằng nhằng không giải quyết được, vì Hóa Khoa muốn giữ thể diện. Hóa Lộc gặp hóa Kỵ thì tổn thất rất lớn.
- Hóa Lộc năm sinh chuyển Kỵ nhập đối cung, có hóa Kỵ năm sinh chặn cũng cát, chỉ cần đối cung không tự hóa nữa; tự hóa thì tiết xuất, hung. Nếu đối cung không có hóa Kỵ năm sinh chặn thì tổn thất cũng không cam tâm.
- Hóa Lộc năm sinh chuyển Lộc nhập đối cung mà đối cung không có hóa Quyền năm sinh chặn thì tổn thất cũng tiêu thoải mái. Nếu lại tự hóa Kỵ thì tổn thất càng nặng. Lộc tinh chuyển Lộc đến đối cung là dẫn động Lộc vốn có ở đối cung chuyển ra ngoài, nghĩa là ở ngoài vui vẻ tiêu tiền.
- Đối cung của hóa Lộc năm sinh tự hóa Quyền là điềm cát lợi; nhưng nếu tự hóa Lộc, Khoa, Kỵ thì hung, đều tổn thất đến mắc nợ. Tự hóa Kỵ và Khoa thì kéo theo cái đuôi mắc nợ. Không được cho rằng Khoa sẽ giải Kỵ: ý ấy không sai, nhưng Lộc Kỵ đối chiếu đã là tượng đại tổn, có Khoa chỉ làm kéo dài thôi.
- Hóa Lộc năm sinh tọa cung không phi Tứ Hóa, tức không phi tiếp, mà đối cung tự hóa Lộc thì thoải mái tiêu xài. Tự hóa Khoa cũng phải tổn thất. Nếu tự hóa Khoa lại tự hóa Kỵ thì mắc nợ kéo dài. Nhưng nếu có hóa Quyền mà không hội Kỵ tinh thì hóa Lộc năm sinh của cung này giữ được. Xem hóa Lộc năm sinh có ba yếu tố, nằm ở trạng thái của đối cung: đối cung tự hóa Quyền thì cát, ba kiểu tự hóa còn lại thì hung vì tiết ra.
- Tiết Xuất Lộc hội hóa Lộc năm sinh cũng chủ ý tiêu xài. Hội Lộc Kỵ thì tiêu càng nhiều mà không còn chút nào; nếu muốn mua nhà còn thiếu vốn. Nghiên cứu hướng đi của Lộc tinh, quan trọng nhất là xem cung vị của nó.
- Hóa Lộc tọa cung không được tự hóa nữa. Tự hóa mang ý đã mất, biểu thị vật vốn có đã mất; tự hóa Lộc hay tự hóa Kỵ đều cùng lý. Hóa Lộc vốn là cát tinh nhưng cung tọa của nó tuyệt đối không được tự hóa. Cung tọa của hóa Lộc năm sinh, hoặc Mệnh đại hạn hóa Lộc, mà đối cung tự hóa thì đều tổn thất, và Lộc vốn cát biến thành Lộc hung. Cung có can hóa Lộc năm sinh, hóa Lộc đến đâu thì xem nơi đó có hóa Quyền chặn hay không. Lộc hóa ra từ Mệnh cung có ý nghĩa như hóa Lộc năm sinh.
Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.
