Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Khái Niệm Cung Phi Hóa Và Cách Giác Sát Trong Tứ Hóa Phái

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa16/09/202628 phút đọc2 lượt đọc
Khái Niệm Cung Phi Hóa Và Cách Giác Sát Trong Tứ Hóa Phái

Phi hóa là phần làm nên tên gọi Phi Tinh của Bắc phái, và cung phi hóa được hiểu như cơ chế phản ứng, cơ chế phòng vệ hậu thiên của mệnh bàn. Điểm khác biệt ấy rất căn bản: tứ hóa năm sinh do trời sinh, còn phi hóa phản ánh cách mệnh bàn đáp lại hoàn cảnh, như ví dụ cung mệnh phi tứ hóa cho thấy. Song hành với khái niệm này là Cách Giác Sát, thuật ngữ dùng chung cho phong thủy, Bát Tự Tử Bình và Tử Vi Đẩu Số, chỉ những hiện tượng xảy ra đột ngột. Trong Đẩu Số, cách này hình thành khi các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu phi Hóa Kỵ vào Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Điều bất ngờ là quy tắc ấy không riêng Hóa Kỵ mà dùng chung cho cả bốn hóa diệu.


Khái Niệm Cung Phi Hóa

Vấn đề cung phi hóa là một lãnh vực thuộc trình độ cao cấp của Tử Vi Đẩu Số. Có thể nói "cung phi hóa" là "cơ chế phản ứng", "cơ chế phòng vệ"; cổ nhân cho rằng tứ hóa năm sinh là tứ hóa tiên thiên, còn "cung phi hóa" là tứ hóa hậu thiên. Nhưng bất luận gọi thế nào thì cũng đều là để tiện lợi trong việc giải thích, điều quan trọng là phải hiểu cho chính xác, và có thể ứng dụng một cách linh hoạt mà không gây ra mâu thuẫn. Xem xét hiện tượng cung phi hóa có thể luận đoán sự đa dạng hóa của nhân tính, cũng có thể thấy được sự phức tạp trong mỗi một con người, như cảm tính, lí tính, cố chấp, yếu đuối, đa tình, bạc tình và lúc "tự ngã" mâu thuẫn... Mà những hiện tượng này thường thường cũng là yếu tố quyết định tình trạng vinh nhục, sướng khổ trong sự nghiệp, và tình trạng nhiều ít, thịnh suy của tiền của tài phú.

Các sao bay vào các cung là đã định ra "hình thái" nào đó cho cuộc đời của một người. Mỗi một người đối với "hình thái cuộc đời" tương quan với mình sẽ có những phản ứng khác nhau, vì có phản ứng khác nhau mà hành hạn sẽ khác nhau. Cho nên, muốn tinh thông Tử Vi Đẩu Số, thì phải tìm hiểu động thái cung phi hóa. Động thái cung phi hóa (tứ hóa hậu thiên) có hai loại, một là, lúc can cung làm cho sao trong cung tự hóa; hai là, đồng thời sẽ làm cho tam hóa hay nhị hóa còn lại phi nhập các cung khác, hoặc vốn không xảy ra tình hình tự hóa, mà cả tứ hóa đều phi nhập các cung khác, gọi chung là "phi hóa".

Người chưa từng đọc về nguyên tắc cung vị "tự hóa" và "phi hóa", lần đầu gặp phải sẽ cảm thấy rất sâu xa và khó hiểu. Thực ra, như đã nói, có thể xem "tự hóa" và "phi hóa" là phản ứng hay phản xạ theo quán tính. Ví dụ, lúc lá bố xong một mệnh bàn, thấy can cung Tí khiến cho sao ở cung Tuất Hóa Kị, về thuật ngữ đây gọi là "cung Tí phi Hóa Kị nhập cung Tuất", giả thiết cung Tí là cung mệnh, thế thì cung Tuất ắt phải là cung phu thê; giả thiết cung Tí là cung quan lộc, thế thì cung Tuất nhất định là cung phúc đức; các hiện tượng "phi hóa" như vậy có thể xem là phản xạ theo quán tính của mệnh tạo. Mỗi một người sẽ có kiểu phản xạ theo quán tính khác nhau (ví dụ: có người sẽ là cung Tí phi Hóa Quyền nhập cung Tuất, cũng có người phi Hóa Lộc nhập phu thê...); nhưng trường hợp cung mệnh phi hóa nhập cung phu thê thì gọi là từ "ngã cung" phi nhập "tha cung"; còn trường hợp cung quan lộc phi hóa nhập cung phúc đức thì gọi là từ "ngã cung" phi nhập "ngã cung", ý nghĩa rất khác nhau.

Lấy trường hợp cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê làm ví dụ, đây là phản xạ theo quán tính của mệnh tạo, nhưng tác dụng của phản xạ này chỉ phát huy hiệu quả (gây tác động hay chịu tác động) sau khi quan hệ vợ chồng đã thành lập. Nếu cung Tí là cung phu thê, thì cung Tuất là cung tài bạch, từ cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, có thể đoán sau khi quan hệ vợ chồng đã thành lập, mới thấy mối quan hệ "tha cung" phi Hóa Kị nhập "ngã cung", và sức ảnh hưởng của phi Hóa Kị. Trước khi tìm hiểu sâu thêm khái niệm "phi hóa", trước tiên chúng ta phải nắm vững những vấn đề sau đây: khái niệm "ngã cung" và "tha cung"; và, mệnh bàn sẽ tùy theo thời gian thay đổi (đại vận bàn) mà chuyển động, nhưng một khi hiệu ứng phi hóa xảy ra, tất sẽ tạo thành hiệu ứng cát hung họa phúc giữa các cung của mệnh bàn nguyên cục. Nắm vững khái niệm này mới có thể hiểu được mệnh bàn gây ra hiệu ứng gì, cũng trên cơ sở này, chúng ta mới có thể nghiên cứu tỉ mỉ mức ảnh hưởng của mối quan hệ phi hóa giữa các cung của thiên bàn (mệnh bàn nguyên cục).

Ví dụ như: lúc hành hạn đến cung Thìn (cung quan lộc của thiên bàn), vậy cung Tí là cung tài bạch của đại vận (cung mệnh của thiên bàn). Can cung tam hợp của đại vận phi hóa cũng tương tự như can cung mệnh của đại vận phi hóa (vì mệnh, tài, quan là ba mặt của một thể), phản xạ theo quán tính của cung Tí (cung mệnh của thiên bàn) là phi Hóa Kị nhập cung Tuất (cung phu thê của thiên bàn), cho nên lúc luận mệnh, có thể thấy trong vận hạn này, giữa mệnh tạo và người phối ngẫu sẽ xảy ra va chạm, thậm chí bất hòa. Cùng một lí lẽ, hành hạn đến cung Thân cũng xảy ra tình huống cung Tí phi Hóa Kị nhập cung Tuất, cũng sẽ xảy ra tình trạng vợ chồng không hợp nhau. Cho nên lúc luận mệnh bắt buộc phải tìm hiểu ý tượng của quan hệ phi hóa giữa các cung của thiên bàn.

Lại lấy trường hợp cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê để thảo luận. Giả thiết cung mệnh phi Hóa Lộc nhập vào một trong số các "ngã cung" của cung phu thê như cung mệnh, cung phụ mẫu, cung phúc đức, cung nô bộc, hay cung thiên di của thiên bàn (tức là cung vị phúc đức, cung vị điền trạch, cung vị quan lộc, cung vị tật ách, hay cung vị tài bạch của người phối ngẫu). Đứng ở lập trường của người phối ngẫu để nói, là hợp lí, có thể tiếp nhận được, thậm chí mối quan hệ giữa Hóa Lộc và Hóa Kị là có lợi; nhưng đối với mệnh tạo mà nói, nhất định là mất điểm, thậm chí còn bị tổn thất (bởi vì bất kể Hóa Lộc nhập "ngã cung" hay "tha cung", một khi Hóa Kị nhập cung phu thê, đều là hiện tượng không hợp lí). Trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập "ngã cung" của mệnh tạo, còn phi Hóa Kị nhập cung phu thê, mà không thấy vợ chồng cãi nhau mới lạ.

Cho nên trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập "ngã cung", còn phi Hóa Kị nhập cung phu thê, có thể luận giải là: có thái độ quan tâm lí tính, hoặc là thái độ quan tâm chăm sóc không hợp lí, giống như cách vợ chồng đối đãi mà người ta thường nói "đánh là thương, mắng là yêu"; mang những điều không vừa ý trong cuộc đời trút giận lên đầu người phối ngẫu; nhiều lúc mệnh tạo đơn phương nỗ lực vì người phối ngẫu, nên cho rằng người phối ngẫu phải chia sẻ hoặc nhận chịu phúc họa với mình; vì vậy khư khư mang tác động của Hóa Kị đến cung phu thê chôn chặt ở đó (Hóa Kị là thu vào, kết thúc và gánh vác). Dù bản thân ở bên ngoài làm chuyện thấp hèn, cũng muốn người phối ngẫu âm thầm chịu đựng! Gọi là "quán tính", tức là phản xạ tự nhiên, cũng bị mệnh tạo coi đó là chuyện đương nhiên.

Lúc cung phu thê có Hóa Kị năm sinh là có hàm ý kết hôn muộn, chậm kết hôn, hoặc người phối ngẫu có gia cảnh không tốt (so với mệnh tạo), người phối ngẫu khá co cụm hoặc có khuynh hướng tự ti, thậm chí có thể nói người phối ngẫu là người không cởi mở. Nhưng nếu cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê thì sau khi quan hệ vợ chồng thành lập, lúc hành hạn đến đại vận nào đó có tứ hóa đại vận nhập cung mệnh, sẽ gây ra phản ứng dây chuyền từ cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê; nếu không, lúc bình thường ở vận thịnh, hai vợ chồng có thể rất hòa hợp.

Nếu cung mệnh phi Hóa Quyền nhập cung phu thê, thì mệnh tạo trao quyền cho người phối ngẫu dốc toàn lực ra làm việc công việc của mệnh tạo, hoặc mệnh tạo muốn người phối ngẫu đóng vai của người thực hiện để hoàn thành việc gì đó thay cho mình; có thể mệnh tạo cho rằng người phối ngẫu tất nhiên phải vì chuyện của bản thân mệnh tạo mà nhảy vào đầu sôi lửa bỏng. Nói một cách khác, mệnh tạo điều khiển người phối ngẫu, kiềm chế, ước thúc người phối ngẫu…, mà bất kể người phối ngẫu chịu nhận hay không, thậm chí cả trường hợp người phối ngẫu không có năng lực thực hiện, cũng phải chịu đựng sự bức bách và áp đặt của Hóa Quyền. Tác động của Hóa Quyền đến từ cung mệnh, cho nên đây là kiểu đối đãi không hợp lí, lúc xem về mối quan hệ giao du, là ý tượng: sẽ bức bách đối tượng mà mệnh tạo nhắm đến, hoặc mệnh tạo sẽ có tác phong "côn đồ" với đối tượng giao du.

Lúc quan hệ vợ chồng đã thành lập, giữa cung mệnh và cung phu thê mới có quan hệ đối ứng thực chất. Lúc cùng cực sẽ thấy công năng của cung phúc đức (là cung vị khí số của cung phu thê) tăng gia, là cung vị then chốt làm cho nhân duyên vợ chồng có tiếp tục hay không. Các sao ở cung phu thê đóng vai trò so sánh và quy chiếu với các sao ở cung mệnh, ví dụ như, thấy Hóa Lộc năm sinh thì sẽ mạnh hơn cung mệnh phi Hóa Lộc. Chỉ có một Hóa Lộc năm sinh trong mệnh bàn, trong khi đó, can của các cung khác sẽ khiến cho sao ở cung phu thê có cơ hội Hóa Lộc, vì vậy can cung nào đó phi Hóa Lộc nhập cung phu thê sẽ xảy ra hiện tượng khác với trường hợp có Hóa Lộc năm sinh. Phi hóa là phản ứng hay phản xạ theo quán tính, đó là lúc mệnh tạo nhận chịu những kích thích do vận hạn mang lại, đây là phản ứng tự nhiên của cung. Cho nên hậu quả của trường hợp cung phi hóa nhập cung khác là bao gồm đủ các loại hiệu ứng như: "hại người mà không có lợi cho mình", hoặc "có lợi cho mình mà hại người", thậm chí là "hại mình mà có lợi cho người".

Lấy trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê làm ví dụ, đó là mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu, mang hi vọng và lí tưởng kí thác nơi người phối ngẫu; cho nên lúc cung mệnh của đại vận vận chuyển trong mệnh bàn, đương nhiên sẽ lộ ra vết tích của tâm thức, khiến cho ý thức thầm kín biến thành hành vi đối đãi thực tế. Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị là bốn dạng động thái, khác với "thùy tượng" của các sao, chúng khá trừu tượng, tác động của chúng cũng không như "totem" của các sao. Lấy Vũ Khúc làm ví dụ, thuộc tính ngũ hành là kim, Hóa Lộc là "khí kim", tuy đều là "kim", nhưng "kim" của Vũ Khúc là có "tượng", còn Hóa Lộc là khí kim trừu tượng, vì nó là động thái, cho nên mới có tính nhập vào thể của sao cụ (làm biến đổi tượng của sao), làm cho tính chất của sao ứng nghiệm trong hiện thực theo tác động của Hóa Lộc!

Phi hóa là nhân tố do con người tạo tác, còn tứ hóa năm sinh là do trời sinh. Lấy trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê làm ví dụ, là ý thức của mệnh tạo dưới sự kích thích của hoàn cảnh sống vào thời điểm nào đó (hoặc thời kì nào đó) đã sinh ra phản xạ tự nhiên, nếu nói đó là tác động hậu thiên do con người tạo tác cũng được. Cho nên lúc cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê, tùy theo tính của sao nào hóa mà sinh ra các hiện tượng như tình yêu quan tâm chăm sóc, mong muốn người phối ngẫu được vui vẻ và hạnh phúc, hoặc cho bạc vật chất để người phối ngẫu hưởng thụ, kí thác hi vọng nơi người phối ngẫu, v.v… thậm chí có thể có ý đồ không tốt với người phối ngẫu. Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê là ý tượng: trước khi kết hôn có ước muốn lấy một người hoàn mĩ (xinh đẹp, giàu có, v.v…), mong muốn sớm có ngày thành thân, hoặc sớm tìm được người yêu, v.v… đây là ước muốn một chiều, không phải hai chiều (trừ phi cung phu thê tự hóa hoặc có tứ hóa năm sinh ở cung phu thê). Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê, trong trường hợp này không thể luận đoán người phối ngẫu là đa tình, giàu có, có phát mập hay không, hoặc người phối ngẫu có trợ giúp mệnh tạo trong sự nghiệp hay không, v.v… bởi vì chẳng liên quan gì đến các vấn đề này.

Cũng không được cho rằng, cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê thì một trăm phần trăm là mệnh tạo đối xử tốt với người phối ngẫu. Giả thiết cung mệnh phi Hóa Kị nhập "tha cung", bất kể là "Lộc đi theo Kị", hay là Hóa Kị xung kích "ngã cung", các trường hợp Hóa Lộc nhập cung phu thê này đều là "hư Lộc", có thể gây ra di chứng về sau. Ví dụ như, ông A mua nhẫn kim cương cho vợ, đó là mô thức hành vi của trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê, nhưng nếu tiền của ông A là do trộm cắp hay do nhận hối lộ, hơn nữa còn bị bắt điều tra, thế thì vợ của ông ta rất có thể vì vậy mà gặp họa, cho nên lúc xem xét tình hình cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê, đồng thời phải biết cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung nào, mới có thể luận đoán chính xác.

Cung tự hóa và phi hóa ngoại trừ trường hợp gọi là "phản xạ theo quán tính", còn có thể nói đây là cơ chế phòng vệ của cung, chính vì vậy mà sinh ra hiệu ứng thái quá hay bất cập, phối hợp với các hiện tượng khác (như tính chất của các sao trong cung) mà cấu tạo thành quỹ tích của mệnh vận.

Cung phu thê có Hóa Khoa năm sinh, là ý tượng: gia thế của người phối ngẫu hơn mệnh tạo, bất kể về dung mạo, tài năng, hay học thức, công phu hàm dưỡng, thảy đều khá tốt. Bởi vì Hóa Khoa còn là lớp vỏ phòng hộ, cho nên Hóa Khoa năm sinh ở cung phu thê là đã thuyết minh rằng, người phối ngẫu chăm lo cho mệnh tạo (sau khi quan hệ vợ chồng thành lập). Nói một cách khác, người phối ngẫu hiểu biết và có lí trí hơn mệnh tạo (so với cung mệnh); dựa trên quan điểm này, cũng có thể cho rằng người phối ngẫu là quý nhân của mệnh tạo. Vì cung phu thê có Hóa Khoa năm sinh, cho nên có thể đoán rằng mệnh tạo nhất định sẽ thành thân, không phải là sẽ sống một mình, còn về vóc dáng của người phối ngẫu thì phải nhìn mệnh tạo mà định, tương đối gầy hơn mệnh tạo.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phu thê sẽ sinh ra hiện tượng khác với trường hợp Hóa Khoa năm sinh ở cung phu thê, bởi vì đó là quan hệ đối ứng xảy ra sau khi đã thành vợ chồng, chính là thái độ đối đãi với người phối ngẫu khi gặp chuyện. Đây là phản xạ theo quán tính, vì vậy không liên quan đến gia thế hay xuất thân của người phối ngẫu, cũng chẳng liên quan đến việc người phối ngẫu có tài cao học rộng hay không, có khí chất văn nhã hay không, càng không thể luận đoán càn là có đào hoa ở bên ngoài sẽ bị người phối ngẫu bắt được quả tang.

Cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phu thê, là có hành vi quan tâm chăm sóc và che chở, hoặc che giấu người phối ngẫu, để người phối ngẫu yên tâm, tức là giúp người phối ngẫu giải quyết vấn đề tai ách, mệnh tạo có biểu hiện trung thực, khẳng khái, bình hòa, theo sát vấn đề (không giống như trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Kị nhập cung phu thê, là tình cảm kích động, thiên lệch, và khó gần gũi), tình huống xấu nhất là mong người phối ngẫu xuất thủ trợ giúp mình. Đây là xuất phát từ sự hiểu biết, lí trí, và sự quan tâm của mệnh tạo, chẳng liên quan gì đến tình trạng người phối ngẫu có hiểu biết, có lí trí hay không, mà chỉ đơn phương cho ra (còn việc người phối ngẫu có tiếp nhận hay không là chưa nói tới), trong đó cũng có hàm ý dạy dỗ người phối ngẫu. Ở đây cần nhắc lại một điều, sau khi mối quan hệ vợ chồng thành lập, hiện tượng cung mệnh phi hóa nhập cung phu thê mới có ý nghĩa, và cung mệnh cũng không phải là "con nhạn bay trên trời truyền thư cho người phối ngẫu", mà chỉ là lúc gặp chuyện tất sẽ có phản ứng.

Lúc cung tam hợp của đại vận mà gặp nó, hoặc lúc các cung tài quan của đại vận có tứ hóa khơi động hoặc xung khắc cung mệnh, mới xảy ra hành vi của cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phu thê, tức là lúc gặp chuyện bất kể là tốt hay xấu đều sẽ dẫn đến phản ứng dây chuyền này. Sau khi tình hình này kiến lập, mới tìm hiểu xem: cung mệnh phi Hóa Lộc và Hóa Kị chia ra nhập "tha cung", Hóa Khoa nhập cung phu thê; hay Hóa Lộc nhập "tha cung" (hay "ngã cung"), Hóa Kị nhập "ngã cung" (hay "tha cung"), còn Hóa Khoa nhập cung phu thê. Các trường hợp này đều rất có ý nghĩa, bởi vì sẽ xuất hiện các hiện tượng khác nhau; mà nghĩa rộng của trường hợp cung mệnh phi Hóa Khoa nhập cung phu thê cũng bao hàm ý tượng: chu cấp tiền bạc một cách hợp lí cho người phối ngẫu, khác nhau rất xa so với lúc cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê là không có lí tính!

Đối với mệnh tạo mà nói, hiện tượng phản ứng của cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê không phải là mô thức hành vi "lợi kỉ". Trong tình huống Hóa Kị nhập "tha cung", đối với mệnh tạo mà nói là rất đáng tiếc. Như đã thuật ở trước, lúc cung phu thê có Hóa Kị năm sinh, hoàn cảnh ra đời của người phối ngẫu rất có thể là không bằng mệnh tạo, tính tình của người phối ngẫu cũng không cởi mở; do Hóa Kị xuất hiện trong cung phu thê, so sánh và quy chiếu với cung mệnh, người phối ngẫu sẽ hay nghi ngờ mệnh tạo. Có thể mệnh cách của người phối ngẫu không có hiện tượng này, nhưng chỉ cần kết hôn với mệnh tạo, sau khi ở trong hoàn cảnh tiếp xúc nhau lâu ngày, dần dần sẽ dung nhập vào phạm vi khí trường theo cấu trúc của mệnh tạo. Nói một cách khác, bản thân người phối ngẫu phải đủ điều kiện mới nhập vào được cung phu thê của mệnh tạo, tức có "duyên nợ" hai người mới có thể kết thành vợ chồng. Cùng một lí lẽ, cung phu thê có Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa năm sinh, đều là người có thể lấy vợ (chồng), người không đủ điều kiện thì sẽ bỏ đi. Trong tứ hóa năm sinh, trường hợp Hóa Kị năm sinh là có sự buồn bã, lấy một người buồn bã không phải là điều dễ dàng, cho nên mệnh tạo thường kết hôn muộn, đây là hiện tượng rất tự nhiên.

Trường hợp cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê, không liên quan gì đến hiện tượng kết hôn sớm hay kết hôn muộn. Như chúng ta đã biết, trong trường hợp này phải sau khi hôn nhân thành lập hoặc đã có quan hệ vợ chồng xảy ra mô thức hành vi này; hơn nữa, trong quá trình hành hạn, sao ở cung mệnh phải được khơi động hoặc lúc cung mệnh trùng điệp với cung tam hợp mệnh, tài, quan của đại vận, mới có thể phi Hóa Kị nhập cung phu thê. Mà phi Hóa Kị nhập cung phu thê là mô thức hành vi đối đãi của mệnh tạo đối với người phối ngẫu, nó chẳng liên can gì đến tình trạng người phối ngẫu có gia thế tốt hay không, người phối ngẫu cũng có thể là người được mọi người kính trọng, vui vẻ khi tiếp cận. Hiện tượng của trường hợp cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê có thể là ý tượng: mệnh tạo nghi ngờ người phối ngẫu, cũng có thể là ghen tuông; tình huống tốt nhất đối với người phối ngẫu là cung mệnh phi Hóa Lộc nhập "ngã cung" của cung phu thê, khiến kết cục của trường hợp cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê thành có lợi cho người phối ngẫu, nhưng không nhất định sẽ bất lợi đối với mệnh tạo.

Trong tình huống này vợ chồng có li dị không? Người phối ngẫu cần phải có điều kiện gì để chịu đựng? Giả thiết cung phu thê có Hóa Khoa năm sinh hoặc tự Hóa Khoa, vậy có thể hóa giải những yêu cầu và cách đối đãi vô lí của mệnh tạo không? Tình hình này giống như "dùng bốn lạng để đánh bạt ngàn cân"; nhưng nếu cung phu thê có Hóa Quyền năm sinh, thì lúc xảy ra sự cố sẽ có cãi vã, nhưng không li hôn, tức là Hóa Lộc năm sinh sẽ bị Hóa Kị của cung mệnh phá, người phối ngẫu tuy sẽ cảm thấy khó vượt qua những điều đáng tiếc này, nhưng đối với mệnh tạo mà nói, sự mất mát sẽ lớn hơn. Đây là cấu tạo điều kiện để li hôn hoặc chia tay, tốt nhất là nên xem xét cung phúc đức, để tìm đáp án.

Hóa Lộc năm sinh ở cung phu thê là ý tượng: sau khi kết hôn mệnh tạo mới bắt đầu xem trọng và thấu hiểu tính quan trọng của sự nghiệp, tiền bạc. Bởi vì Hóa Lộc đóng ở đối cung của cung quan lộc, khiến các sao ở trong cung quan lộc có hướng để gây ảnh hưởng về tinh thần, cho nên mới nói "xem trọng" và "thấu hiểu". Nhưng nếu cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê thì khác, đây là tình cảm của mệnh tạo hướng về người phối ngẫu, với tấm lòng tốt, thậm chí cho người phối ngẫu cùng hưởng tài phú của mình. Mô thức hành vi này nếu dùng để nâng cao địa vị xã hội của mệnh tạo, thì không có ý nghĩa thực tế; vì nếu mệnh tạo đang ở tầng lớp cùng cực, thì làm gì có địa vị xã hội mà nói, do đó đây chỉ đơn thuần là thái độ đối đãi giữa vợ chồng. Trong cổ thư giải thích Hóa Kị có hàm nghĩa là "trói buộc", thực ra từ cung mệnh phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa nhập cung phu thê, đều có tính trói buộc, chỉ là thái độ và cách biểu hiện khác nhau mà thôi. Nhưng tính trói buộc của Hóa Kị mạnh hơn tam hóa còn lại, tuy cũng chấp trước hình tướng ở cung phu thê, nhưng Hóa Kị còn muốn lấy cung phu thê làm cung vị quy thuộc của Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, cho nên độ "dính" (trói buộc) của nó thường sẽ khiến người phối ngẫu chịu không thấu, cảm thấy nặng nề khó mà chấp nhận!

Giả thiết cung mệnh chia ra phi Hóa Quyền và phi Hóa Kị, hoặc phi Hóa Lộc và phi Hóa Quyền, hoặc phi Hóa Khoa và phi Hóa Kị đều nhập hai cung, thậm chí là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Kị đều nhập cung phu thê, thì sẽ thấy rất náo nhiệt, trong đó cũng ngầm báo mệnh tạo sẽ "bắt cá hai tay", và mệnh tạo cũng rất thương yêu và quan tâm người phối ngẫu (người cung mệnh phi Hóa Quyền và phi Hóa Kị cùng nhập cung phu thê, những ngày tháng làm người phối ngẫu của họ làm sao tốt được?).

Trong Tứ Hóa phái, cung phu thê tượng trưng cho khá nhiều tầng ý nghĩa. Xét từ tầng ý nghĩa cạn nhất, cung phu thê đại biểu cho người phối ngẫu; xét từ tầng ý nghĩa sâu nhất, đó là về phương diện tâm lí, nó có thể tượng trưng cho quan niệm hay cách chọn lựa người phối ngẫu, định các điều kiện thành lập hôn nhân, và còn có thể đoán ra mệnh tạo có nhiều hay chỉ có một người phối ngẫu, kết hôn bao nhiêu lần (nam nữ có nhiều quan hệ sống chung đều được xem là hôn nhân, như vợ chồng có kết hôn). Vì cung phu thê có tính so sánh và quy chiếu với cung mệnh, nên phải xem phối hợp với cung mệnh, do đó có thể đoán được cách đối đãi của mệnh tạo đối với người phối ngẫu trong cuộc sống hôn nhân. Một góc độ khác của cung phu thê theo nghĩa rộng là, "có chồng thì phải có vợ", tức phải có hai người, do đó sau khi quan hệ hôn nhân thành lập, cung phu thê ngoài việc chủ về người phối ngẫu, còn có bản thân mệnh tạo trong đó, cũng là biểu trưng cho hợp thể của hai người; đồng thời, các sao trong cung phu thê tuy tưởng như không phải của mệnh tạo, nhưng thực ra sau khi quan hệ vợ chồng thành lập, mệnh tạo sẽ gián tiếp có các tính chất của các sao trong cung này.

Như đã thuật ở trên, cung phu thê trước và sau khi hôn nhân thành lập sẽ có sự biến hóa khá lớn, và hai góc độ phân tích này tất nhiên cũng sẽ khác nhau. Đặt trên nền tảng lí luận này, hiện tượng cung phu thê phi hóa đương nhiên sẽ sinh ra rất nhiều "thùy tượng" và có các hướng tác động khác nhau. Hiện tượng phi hóa cũng có thể thay đổi trước và sau khi hôn nhân thành lập. Xét ở một góc độ khác, đó là sự điều chỉnh khi hôn nhân thành lập, có thể trước khi hôn nhân thành lập phải trải qua khổ nạn; cũng có thể là người phối ngẫu trợ giúp hay có ảnh hưởng đến mệnh tạo, hoặc sau khi hôn nhân thành lập mệnh tạo có được động lực mới; cũng có thể cuộc hôn nhân này tạo ra áp lực đối với mệnh tạo, đó có thể là, trước khi hôn nhân thành lập thì thử thách, còn sau khi hôn nhân thành lập thì ước thúc, bó buộc mệnh tạo. Nhưng nhiều lúc, hiện tượng trong cung phu thê phi hóa hay tự hóa rất có thể là chủ về có người thứ ba, độ ổn định của hôn nhân, hoặc cách nghĩ của mệnh tạo hay cách nghĩ của người phối ngẫu về tình yêu, v.v…

Cách Giác Sát Là Gì?

Liên quan đến thuật ngữ "Cách Giác Sát" (陽角煞 — Cách giác có nghĩa là "góc nhọn ngăn cách"), đại khái có ba lãnh vực: một là phong thủy; hai là Bát Tự Tử Bình; ba là Tử Vi Đẩu Số.

Trong phong thủy, bất luận nhà ở hay cửa tiệm, nếu cửa chính đối diện thẳng với một góc hình tam giác hoặc một vật thể nhọn, nhìn giống như đầu mũi tên bắn đến, gọi là "Tiễn Sát"; nếu hướng góc của nhà khác đâm thẳng vào cửa chính, tức có ý xâm phạm, gọi là "Tiêm Giác Sát" hoặc "Giác Sát cách".

Trong Bát Tự Tử Bình, nếu người sinh vào ngày Tí, giờ Tuất; ngày Sửu, giờ Mão; ngày Thìn, giờ Sửu; ngày Ngọ, giờ Mão; ngày Mùi, giờ Dậu; là chủ về thị phi, điều tiếng, tranh chấp, "quan phi" kiện tụng. Nếu gặp hình xung, ắt sẽ có "quan phi" đeo bám vào người, tai họa kiện tụng, lao ngục (tối kị có nguyệt chi và thời chi như trên, nhẹ nhất cũng là tranh cãi thị phi). Người mang Cách Giác Sát, cuộc đời dễ bị dính đến kiện tụng, lao ngục.

Trong Đẩu Số, Cự Môn là sao thứ 2 của Bắc Đẩu, thuộc âm thủy, tại số thì quản về thị phi, hóa khí làm "Nhật Dục" (ánh nắng mặt trời), còn gọi là "Cách Giác Sát". Cự Môn là "âm tinh" (tinh túy của âm khí), ở cung thân chủ về cuộc đời dễ chuốc thị phi, không hợp với lục thân (cần phải đặc biệt chú ý hóa khí của mỗi sao, vì nó có ý nghĩa rất súc tích, ví dụ như Cự Môn hóa khí làm "ám", biệt danh là "Cách Giác Sát", là ý tượng: sinh li tử biệt, ở hai nơi, duyên bạc). Ví dụ như cung phu thê rất sợ có Cự Môn, có Cự Môn thì gọi là Cách Giác Sát, Cự Môn là sao chủ về miệng lưỡi điều tiếng, xuất hiện ở cung phu thê phần nhiều chủ về tranh cãi, nếu có thêm Hóa Tinh hùa vào, thì giống như đổ dầu vào lửa.

Trên thực tế, Tam Hợp phái lấy tình của sao để quan sát, nhưng các sao bất kể là chính diệu hay phụ tá diệu, cát tinh hay sát tinh, cũng đều là "tượng", "tượng" thì chưa định cát hung, cho nên ở ví dụ trên, không thể chỉ vì cung phu thê có Cự Môn, thì nhất định sẽ chủ về vợ chồng thường hay cãi vã nhau.

Như đã biết, cung, sao, và tứ hóa của nguyên cục tiên thiên đều thuộc về thể, là "phục tượng", không có hậu thiên dẫn động thì sẽ không xảy ra cát hung. Do đó lúc quan sát mệnh bàn để luận đoán, không nên đưa ra định luận một cách khinh suất, mà cần phải xem xét tình hình lúc không gian và thời gian trùng điệp, trong đó có động thái phi cung hóa tượng mới có thể định luận.

Vậy phương pháp vận dụng Cách Giác Sát là như thế nào? Thực ra rất đơn giản. Phàm các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu phi Hóa Kị nhập các cung Dần, Thân, Tị, Hợi thì gọi là "Cách Giác Sát", hàm nghĩa của sát này không phải là hung sát hay có "quan phi", mà chủ về đột ngột, đột nhiên. "Cách giác" là cách một cung, nó chủ về hiện tượng phát đột ngột, không đơn thuần chỉ là "dịch mã". Nếu cung quan lộc của lưu niên ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu, mà phi Hóa Kị nhập các cung Dần, Thân, Tị, Hợi, thì chủ về sự nghiệp đột nhiên biến động. Nếu cung tài bạch ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu, mà phi Hóa Kị nhập các cung Dần, Thân, Tị, Hợi thì cấu tạo thành "Cách Giác Sát", là ý tượng: tiền bạc đột nhiên đến, có hoạnh tài.

Nếu cung nào đó phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa theo cùng quy tắc cách một cung như trên, cũng gọi là "Cách Giác Sát". Nhưng Hóa Kị chủ về biến động, là dịch mã đột nhiên đến, lúc xem về tài lộc thì tài đột nhiên đến, nhưng có thị phi, được nhưng vất vả. Còn Lộc chủ về tài lộc đến dễ dàng, nhẹ nhàng; Quyền thì chủ về được tài lộc mà vất vả, còn dễ bị tranh chấp; Khoa thì chủ về đắc tài lộc nhờ có quý nhân tương trợ. Các cung khác cứ theo đó mà suy ra, lấy cung chức để đoán hiện tượng gì đột nhiên xảy ra. Ví dụ như Cự Môn ở đất Tứ Mã, cũng gọi là "Cách Giác Sát", thường đột nhiên xảy ra thị phi, cuộc đời dễ phát đột ngột, cũng chủ về dịch mã bôn ba, đi xa hay ra ngoài đều là quyết định đột ngột, không lập kế hoạch trước.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa