Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vận hạn phi tinh

Bài tổng quan

Luận đoán lưu nguyệt: đẩu quân và phép quy nguyên Phi Tinh

Tử Vi Bắc Phái - Vận hạn phi tinh20/09/202614 phút đọc3 lượt đọc
Luận đoán lưu nguyệt: đẩu quân và phép quy nguyên Phi Tinh

Đẩu Quân là nơi khí của một năm kết lại; can của cung ấy phi hóa về cung mệnh lưu niên sẽ cho biết năm đó được mất ra sao và ứng vào tháng nào. Khi đã biết hung tượng nằm ở đâu, phép quy nguyên phi tinh lần theo đường đi của Hóa Kị qua từng cung mà kể lại đầu đuôi sự việc. Một vụ trộm đêm mồng 5 tháng 7 được truy ra từ mệnh bàn như thế nào?


ĐẨU QUÂN LÀ NƠI KHÍ KẾT CỦA MỘT NĂM. Bất kể lưu niên nào trong đại vận, cứ căn cứ cung chức ở cung Dần mà tìm ra cung sở tại của Đẩu Quân; định được cung này cũng là định được cung tháng giêng. Từ đó mới lần xuống từng tháng, và khi cần thì dùng phép quy nguyên phi tinh để truy cho ra đầu đuôi một sự cố.

Vận Dụng Đẩu Quân Trong Luận Đoán Lưu Nguyệt

Lưu niên bàn là tĩnh, Đẩu Quân là động

Lưu niên bàn là tĩnh, Đẩu Quân là động. Tứ hóa của cung Đẩu Quân dùng để xem thùy tượng, còn tứ hóa của lưu niên thì hiện cát hung. Xem cung Đẩu Quân trùng điệp với cung chức nào của nguyên cục là xem chuyện gì xảy ra; xem tứ hóa của nó rơi vào cung nào là biết nguyên nhân xảy ra chuyện.

Về ý nghĩa vận dụng Đẩu Quân, sách vở luận thuật không nhiều, có nói cũng không rõ, nên không được giới nghiên cứu Đẩu Số xem trọng. Duyên khởi của Khâm Thiên môn là ở Dịch học. Dịch có phân biệt âm dương; có âm dương rồi mới có lí, khí, tượng, số, lấy Lộc, Quyền, Khoa, Kị làm chủ. Trong đó Lộc và Kị thuộc dương, Quyền và Khoa thuộc âm.

Khí của mỗi năm lưu chuyển ở cung Đẩu Quân, và cung Đẩu Quân cũng là nơi khí lưu hành của mỗi năm hiển hiện thùy tượng. Xem Đẩu Quân nhập cung nào của lưu niên thì năm đó có quan hệ rất sâu với khí lưu hành của cung ấy; đó là nơi khí kết của một năm, đương nhiên cũng là cửa ải họa phúc cát hung của mệnh tạo. Vai trò của Đẩu Quân trong mệnh bàn vì thế chẳng phải chỉ để tìm ra nguyệt lệnh, mà còn có ý nghĩa quan trọng khác. Kết quả thùy tượng và khí hóa của cung nó tọa lạc đương nhiên liên quan đến sự tốt xấu của hành hạn lưu niên; vấn đề chỉ là nó có bị tứ hóa khơi động hay không.

Bí quyết: can cung Đẩu Quân và can cung mệnh lưu niên

Vận dụng Đẩu Quân trong đoán mệnh không phải lí thuyết khó hiểu. Bí quyết là xem can của cung có Đẩu Quân tọa lạc phi tứ hóa có nhập hoặc xung cung mệnh của lưu niên hay không; hoặc lấy can cung mệnh của lưu niên phi tứ hóa, xem có nhập hoặc xung cung có Đẩu Quân tọa lạc hay không. Như vậy là biết được trong hành hạn lưu niên ấy được mất thế nào. Cần lưu ý, hiện tượng phi hóa này phát xuất từ cung của đại hạn trùng điệp với cung của lưu niên, hoặc trùng điệp với cung có Đẩu Quân tọa lạc.

Ví dụ: nam mệnh sinh năm Quý Mão, Đẩu Quân rơi vào cung tật ách

Nam mệnh sinh năm Quý Mão, tháng 11, ngày 5, giờ Dậu; âm nam, Thủy nhị cục. Cung mệnh ở Ất Mão có Tử Vi, Tham Lang Hóa Kị. Cung huynh đệ ở Giáp Dần có Thiên Cơ, Thái Âm, Tả Phụ, Địa Không. Cung phu thê ở Ất Sửu có Thiên Phủ, Văn Xương, Văn Khúc, Kình Dương. Cung tử nữ ở Giáp Tí có Thái Dương, Lộc Tồn, Hữu Bật. Cung tài bạch ở Quý Hợi có Vũ Khúc, Phá Quân Hóa Lộc, Đà La. Cung tật ách ở Nhâm Tuất có Thiên Đồng. Cung thiên di ở Tân Dậu không có chính diệu. Cung nô bộc ở Canh Thân có Địa Kiếp. Cung quan lộc ở Kỉ Mùi có Liêm Trinh, Thất Sát, Linh Tinh. Cung điền trạch ở Mậu Ngọ có Thiên Lương, Hỏa Tinh. Cung phúc đức ở Đinh Tị có Thiên Tướng. Cung phụ mẫu ở Bính Thìn có Cự Môn Hóa Quyền.

Hành hạn đại vận đến cung tài bạch của nguyên cục ở Hợi. Vào năm lưu niên cũng đến cung Hợi, cung mệnh của lưu niên trùng điệp với cung mệnh của đại vận; Đẩu Quân rơi vào cung Tuất, là cung tật ách của nguyên cục, tức cung huynh đệ của đại vận.

Quan sát cung có Đẩu Quân tọa lạc: cung tật ách của nguyên cục chủ về tình trạng cơ thể của mệnh tạo; cung huynh đệ của đại vận và của lưu niên đều là cung vị quan lộc của cung tật ách, tức vận khí của cơ thể. Ý tượng này đã biểu thị rõ tình trạng và vận khí cơ thể của mệnh tạo trong lưu niên ấy; tất nhiên đây là nơi mệnh tạo hao tổn tinh thần.

Can cung có Đẩu Quân tọa lạc là Nhâm, khiến Thiên Lương Hóa Lộc ở cung điền trạch của nguyên cục, khiến Vũ Khúc Hóa Kị ở cung tài bạch của nguyên cục. Hóa Lộc nhập cung điền trạch của nguyên cục, tức cung tật ách của đại vận, cũng là cung tật ách của lưu niên, chủ về người này ở nhà tuy có chú ý vấn đề sức khỏe. Nhưng Hóa Kị nhập cung tài bạch của nguyên cục, tức cung mệnh của đại vận và của lưu niên, gặp Phá Quân Hóa Lộc lại tự Hóa Lộc xuất; cung có Đẩu Quân lại phi Hóa Kị nhập cung mệnh của đại vận, hình thành hung tượng "phi Hóa Kị nhập cung cùng loại", xung cung phúc đức của nguyên cục, tức cung thiên di của đại vận và của lưu niên. Tổng hợp các ý tượng, trong lưu niên này lúc mệnh tạo đi xa công tác hay giao dịch làm ăn, có thể vì bản thân sơ ý mà cơ thể bị thương. Căn cứ nguyên tắc "lưu niên quản lưu nguyệt", mệnh tạo có thể bị tai nạn vào tháng 8.

Ví Dụ Thực Tế: Luận Đoán Lưu Nguyệt Phá Tài

Mệnh tạo cho biết vào ngày 5 tháng 7 âm lịch năm 2009 bị phá tài. Đây là nữ mệnh sinh năm Quý Hợi (1983), tháng 3, chưa chắc giờ sinh, nên đưa ra hai mệnh bàn giờ Dần và giờ Mão để phân tích. Muốn so sánh để chọn một mệnh bàn, trước tiên phải bắt đầu từ "tượng" mà quan sát; về nguyên tắc là xem lưu niên nhập cung nào của nguyên cục và cung nào của đại vận, rồi tổng hợp mà luận.

Mệnh bàn giờ Dần

Âm nữ, Thủy nhị cục. Cung mệnh ở Dần có Phá Quân Hóa Lộc; cung huynh đệ ở Sửu có Địa Kiếp, Kình Dương; cung phu thê ở Tí có Tử Vi, Linh Tinh, Lộc Tồn; cung tử nữ ở Hợi có Thiên Cơ, Thiên Hình, Hỏa Tinh, Đà La; cung tài bạch ở Tuất có Thất Sát; cung tật ách ở Dậu có Thái Dương, Thiên Lương, Địa Không; cung thiên di ở Thân có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Văn Xương, Hữu Bật; cung nô bộc ở Mùi có Thiên Đồng, Cự Môn Hóa Quyền; cung quan lộc ở Ngọ có Tham Lang Hóa Kị, Văn Khúc, Tả Phụ; cung điền trạch ở Tị có Thái Âm Hóa Khoa; cung phúc đức ở Thìn có Thiên Phủ, Liêm Trinh; cung phụ mẫu ở Mão không có chính diệu.

Cung mệnh của lưu niên là cung huynh đệ của nguyên cục, tức cung tử nữ của đại vận; ý tượng là vận thân thể ở bên ngoài, đào hoa, hợp tác đầu tư. Can cung là Ất, phi Hóa Lộc nhập Thiên Cơ ở cung tử nữ của nguyên cục (tức cung tật ách của đại vận, cũng là cung phu thê của lưu niên), phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung điền trạch của nguyên cục (tức cung phụ mẫu của đại vận, cũng là cung quan lộc của lưu niên), hình thành thế "Lộc Kị chiến khắc" ở Tị và Hợi. Thùy tượng trung gian vì vậy nằm ở Quyền: Thiên Lương Hóa Quyền ở cung tật ách của nguyên cục, cung ấy lại tự hóa Thái Dương Quyền, là Quyền xuất ở tuyến "phụ tật"; tượng này liên quan đến bệnh tật của cơ thể.

Mệnh bàn giờ Mão

Âm nữ, Kim tứ cục. Cung mệnh ở Sửu có Thiên Đồng, Cự Môn Hóa Quyền, Linh Tinh, Kình Dương; cung huynh đệ ở Tí có Tham Lang Hóa Kị, Hỏa Tinh, Lộc Tồn; cung phu thê ở Hợi có Thái Âm Hóa Khoa, Thiên Hình, Đà La; cung tử nữ ở Tuất có Liêm Trinh, Thiên Phủ; cung tài bạch ở Dậu không có chính diệu; cung tật ách ở Thân có Phá Quân Hóa Lộc, Hữu Bật, Địa Không; cung thiên di ở Mùi có Văn Xương, Văn Khúc; cung nô bộc ở Ngọ có Tử Vi, Tả Phụ; cung quan lộc ở Tị có Thiên Cơ; cung điền trạch ở Thìn có Thất Sát; cung phúc đức ở Mão có Thái Dương, Thiên Lương; cung phụ mẫu ở Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Địa Kiếp.

Cung mệnh của lưu niên là cung mệnh của nguyên cục, tức cung phu thê của đại vận; ý tượng là hôn nhân, mở rộng sự nghiệp ở bên ngoài. Can cung là Ất, phi Hóa Lộc nhập Thiên Cơ ở cung quan lộc của nguyên cục (tức cung phúc đức của đại vận, cũng là cung quan lộc của lưu niên), phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung phu thê của nguyên cục (tức cung tài bạch của đại vận, cũng là cung phu thê của lưu niên), cũng thành thế "Lộc Kị chiến khắc" ở Tị và Hợi. Thùy tượng Thiên Lương Hóa Quyền ở cung phúc đức của nguyên cục còn tự Hóa Quyền, là Quyền xuất ở tuyến "phúc tài"; ý tượng là tổn tài, hao tài liên tiếp. Theo phân tích ấy, mệnh bàn giờ Mão mới có tượng tổn tài.

Truy dấu "ám tinh" Cự Môn

Mệnh tạo kể rằng ban đêm xe hơi bị trộm vào phá, gây tổn thất tài vật. Lấy hiện tượng "bị trộm mà hao tài" làm trọng điểm để truy tìm tông tích. Trước tiên phải tìm xem "ám tinh" ở cung nào. Trong Đẩu Số, "ám tinh" là Cự Môn, vì nó chủ về mờ ám, thị phi, trộm cắp. Kế đến, để thành tượng bị trộm tất phải có điều kiện Cự Môn tọa ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lúc lưu niên trùng điệp với cung nô bộc của lưu nguyệt thì xảy ra sự cố bị trộm.

Xem lại mệnh bàn giờ Mão: hành hạn lưu niên vào cung Sửu, là đất Tứ Khố, trùng điệp với cung mệnh của nguyên cục, trong cung có Thiên Đồng, Cự Môn Hóa Quyền năm sinh. Quyền chủ về khai sáng, tranh chấp, tổn thương. Lưu niên năm 2009, Đẩu Quân khởi tháng giêng ở Dần, đếm thuận đến cung Thân là tháng 7 âm lịch. Cung nô bộc của lưu nguyệt tháng 7 trùng với cung Sửu; vì vậy ứng số tháng này có tượng bị trộm.

Tại sao lại là ngày 5 tháng 7? Quan sát cung tài bạch của lưu niên phi hóa: can cung là Tân, Tân khiến Hóa Lộc nhập Cự Môn ở cung mệnh của lưu niên, phi Hóa Kị nhập Văn Xương ở cung thiên di của lưu niên. Cự Môn chủ về trộm cắp, Văn Xương chủ về học tập. Lộc nhập dùng để định thời gian, Kị nhập dùng để định tượng. Ý tượng rất minh xác: ngày 5 tháng 7, vì đi học ở bên ngoài mà bị trộm tài vật.

Quy Nguyên Phi Tinh Pháp Tắc

Trong giới nghiên cứu Đẩu Số, đại sư Phương Ngoại Nhân là người đầu tiên vận dụng từ "quy nguyên". Đây vốn là từ của Phật gia, nghĩa là "trở về với chân như"; trong Đẩu Số, quay lại tìm cái ban đầu của nó thì gọi là "quy nguyên". Còn "phi tinh" đương nhiên là chỉ phi tinh tứ hóa. Về cách vận dụng, Phương Ngoại Nhân nhấn mạnh phải lấy phép tắc "Hà Lạc Tử Vi Đẩu Số quy nguyên" làm chủ: từ cung mệnh tính là "1", đếm nghịch đến cung tật ách là số "6", gọi là "nhất lục cộng tông"; rồi đếm nghịch đến cung quan lộc là số "9", gọi là cung vị "khí số". Can của hai cung này phi hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kị sẽ ứng tình hình cát hung họa phúc của bản cung.

Phép trình bày ở đây chỉ lấy tuyến lộ Kị lưu tinh phi hóa mà luận cát hung được mất; thủ pháp quan sát phi hóa này hoàn toàn khác với phương pháp của Phương Ngoại Nhân tiên sinh. Bài bố xong mệnh bàn, biết được cách cục của mệnh tạo, kế đến mới dùng "Quy nguyên phi tinh pháp tắc" để luận đoán.

Truy tìm Kị cho một tai nạn giao thông

Giả thiết sau khi quan sát mệnh bàn đã tính ra hành hạn có hiện tượng tai nạn giao thông, cung thiên di của lưu niên có Thiên Cơ Hóa Kị. Muốn biết quá trình xảy ra tai nạn, lấy can cung thiên di lại phi xuất Kị; nếu nhập cung nô bộc, lại lấy can cung nô bộc phi xuất Kị, nhập cung tài bạch; rồi lại từ cung tài bạch phi xuất Kị, nếu phi trở về cung nô bộc thì dừng việc truy tìm.

Từ đó biết Kị đi từ cung mệnh sang cung thiên di, sang cung nô bộc, sang cung tài bạch, rồi dừng lại ở cung nô bộc. Có thể đoán tai nạn này là đụng người khác, người khác bị thương, bản thân mệnh tạo không sao, nhưng hao tài bồi thường cho người ta. Nếu trong quá trình truy tìm, Kị có phi nhập cung tật ách hoặc phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu, thì sự việc sẽ giải quyết theo pháp luật. Nếu kết quả truy tìm Kị dừng lại ở cung mệnh thì người bị thương là mệnh tạo. Trong quá trình truy tìm mà gặp trùng lặp hoặc gặp cung tự Hóa Kị thì phải dừng lại.

Áp dụng vào vụ phá tài tháng 7

Vẫn là mệnh bàn giờ Mão. Đáp án đã biết: dương lịch ngày 24 tháng 8 năm 2009, khoảng 21 đến 22 giờ ngày thứ hai, tức âm lịch năm Kỉ Sửu, tháng 7, ngày 5; lúc mệnh tạo đi học Đẩu Số, xe hơi đậu dưới lầu bị trộm mất đồ, tổn thất một số tiền.

Đã biết lưu nguyệt tháng 7 có hiện tượng phá tài, tức lấy cung tài bạch của lưu nguyệt tháng 7 làm khởi điểm mà truy tìm phi cung hóa tượng. Cung tài bạch của lưu nguyệt tháng 7 có can Bính; Bính khiến Hóa Kị nhập Liêm Trinh ở cung tật ách của đại vận (tức cung tử nữ của lưu niên). Từ cung tật ách của đại vận lại phi Hóa Kị nhập Vũ Khúc ở cung huynh đệ của đại vận (tức cung phụ mẫu của lưu niên). Cung huynh đệ của đại vận lại phi Hóa Kị nhập Thái Dương ở cung mệnh của đại vận (tức cung phúc đức của lưu niên). Cung mệnh của đại vận lại phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung tài bạch của đại vận (tức cung phu thê của lưu niên). Cung tài bạch của đại vận lại phi Hóa Kị nhập Tham Lang ở cung tử nữ của đại vận (tức cung huynh đệ của lưu niên). Cung tử nữ của đại vận lại phi Hóa Kị nhập Thái Dương ở cung mệnh của đại vận thì dừng, vì đã trùng lặp.

Một đường từ cung tật ách của đại vận đến cung huynh đệ, cung mệnh, cung tài bạch, cung tử nữ, rồi quay về cung mệnh của đại vận; quan sát tượng của chúng có thể thấy mệnh tạo vào lưu nguyệt tháng 7 ở bên ngoài có tình hình tổn tài, hao tài.

Phép quan sát con đường lưu tinh phi Hóa Kị để luận cát hung được mất theo "Quy nguyên phi tinh pháp tắc" tuy có vẻ giản dị, nhưng chỗ khó nhất là phải biết hung tượng nằm ở đâu. Đó là điều kiện tiên quyết; nếu không, kết quả luận đoán e rằng sẽ mất tiêu điểm. Về quan niệm và cách vận dụng, đây là điều đáng chú ý.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 9 "Nguyên tắc luận đoán vận hạn của Tứ Hóa phái", mục "Phương pháp luận đoán lưu nguyệt".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vận hạn phi tinh