Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lộc Kị luận

Bài tổng quan

Kỵ nhập, Kỵ xuất và phép xúc cơ: đoán từ lúc khách đến hỏi

Tử Vi Bắc Phái - Lộc Kị luận04/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Kỵ nhập, Kỵ xuất và phép xúc cơ: đoán từ lúc khách đến hỏi

Người khách bước vào đúng giờ Hợi của một ngày thu, và chỉ riêng khoảnh khắc ấy đã đủ để đoán họ đang mang nỗi lo gì. Phép xúc cơ lấy chính thời điểm người ta tìm đến làm lá số…


Đồng loại hay dị loại: Kỵ nhập có thể là Kỵ cát

Điền Trạch là kho tài. Giả sử Điền Trạch mang can Quý, Tham Lang hóa Kỵ nhập Mệnh. Vì từ Điền Trạch phát ra, nên Kỵ này tương đương một Kỵ nhập, hệt như tự hóa Kỵ, và nó có nghĩa là giữ tài.

Kỵ nhập hay Kỵ xuất tùy vào việc cung đích có đồng loại với cung gốc hay không. Điền Trạch và Mệnh cùng loại, vì cùng thuộc nhóm tứ chính của ta. Thiên Di và Tử Tức thì khác loại, đây là nguyên lý âm dương. Đồng loại phi Kỵ vào nhau là Kỵ nhập, mang nghĩa giữ, thuộc cát. Dị loại phi Kỵ vào nhau là tai, thuộc hung. Đó là vấn đề Kỵ nhập, Kỵ xuất.

Nguyên tắc này soi sáng thêm nhiều thế quen thuộc:

  • Điền Trạch phi Kỵ nhập Mệnh, kho tài vị hóa Kỵ nhập Mệnh: người tiết kiệm.
  • Tử Tức phi Kỵ nhập Mệnh: lãng phí, vì Tử Tức là Thiên Di của Điền Trạch.
  • Tử Tức phi Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh: con cái với ta không duyên. Không phải không có con, nhưng ít.
  • Tử Tức phi Kỵ nhập Phu Thê xung Quan Lộc, hoặc Điền Trạch phi Kỵ như vậy: có thể không có con.
  • Điền Trạch phi Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh: tiết tài, tiền lọt khỏi kho, cũng chủ năng lực tình dục suy yếu.

Phu Thê trùng với Thân: vợ chồng sống chung viên mãn

Ở một nam mệnh sinh năm Mậu Thân, cung Phu Thê đồng thời là cung Thân. Phu Thê can Mậu, Tham Lang hóa Lộc nhập Mệnh: vợ đối với anh tốt. Lộc của Thân nhập Mệnh: thọ. Tham Lang hóa Lộc năm sinh tọa Mệnh cũng chủ trường thọ.

Mậu Thiên Cơ hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu, tức Điền Trạch của Phu Thê, thuộc đồng loại: sau này vợ và cha mẹ anh ở chung hòa thuận. Nếu ở riêng cũng thân thiết hòa thuận, vì Kỵ nhập thì không còn Kỵ xuất nữa. Vợ chồng vì thế ở chung viên mãn. Phu Thê phi Lộc nhập Mệnh: người phối ngẫu trao cho ta điều kiện. Ngược lại, nếu Phu Thê phi Kỵ nhập Tật Ách xung Phụ Mẫu, tức Tử Tức của Phu Thê xung Điền Trạch, thuộc Kỵ nhập dị loại, chủ tai, thì người phối ngẫu đối với cha mẹ ta không tốt. Kỵ rơi vào Thiên Di của Điền Trạch của Phu Thê thì ở chung không hợp, sẽ dọn ra ở riêng.

Tiền bạc: tự kinh doanh hay đi làm, ai giữ tiền

Cũng ở lá số Mậu Thân ấy, Tài Bạch mang can Bính Thìn, Thiên Đồng hóa Lộc nhập Tử Tức chiếu Điền Trạch: kiếm tiền dựa vào tự mình kinh doanh. Vì Lộc nhập Tử Tức, phải có con thì Lộc mới đến, nên sau hôn nhân có con rồi làm kinh doanh sẽ thuận hơn và không thuộc dạng đi làm thuê. Nếu Tài Bạch phi Lộc nhập Tật Ách chiếu Phụ Mẫu, tức văn thư cung, thì thuộc công chức. Ở đây Lộc rơi vào Tử Tức, cung mặt tiền cửa hàng, công ty, nhà máy, nên không làm công chức.

  • Bính Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Thiên Di xung Mệnh: kiếm tiền cũng tiêu tiền, nên không thể quản lý tài chính. Đừng tự mình giữ tiền.
  • Bính Thiên Cơ hóa Quyền nhập Phụ Mẫu: tiền kiếm được do cha mẹ quản. Phụ Mẫu lại là Điền Trạch của Phu Thê nên sau hôn nhân do vợ quản tài chính.
  • Bính Văn Xương hóa Khoa nhập Điền Trạch, tương chiếu với Hóa Lộc của Tử Tức: làm kinh doanh bảo đảm kiếm ra tiền và có quý nhân giúp.
  • Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Thiên Di là Kỵ xuất, vì Thiên Di là Quan Lộc của Phúc Đức, nên tự mình tiêu hết và xung thẳng vào Mệnh. Nếu Kỵ nhập Nô Bộc thì bạn bè tiêu hết. Nô Bộc là Tử Tức của Tài Bạch, thuộc tứ chính dị loại nên chủ tai, bất lợi.
  • Tài Bạch phi Kỵ nhập Huynh Đệ, Điền Trạch của Tài Bạch, thuộc đồng loại, là Kỵ nhập: anh em giúp ta giữ tài.
  • Tài Bạch phi Kỵ nhập Phúc Đức, là Thiên Di của Tài Bạch, rồi tự xung: phúc mỏng, kiếm tiền không đủ sống. Kỵ nhập Phúc Đức nghĩa là không có tiền để hưởng.
  • Tài Bạch phi Kỵ nhập Quan Lộc, mà Quan Lộc lại phi Kỵ nhập Phúc Đức xung Tài Bạch: làm kinh doanh không kiếm ra tiền.

Con cái và chuyện sinh nở

  • Một người phụ nữ ở lần hôn nhân đầu sinh hai con trai, ly hôn nên chồng mang con đi. Lần hôn nhân thứ hai không có con. Tức là tương đương không có con.
  • Tử Tức phi Kỵ nhập Phụ Mẫu, mà Phụ Mẫu lại phi Kỵ nhập Tử Tức: không có hạt giống con, tức không có tinh trùng. Vì Quan Lộc của Tử Tức là Phụ Mẫu, nên Tử Tức và Phụ Mẫu cùng hóa Kỵ vào nhau thì chủ không có tinh trùng.
  • Tử Tức tự hóa Kỵ: lúc sinh con thấy không thuận lợi.
  • Lộc Kỵ xung nhau: tuy có sinh con nhưng trong số đó có đứa không nuôi lớn được.
  • Tử Tức mang can Đinh Tỵ, phi Kỵ nhập Phụ Mẫu. Phụ Mẫu can Tân, Văn Xương hóa Kỵ nhập Điền Trạch xung Tử Tức. Sẽ sinh con, nhưng trong con cái có đứa chết yểu. Vì Phụ Mẫu mang can Tân có Cự Môn tự hóa Lộc nên vẫn có hạt giống.

Thiên Di và chuyện ra ngoài

Có người ra ngoài là tai nạn, có người ra ngoài là cơ may. Hai điều ấy khác nhau ở chỗ Kỵ nằm ở đâu và Lộc đi về đâu.

  • Mệnh phi Kỵ nhập Thiên Di rồi tự xung: ra ngoài không thuận lợi, nhưng không chủ tai nạn xe hay tai họa bất ngờ. Chủ tai nạn xe là Thiên Di lưu niên tự hóa Kỵ, hoặc Mệnh lưu niên tự hóa Kỵ, thì mới chủ tai họa bất ngờ.
  • Hóa Kỵ nhập Thiên Di: ra ngoài được, nhưng không có quý nhân, đi càng xa càng tốt. Thiên Di tự hóa Kỵ thì tuyệt đối không nên ra ngoài.
  • Mệnh phi Kỵ nhập Thiên Di tự xung: Thiên Di vốn không tốt nên ra ngoài không thuận. Thiên Di đã tự hóa Kỵ, nghĩa là đã tự báo Thiên Di không tốt, nếu cứ ra ngoài thì sẽ có tai họa bất ngờ.
  • Hóa Kỵ nhập Thiên Di là Dịch Mã. Thiên Di lại tự hóa Kỵ thì là Dịch Mã hóa Kỵ. Nếu còn xung ra ngoài thì có tai họa.

Với cung Thiên Di, năm Nhâm Tuất thái tuế Vũ Khúc tự hóa Kỵ, mà Quan Lộc phi Kỵ nhập Thiên Di: năm nay đi làm có biến động, vì Thiên Di là vị trí biến động. Kết quả của biến động không tốt vì Thiên Di tự hóa Kỵ.

  • Thiên Di tự hóa Kỵ: ra ngoài trong nước bất lợi, ra nước ngoài đi xa thì được, vì đó là Kỵ xuất. Đi nước ngoài thì lấy Thiên Di làm Mệnh để đoán.
  • Thiên Di tự hóa Kỵ phải Kỵ xuất. Lấy thiên can của Thiên Di tìm Lộc, cung nhận Lộc là phương vị của Kỵ xuất, tức phương hướng cát lợi. Dù Thiên Di không tự hóa Kỵ, nếu Quan Lộc phi Kỵ nhập Thiên Di cũng là biến động, và cũng tìm phương vị cát lợi bằng Hóa Lộc từ thiên can Thiên Di.
  • Có người hỏi: tự hóa Kỵ rồi đi tìm Lộc thì có thành Lộc Kỵ xung nhau không. Trả lời là có cách giải, sẽ dạy riêng.
  • Vốn dĩ Thiên Di tự hóa Kỵ chủ tai họa bất ngờ, tai nạn xe. Nhưng nếu Quan Lộc lại phi Lộc nhập Thiên Di thì giữa Quan Lộc và Thiên Di có ma sát, tạo ra quan hệ giữa hai cung. Khi ấy không còn là tai họa bất ngờ mà Lộc Kỵ đồng cung tranh nhau này nói về biến động của sự nghiệp.
  • Ngược lại, nếu Thiên Di tự hóa Kỵ mà Mệnh phi Lộc nhập Thiên Di thì Thiên Di liên quan trực tiếp đến Mệnh, tức đến vận của ta, nên phải chú ý tai họa bất ngờ vì Lộc Kỵ chiến khắc.

Phép xúc cơ: đoán ngay từ khoảnh khắc người ta tìm đến

Xúc cơ pháp, nhìn như một lối định đoán mệnh, còn được gọi là "hào quẻ" của Đẩu Số. Cách làm là thầm nghĩ: vì sao người này vào đúng thời khắc này, năm này, tháng này, hôm nay, giờ này, lại đến tìm ta xem mệnh. Khoảnh khắc ấy chính là cơ để xúc, và dùng tâm mà đoán thì chắc chắn đúng. Cách này dùng can chi của tháng, ngày, giờ lúc hỏi để phi tứ hóa lên lá số, kết hợp với đẩu quân.

Người phụ nữ sinh năm 1944: một cuộc hỏi định mệnh

Người nữ sinh năm Giáp Ngọ 1944, lúc ấy lưu niên Nhâm Tuất, 39 tuổi. Thời điểm hỏi là ngày 12 tháng 7 Ất Dậu, giờ Hợi, năm Nhâm Tuất.

  • Đẩu quân lưu niên ở cung Thân. Tháng 7 nằm ở Bính Dần, ngày 12 cũng ở Bính Dần, giờ nằm ở Ất Hợi.
  • Ngày Ất Dậu có Thiên Cơ hóa Lộc, Thái Âm hóa Kỵ ở Phúc Đức của tháng 7 Bính Dần, xung Mệnh lưu niên. Phúc Đức của tháng lệnh là trọng điểm. Nó lại là Nô Bộc của giờ Hợi xung Huynh Đệ, là tai số, rồi xung nữa vào Mệnh lưu niên.
  • Ngày Ất Dậu, Thiên Cơ hóa Lộc ở Bính Tý. Từ Lộc tìm Kỵ: Bính Liêm Trinh hóa Kỵ nhập Kỷ Tỵ rồi xung Ất Hợi, cung vị của giờ Hợi. Ất Hợi là Điền Trạch của tháng 7, lại là Phụ Mẫu xung Tật Ách của bản mệnh bàn. Đoán rằng người này đã chết, nếu chưa thì chắc chắn sẽ chết.
  • Cách đọc: tháng 7 đẩu quân nhập Bính Dần, giờ Hợi tọa Ất Hợi. Ất Hợi là Tử Tức của tháng và ngày, đồng cung. Lấy Ất Hợi làm Mệnh tạm kết hợp với ngày. Ất Thái Âm hóa Kỵ xung Mệnh lưu niên, lại nhập Nô Bộc của giờ rồi xung Huynh Đệ, là vị trí tai ách. Hợi cung là Tử Tức của tháng 7 và là Phụ Mẫu của lưu niên. Thái Âm hóa Kỵ nhập Phúc Đức của tháng lệnh xung Mệnh cung của lưu niên.
  • Về sau biết người nữ này chết vì u tử cung, tức ung thư.

Một đứa trẻ bảy tuổi bị bệnh

Đứa trẻ sinh ngày 19 tháng 2 năm 1976, lúc 11 giờ. Người ta hỏi vào ngày Ất, giờ Hợi. Giờ Hợi nhập Phụ Mẫu lưu niên. Ngày Ất có Cơ, Lương, Tử, Âm: Cơ và Âm Lộc Kỵ cùng nhập Phu Thê lưu niên rồi tranh nhau. Phu Thê lưu niên là Tử Tức của giờ Hợi xung Điền Trạch, chủ tai số. Lộc Kỵ nhập tứ chính vị của cung giờ, lại là Phu Thê lưu niên xung chiếu Quan Lộc. Với đứa trẻ bảy tuổi thì đó là bệnh tật.

  • Tật Ách có Tân, Văn Xương hóa Kỵ. Bính Liêm Trinh hóa Kỵ năm sinh cũng nhập cung can Tân. Khí số vị của Tật Ách cung Tân Mão là Ất Mùi, Thái Âm hóa Kỵ nhập bản mệnh.
  • Tật Ách lưu niên Quý Tỵ, Tham Lang hóa Kỵ nhập Huynh Đệ lưu niên xung Nô Bộc, là vị trí tai số.
  • Bản mệnh Tật Ách Tân Văn Xương hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu của Tật Ách xung chính Tật Ách của Tật Ách, lại là Phúc Đức của bản mệnh.
  • Hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách, nếu là Phụ Mẫu của bản mệnh bàn thì bệnh nặng nhất. Phụ Mẫu của đại hạn nặng thứ hai. Phụ Mẫu của lưu niên nặng thứ ba, nhẹ hơn. Dùng lớn, trung, nhỏ mà biết mức nặng nhẹ.
  • Tuổi 6, Đinh Dậu: Thái Âm hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Khoa, Lộc Khoa cùng nhập bản mệnh, còn Cự Môn hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu xung Tật Ách: có cứu. Tuổi 7, Mậu Tuất: Tham Lang hóa Lộc nhập Phụ Mẫu bản mệnh xung Tật Ách, Thái Âm hóa Quyền nhập Mệnh, Hữu Bật hóa Khoa nhập Mệnh lưu niên, Thiên Cơ hóa Kỵ nhập bản mệnh cung: không chết.

Ba người đến hỏi cùng một lúc: thi cử, nghề nghiệp, tuổi thọ

  • Một cuộc hỏi vào giờ Tuất của ngày Ất, tháng và ngày ở Nhâm Tuất: Thiên Cơ hóa Lộc nhập Phụ Mẫu, cung văn thư, Thiên Lương hóa Quyền, Tử Vi hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ. Hỏi thi cử ở Quan Lộc Giáp Dần theo tam hợp thì Hóa Khoa chiếu Quan Lộc. Nghĩa là hôm nay người ấy muốn hỏi việc thi cử, học nghiệp.
  • Một người hỏi vào giờ Hợi cùng ngày. Ngày Ất, Thái Âm hóa Kỵ nhập Huynh Đệ Quý Hợi, tức Mệnh lưu niên Nhâm Tuất. Thiên Cơ hóa Lộc nhập Tài Bạch lưu niên Mậu Ngọ, mà Mệnh lưu niên Nhâm Tuất là Quan Lộc của Tài Bạch: năm nay sự nghiệp chưa tốt. Ất Thiên Lương hóa Quyền nhập Quan Lộc lưu niên: hiện nay kinh doanh có tiền đồ. Nhưng Hóa Kỵ của năm nhập Huynh Đệ, Nô Bộc nên kinh doanh hợp tác năm nay không kiếm tiền. Phải đến tuổi 42, thái tuế Giáp Tý, nhập cung Giáp Tý thì mới kiếm tiền. Thái Âm hóa Kỵ xung Huynh Đệ của đẩu quân nên hợp tác không có lãi, không chủ tai ách.
  • Một người đã 62 tuổi, hỏi cùng thời điểm. Ngày Ất, Cơ Lương Tử Âm. Thái Âm hóa Kỵ nhập Tật Ách lưu niên, Lộc Kỵ giao tranh. Thân thể không tốt, nên người này đến hỏi chuyện thọ nguyên. Lúc này là chuẩn: Hóa Kỵ xung ngày, ngày chiếm Tật Ách lưu niên nên đoán là vấn đề thân thể.

Nguồn: Thái Minh Hồng, Tử Vi Đẩu Số Bí Nghi.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lộc Kị luận