Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tứ Hóa Phái Quyển 2: Cung Vị, Cung Chức Và Cung Vị Tổng Luận

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn16/09/202617 phút đọc7 lượt đọc
Tứ Hóa Phái Quyển 2: Cung Vị, Cung Chức Và Cung Vị Tổng Luận

Cung vị và cung chức là hai khái niệm tưởng trùng nhau nhưng thực chất khác biệt tận gốc. Cung vị là mười hai phương vị địa chi cố định trên mệnh bàn, còn cung chức là mười hai phạm trù của đời người, bài bố ngược chiều từ cung mệnh. Sự phân biệt ấy dẫn đến vấn đề tính tuyệt đối và tính tương đối: trên mệnh bàn gốc, cung mệnh là cung mệnh, Ngọ là Ngọ, nhưng khi chuyển sang đại vận, lưu niên hay lập thái cực, mỗi cung lại khoác một vai trò khác. Cung vị tổng luận cho thấy cùng một tổ hợp sao, khi đặt ở cung vị khác nhau, sẽ mang ý tượng khác hẳn. Tử Vi Phá Quân ở Sửu và Tử Vi Phá Quân ở Mùi là ví dụ rõ nhất: cùng sao mà khác chuyện.


Định Nghĩa Cung Vị Và Cung Chức

Trong Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa phái, khái niệm "cung" được phân biệt thành hai loại: cung vị và cung chức.

Định nghĩa của cung vị và cung chức ít nhất có ba tầng nghĩa như sau:

  1. Cung vị và cung chức có sự phân biệt về hàm nghĩa mang tính chuyên thuộc.
  2. Trong các hàm nghĩa mang tính chuyên thuộc ấy, cung vị và cung chức còn phân biệt "tính tuyệt đối" và "tính tương đối".
  3. Cung chức và cung vị còn có hàm nghĩa "tính tổng hợp" và "tính tác động lẫn nhau".

Về cách gọi, cung chức (tức cung mệnh, cung huynh đệ, cung tử nữ...) trong bộ sách này thường được gọi tắt là "cung"; riêng 12 cung vị địa chi vẫn được viết theo thói quen là "cung Tí", "cung Sửu"..., khi đọc xin hiểu là "cung vị Tí", "cung vị Sửu". Các trường hợp khác được viết là "cung vị" có lúc là gọi chung cả hai tính năng cung vị và cung chức, nhưng phần lớn là dùng để chỉ vị trí số của các cung chức, như sẽ trình bày ở phần sau.

"Cung chức" và "cung vị" sau khi được định vị trên "tịnh bàn địa chi" (tức bàn cố định) và đã định xong 12 cung chức thì:

  • Thiên can được an trước địa chi.
  • Khi bàn về sự tình của con người, 12 cung chức được bài bố theo thứ tự nghịch chiều kim đồng hồ. Cung vị và cung chức đã định thì việc luận lí lẽ và định cát hung mới được hình thành.
  • Các sao Nam Đẩu, Bắc Đẩu mới có trú sở cố định.
  • Phương vị đã định thì sự tác động giao dịch lẫn nhau xuyên suốt giữa cung với cung, giữa sao với sao mới có, và phép luận mệnh mới lập được khung kết cấu.
  • Dùng thiên can để bài bố tứ hóa là biểu thị hiện tượng diễn biến ảo hóa vô cùng.
  • Không gian và thời gian được định vị.

Cho nên cung chức và cung vị có liên quan rất mật thiết với phi tinh tứ hóa; người mới học Bắc phái Tử Vi Đẩu Số thường rất dễ bỏ sót, hoặc không biết rõ sự biến hóa qua lại giữa chúng.

Hàm nghĩa có tính chuyên thuộc của cung chức

Tử Vi Đẩu Số tuy là học thuyết của Đạo gia, nhưng về mặt thiết kế, toàn bộ chỉnh thể đều lấy "con người" làm đối tượng biểu hiện. Theo quan niệm của Đẩu Số, đời người sẽ tiếp xúc với 12 phạm trù, định thành 12 cung chức. Gọi là "chức" là để phân biệt các phạm trù của sự việc: có chức danh mới được phú cho công năng. Nói cách khác, có chức danh mới có công năng và phạm vi của vấn đề thực tế; giữa chúng với nhau giống như thái cực âm dương lưỡng nghi.

Mười hai cung chức, từ cung mệnh đếm nghịch, theo thứ tự là: cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung tài bạch, cung tật ách, cung thiên di, cung nô bộc, cung quan lộc, cung điền trạch, cung phúc đức và cung phụ mẫu. Mười hai cung của Đẩu Số vốn bắt nguồn từ Quả Lão Tinh tông; tên gọi 12 cung ban đầu của Quả Lão Tinh tông có hơi khác với Đẩu Số.

Có hai nguyên nhân khiến 12 cung chức được xếp theo chiều nghịch. Một là, Đạo gia chuộng âm, mà nghịch là âm. Hai là, từ xưa dòng thời gian vận chuyển theo chiều thuận, còn 12 cung sự tình của con người thuộc về "không gian" nên được bài bố theo chiều nghịch; một thuận một nghịch gọi là "thiên nhân tương dữ", nhờ đó mới có thể ảo hóa vô cùng. Nếu cũng đi theo chiều thuận thì chỉ có một tổ hợp đơn nhất, cho nên bày bố nghịch là một khái niệm rất quan trọng của Đẩu Số.

Hàm nghĩa có tính chuyên thuộc của cung vị

"Vị" là vị trí; cung vị tức là "tịnh bàn" của Tử Vi Đẩu Số. Cung vị của tịnh bàn là bất động, cố định. Tịnh bàn biểu thị phương hướng, dựa vào vòng chu thiên 360 độ chia đều làm 12 phần (mỗi phần 30 độ), tức là 12 phương vị địa chi. Như cung vị Ngọ luôn ở phía trên của tịnh bàn.

Vấn đề "xung" và "tam hợp" của địa chi chính là mối quan hệ góc độ giữa hai cung vị; có cung vị mới cấu tạo thành góc độ. Nếu cung vị Tí là 0 độ thì cung vị Ngọ là 180 độ; cho nên địa chi lục xung theo Tử Bình mệnh lí học là mối quan hệ: cung vị A trừ cung vị B bằng 180 độ. Nhưng trong Bắc phái Tử Vi Đẩu Số, mối quan hệ giữa cung vị Tí và cung vị Ngọ còn là mối quan hệ giữa "bản cung" và "đối cung". Ở đây có một điều cần lưu ý: rõ ràng quan hệ giữa Tí và Ngọ là quan hệ của cung vị, nhưng người ta lại gọi là "bản cung" và "đối cung", vì như đã nói ở trên, cung vị là bất động, còn 12 cung chức thì có thể động; "bản cung" và "đối cung" ở đây còn bao gồm cả nghĩa của cung chức.

Mười hai cung vị có thể chia ra như sau: Tí Ngọ Mão Dậu là tứ chính địa, hay "Tứ Tuyệt địa", hoặc "Tứ Bại địa"; Dần Thân Tị Hợi là "Tứ Sinh địa" hoặc "Tứ Mã địa"; Thìn Tuất Sửu Mùi là "Tứ Khố địa". Tí Ngọ Mão Dậu thuộc "thiên", vì "thiên" mở ra ở Tí. Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc "địa", vì "địa" đóng lại ở Sửu. Dần Thân Tị Hợi thuộc "nhân", vì đời người bắt đầu ở Dần.

Trong Tử Vi Đẩu Số, rất nhiều cách an đều lấy cung Dần làm điểm xuất phát; như an cung mệnh thì từ cung Dần đếm thuận đến tháng sinh, rồi đếm nghịch đến giờ sinh. Đó là vì đời người bắt đầu ở Dần. Nếu cung mệnh ở Dần, cung tài bạch ở Tuất, cung quan lộc ở Ngọ, thì góc độ Dần Ngọ Tuất gọi là tam hợp, còn gọi là tam phương; mà bất cứ nhóm tam hợp nào cũng đều có đủ "thiên, địa, nhân".

Tam tài "thiên, địa, nhân" hoàn bị thì mới có thể luận cát hung. Cho nên Hợi Mão Mùi cũng cấu tạo thành tam tài "thiên, địa, nhân". Nếu cung mệnh ở cung Mùi thuộc "địa", thì cung mệnh chịu ảnh hưởng của khí trường địa chi; "địa tải vật" (đất chở vạn vật), người này khá vất vả, bảo thủ.

"Tứ chính" vốn là bốn cung "mệnh, di, tử, điền"; nhưng khi gọi "tam phương tứ chính" thì tức là các cung tam hợp cộng thêm đối cung. Khái niệm "tam phương tứ chính" không giới hạn ở bốn cung "mệnh, tài, quan, di". Lấy cung tử nữ ở Hợi làm ví dụ, tam phương tứ chính của nó là "tử, nô, phụ, điền". Trong Tử Vi Đẩu Số, Tam Hợp phái đặc biệt chú trọng cách cục các sao ở tam phương tứ chính và tính độ miếu vượng lợi hãm; còn Tứ Hóa phái thì chú trọng phi tinh tứ hóa, xác định tứ chính của một cung nào đó là thể, còn tam hợp của cung đó là dụng. Cho nên bất kể thuộc lưu phái nào, phàm bàn về cát hung thành bại của các cung đều cần phải tham chiếu tam phương tứ chính.

Tính Tuyệt Đối Và Tính Tương Đối Của Cung Vị Và Cung Chức

Cung chức và cung vị đều có hàm nghĩa mang tính tuyệt đối và tính tương đối của chúng, như sau.

Hàm nghĩa có tính tuyệt đối và tính tương đối của cung chức

Lúc bày định 12 cung của mệnh bàn, đó là tiên thiên mệnh bàn, còn gọi là tịnh bàn. Nếu lấy cung mệnh là "1", mà cung mệnh tọa lạc ở cung Dần, thì đối với tiên thiên mệnh bàn, cung mệnh là "1" chính là "1". Cung mệnh chính là cung mệnh, ở đây là "tính tuyệt đối".

Nhưng theo thời gian lưu chuyển, cứ 10 năm lại chuyển hoán nhập vào một cung vị. Như âm nam dương nữ, đại vận đi nghịch, thì đại vận thứ hai nhập vào cung huynh đệ; lúc này cung huynh đệ của nguyên cục biến thành cung mệnh của đại vận này, còn cung mệnh của nguyên cục biến thành cung phụ mẫu của đại vận này. Cùng một lí, lưu niên bàn mỗi năm cũng hoán chuyển như vậy. Đây là cung chuyển hoán theo hạn vận, cũng là theo thời gian lưu chuyển, là tính tương đối: tức cung mệnh có thể biến thành 11 cung còn lại, và các cung còn lại cũng có thể biến thành 11 cung khác.

Một loại tính tương đối khác là y chiếu theo chủ đề đang xem xét: lấy cung vị chủ về việc đang nói tới là số "1", các cung còn lại theo nó mà thay đổi. Như hỏi về nhân duyên là ở cung phu thê của nguyên cục; lấy cung phu thê của nguyên cục lập thái cực, là số "1", thì cung phúc đức của nguyên cục biến thành "9", tức cung phúc đức của nguyên cục biến thành cung vị quan lộc của cung phu thê, cũng tức cung phúc đức là cung vị "khí số" của cung phu thê (nguyên cục). Như vậy vận hôn nhân của mệnh tạo đã có bộ phận trông coi. Lúc luận đoán thì cung phúc đức của nguyên cục là cung vị quan lộc của cung phu thê, do đó tình trạng sự nghiệp, hành vi, vận thế của người phối ngẫu có thể quan sát từ cung phúc đức của nguyên cục để tìm manh mối. Dạng cung phúc đức của nguyên cục biến thành cung vị quan lộc của cung phu thê gọi là cung chức hoán vị, trực tiếp chuyển hoán, thuộc tính tương đối, vì theo sự thay đổi của chủ đề đang luận đoán mà hoán vị.

Hàm nghĩa có tính tuyệt đối và tính tương đối của cung vị

Lúc tịnh bàn chia đều thành 12 phương vị, tức 12 phương vị địa chi, thì Ngọ chính là Ngọ, là phương Nam thuộc hỏa; lấy tịnh bàn để nói, tam phương của cung Ngọ luôn là Dần và Tuất. Đây là tính tuyệt đối.

Nhưng ví dụ người sinh năm Nhâm Tí, theo thời gian lưu chuyển, cung Tí có thể là lúc người này 1 tuổi, 13 tuổi, 25 tuổi... cho nên hàm nghĩa của cung Tí ở đây thực ra đã chuyển thành tính tương đối.

Còn một loại tính tương đối khác, đó là do sự ánh chiếu giữa phương vị với phương vị sản sinh. Vì không gian là một sự so sánh mà ra: không có bên trái thì đâu là bên phải? Sự ánh chiếu giữa phương vị với phương vị có liên quan mật thiết với Hà Đồ Lạc Thư. Nhưng loại tính tương đối này lấy cung vị để nói thì khá sâu kín. Nếu lấy cung vị làm chất, lúc cung chức nhập vào thì giữa phương vị với phương vị xảy ra sự ánh chiếu. Để cho rõ ràng hơn, ví dụ cung mệnh ở cung Tí là "1", bài bố nghịch chiều kim đồng hồ thì cung huynh đệ là "2", cung phu thê là "3", cung tử nữ là "4", cung tài bạch là "5"... Theo nguyên tắc "tam tam quy nhất" (3, 3 quy về 1), "nhất hàm tam, tam đồng ngũ" (1 gồm 3, 3 như 5), "tứ cửu chi dụng" (4, 9 làm dụng), có nghĩa là: "1" là cung mệnh, người phối ngẫu của mệnh tạo là cung phu thê "3", cung phu thê của người phối ngẫu là cung tài bạch "5", vì vậy cung tài bạch giống như cung mệnh của mệnh tạo. Cho nên cung tài bạch là cung vị đối đãi của phu thê.

Nói "tam tam quy nhất" cũng là nói cùng một sự kiện, vì từ cung mệnh (1) đếm đến 3 là cung phu thê, từ cung phu thê (3) đếm đến 3 là cung tài bạch (5), cho nên cung tài bạch cũng quy nhất (1).

Cung Vị Tổng Luận

Ngũ hành của Thiên Tướng thuộc Nhâm thủy (dương thủy), mà nữ mệnh thuộc âm, là âm dương điều hòa; còn nam mệnh Thiên Tướng là dương với dương, tạo thành độ thiên lệch. Tại sao "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Mùi sẽ nặng quan niệm truyền thống gia đình hơn trường hợp "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu? Đó là vì cung Mùi có hỏa, mà hỏa là chủ về "lễ", là một khâu trong đạo lí luân thường. "Tử Vi, Phá Quân" tọa thủ cung quan lộc ở Sửu hoặc ở Mùi còn có sự phân biệt thành tựu cao thấp, và còn có sự phân biệt về trình độ tu dưỡng đạo đức. Nếu chưa nghiên cứu tìm hiểu kĩ huyền nghĩa của cung quan lộc, thì sẽ xuất hiện rất nhiều luận giải mơ hồ, bởi vì cung quan lộc là then chốt chung của lãnh vực tinh thần, cũng là nơi tàng chứa tư tưởng tình cảm, khí tiết, trí tuệ, học vấn.

Lấy trường hợp "Tử Vi, Tham Lang" tọa thủ cung tật ách ở Mão hoặc ở Dậu làm ví dụ. Ông A có "Tử Vi, Tham Lang" tọa thủ cung tật ách ở Mão, vậy ông A là người dâm đãng? Lúc "Tử Vi, Tham Lang" bị giấu ở cung tật ách, đó là tính ẩn, không thể hiện ra bên ngoài. Ngoài ra, ngũ hành của Tham Lang thuộc Ất mộc, mà ở cung Mão chỉ có lợi cho khí Giáp mộc trong Tham Lang; còn ngũ hành của Tử Vi thuộc thổ thì bị khắc chế. Tham Lang tuy có khí đào hoa, nhưng ngũ hành thủy của đào hoa đã bị mộc của cung Mão hấp thu, cho nên chỉ ham muốn học hỏi để tăng thêm kiến thức và ưa thích văn nghệ. Vì vậy, người này ngầm ngạo mạn về sự hiểu biết của mình, mà không phong lưu, cũng không có tính phách lối, thích ra oai của Tử Vi, mà có tính toán kế sách (dương mưu) của ngũ hành dương mộc, chớ không phải kiểu "âm mưu" của Ất mộc.

Người Tử Vi thủ mệnh ở cung Tí có nhiều khuynh hướng tính cách khác nhau, do liên quan đến cát tinh, hung tinh đồng cung và tứ hóa, còn có thể vì liên quan đến can của cung Tí. Ví dụ như người có can cung Tí là Nhâm (Nhâm Tí) rất có nghị lực, ý chí phấn đấu mạnh mẽ, thường thường có đủ kiên nhẫn, tinh thần không dao động và thái độ thực dụng để ứng phó với hoàn cảnh; còn người có can cung Tí là Mậu sẽ có tạo tác kinh người, tức là một khi có thành tựu thì cả thiên hạ đều biết tên, nhưng về phương diện tính khí thì lại thiếu ổn định; người có can cung Tí là Bính thì ít nhiều cũng có khuynh hướng hấp tấp, lo lắng, cũng có thể sẽ vì đạt mục đích mà bất chấp thủ đoạn; người có can cung Tí là Canh có phong thái của đại tướng, nhưng cực kì cố chấp... Còn đặc tính chung của nó là kiên trì với những gì mình cho là đúng, tức là nói, người có can cung Tí là Canh sẽ tìm lí do cho việc cố chấp nguyên tắc của mình.

Như đã biết, cung điền trạch còn đại biểu cho nơi làm việc. Lấy "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi làm ví dụ, cung điền trạch tất sẽ thấy Thái Âm tọa thủ cung Thìn hoặc Tuất. Trước tiên, điều khiến người ta cảm thấy đáng tiếc là: Thái Âm ở cung Thìn cũng giống như mặt trăng mọc vào ban ngày; còn Thái Âm ở cung Tuất thì giống như vầng trăng sáng. Tại sao có sự khác biệt này? Đương nhiên, nếu luận về sự nghiệp và công việc, trước tiên phải xem Thái Dương ở cung vị nào. Lúc Thái Âm tọa cung Thìn là cung điền trạch, vậy Thái Dương tất sẽ mất sáng ở cung Tuất; lúc Thái Âm ở cung Tuất, vậy Thái Dương sẽ tọa cung Thìn và tỏa sáng vạn trượng. Đó cũng là nói, người "Tử Vi, Phá Quân" tọa cung Sửu thường thường làm việc ở cơ cấu tư nhân dạng lớn, hay công ty lớn; còn người "Tử Vi, Phá Quân" ở cung Mùi có thể làm việc trong cơ cấu công, nơi làm việc cũng thuộc loại "rất lớn". Thái Âm chủ về những nghề nghiệp có liên quan đến kinh tế, tài chính, tiền tệ, và những nghề nghiệp liên quan đến đất đai, tài sản, cho thuê.

Tại sao "Tử Vi, Phá Quân" ở cung Sửu và cung Mùi lại có điểm tượng hoàn toàn khác nhau như vậy? Bởi vì ngũ hành của cung Sửu lấy thổ làm chủ, tạp khí của nó kế đó là kim và thủy; còn cung Mùi cũng lấy thổ làm chủ, kèm tạp khí là Đinh hỏa và Ất mộc. Tử Vi thuộc thổ, có thể ước thúc, khống chế thế phá hao dữ dội của Phá Quân, khiến cho nó đi vào khuôn phép; mà thổ của cung Sửu và cung Mùi còn trợ giúp Tử Vi mạnh thêm để điều khiển Phá Quân thủy; cung Mùi còn có khí Đinh hỏa điều tiết Phá Quân Quý thủy; còn khí Tân kim và Quý thủy của cung Sửu sẽ trợ giúp khí thủy của Phá Quân.

Tuy đều bị Tử Vi và ngũ hành thổ của cung vị điều khiển, nhưng Phá Quân ở cung Mùi khá hợp với quy phạm và tuân theo phép tắc, phương thức hành sự biết tiết chế. Đó cũng là nguyên nhân người "Tử Vi, Phá Quân" tọa thủ cung Mùi có nhiều cơ hội làm việc trong cơ cấu công hoặc cơ cấu có kỉ luật nghiêm ngặt; họ có thái độ làm việc khá nghiêm túc, cẩn thận, dù đi làm cho cơ cấu tư nhân cũng rất tuân thủ nguyên tắc, phần nhiều xử sự hơi thiếu tình người (tại sao?). Bởi vì người "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Sửu thường thường có nhiều kinh nghiệm đời, thấu hiểu nhân tình thế thái, thực tế, sùng thượng giai cấp, chú trọng địa vị xã hội; còn người "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh ở cung Mùi thì có thể bảo vệ người nhà của mình, củng cố thành viên gia đình từ trong ra ngoài. Người "Tử Vi, Phá Quân" ở cung Sửu thường thường là từ ngoài vào trong, tức là phải được người ngoài khẳng định, tán thưởng, rồi mới làm theo yêu cầu của người nhà. Người ở cung Mùi lo cho người thân và gia đình trước, để bản thân sau này khỏi phải lo lắng, rồi mới rình rang hướng ra ngoài phát triển. Tại sao cùng là "Tử Vi, Phá Quân" mà họ có quan niệm khác nhau như vậy?

Ngoài ra, người Thiên Tướng thủ mệnh ở cung Hợi sẽ luôn chịu thua thiệt trong tình cảm và tình yêu; người "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Dần, đối với tình yêu, họ lại thường cho rằng chuyện tình sau sẽ càng đẹp hơn. Tại sao vậy?


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn