Bài tổng quan
Ngũ tạng, thần khí và cái trong cái đục trên gương mặt
Thận mở ra ở tai, tim ở miệng, gan ở mắt, phổi ở mũi, tỳ ở môi: mỗi tạng có một cửa ngõ ra gương mặt. Một người thân gầy mà thần khí đầy như cây tùng, một người to béo mà bên trong rỗng như gỗ mọt, ai đi được xa hơn...
Mục lục · 8 phần
- 01Năm tạng, năm màu: mỗi tạng mở một lỗ ra gương mặt
- 02Thần sắc trong hay đục, vận mệnh sang hay hèn
- 03Thần giữ khí, khí giữ sắc
- 04Khí ở trong lòng, biểu hiện ra mặt
- 05Thịt có mà không có khí, thịt thực mà có khí
- 06Thần sắc sinh ở ngũ tạng: màu sống và màu chết
- 07Người có thần khí quý: mắt sáng, giọng vang, cốt cách như hạc bay
- 08Phân biệt khí sắc như tìm tuyết trên sương
Năm tạng, năm màu: mỗi tạng mở một lỗ ra gương mặt
Thiên nhất sinh Thủy ứng với thận. Thận giữ tinh và mở ra ở tai. Thủy ứng với màu đen; khí sắc của thận ra mặt mà hóa thành một màu đen đơn độc, gặp lúc mùa đông bị khí mùa hạ chen vào thì làm tổn thần của thận. Mặt bỗng đỏ như màu quýt, hoặc trên da hiện hỏa khí, thì người ấy hay gặp tai ương. Khí màu tím là màu hiển quý, người thường khó có, chỉ kẻ giàu sang tôn quý mới hiện. Màu vàng như sáp thì cát lợi; mùa đông hiện đen là đắc lệnh.
Địa nhị sinh Hỏa ứng với tim. Tim giữ thần và mở ra ở miệng; mùa hạ mà khí mùa đông chen vào thì hại tim. Hỏa ứng với màu đỏ. Khí sắc đỏ như lửa, phát ra thì tròn như hạt ngọc, là dấu của một tâm thần linh ứng. Khí sắc của con người hiện đủ trên gương mặt, nhưng màu Thổ mới là chính sắc; nếu màu đỏ không gặp thời thì người ấy thường phải đau lòng và sợ hãi.
Thiên tam sinh Mộc ứng với gan. Gan giữ hồn và mở ra ở mắt; mùa xuân mà khí mùa thu chen vào thì hại gan. Mộc ứng với màu xanh. Sắc mặt xanh như cây, như liễu non mới nhú. Trên mặt tốt nhất là không có sắc ấy, vì người mang nó thường lo toan mà việc không thành.
Địa tứ sinh Kim ứng với phổi. Phổi giữ phách và mở ra ở mũi; mùa thu mà khí mùa xuân chen vào thì hại phổi. Kim ứng với màu trắng. Khí sắc trắng như mỡ đông, khi hiện thì như suối trắng, như hoa lê, hay như lớp phấn của người con gái đổ mồ hôi mùa hạ, hoặc như sương trắng, thì người ấy có họa hình khắc, hao tài, gặp chuyện buồn rơi lệ.
Thiên ngũ sinh Thổ ứng với tỳ. Tỳ giữ ý và mở ra ở môi. Sắc vàng như sáp, tỏa quanh mặt, chóp mũi hiện vàng là người gặp thuận lợi. Nếu hiện đen, hoặc xanh, hoặc vàng lẫn lộn thì có tai ương; hiện đỏ thì nửa xấu nửa tốt.
| Hành | Tạng | Khiếu | Màu | Điềm báo |
|---|---|---|---|---|
| Kim | Phổi | Mũi | Trắng | Họa hình khắc, phá tài |
| Mộc | Gan | Mắt | Xanh | Làm việc gì cũng không thuận |
| Thủy | Thận | Tai | Tím | Nhất định hiển quý |
| Hỏa | Tim | Miệng | Đỏ dạng hạt | Tinh thần linh ứng |
| Thổ | Tỳ | Môi | Đỏ | Vận mệnh nửa xấu nửa tốt |
Thần sắc trong hay đục, vận mệnh sang hay hèn
Cùng một đôi mắt, một làn da, có người trong như nước suối, có người đục như nước ao.
Người có thần và sắc đều trong, lại thêm khí đục và khí trong giao nhau, chỉ cần một điểm thần quang phân tán rõ ràng, thì sẽ được chức quan cao. Thần khí của người ta trong cũng quý, đục cũng quý; trong đục giao nhau, đục mà có trong, thì người ấy có phúc khí, trường thọ, lại cao quý. Thần khí trong thì sợ lạnh, thần khí đục thì sợ dâm đãng, huống hồ cốt cách và lông tóc đều thô.
Thần khí đục mà xương cốt cứng cáp, lông tóc thanh tú thì người ấy thông minh, sớm làm quan. Thần khí đục mà cốt cách cũng đục thì đó là tướng kẻ ăn mày, hạ nhân: nam làm nô bộc, nữ làm nô tỳ. Thần nổi mà khí đầy, cốt cách trông nặng mà không nặng, là người làm quan hưởng lộc triều đình.
Lại có người mắt nhìn rõ đồ vật trong đêm, ngồi thẳng như có dây thừng trói, thân hình gầy nhưng da trắng sạch như ngọc mài, vai trái hơi cao, vai phải hơi thấp, trong mắt như lộ chân thần: đó là người làm tới chức quan nhất phẩm. Thân quá gấp mà khí dư thừa, tâm đởm đều thô, người ấy nhẫn nhịn được mọi việc trên đời, là bậc đại trượng phu của nhân gian. Cốt khí đục mà thần khí trong thì dù làm quan cũng không có danh. Cốt khí trong mà thần khí đục thì về sau vẫn giữ được phẩm tước.
Người xưa còn nói: hình bị ứ đọng thì thân hình ắt dày nặng. Thần ứ đọng thì lông mày không nhu thuận. Khí ứ đọng thì lười nhác. Sắc ứ đọng thì mặt ảm đạm, chẳng sáng. Người không có tình cảm, không có linh khí mà không tự biết, thì khó tránh họa hoạn. Nguyên khí suy kiệt mà thần khí ứ đọng thì khó tránh chết yểu. Nguyên khí u ám mà thần khí lạnh lẽo thì khó sống thọ. Nguyên khí hỗn tạp, như người động kinh, cũng chết yểu. Nguyên khí hư phù mà thần khí chẳng kiểm soát được thì muôn việc nguy khó. Nguyên khí suy yếu thì thể trạng không tốt.
Nguyên khí là mẹ của thần, là cha của sắc, lưu chuyển giữa lục phủ ngũ tạng. Trong cơ thể nó hiện ra thành thất tình; lúc đầu là khí, đợi khi ổn định thì thành sắc.
Khí của người rộng thì chứa được vật, khí hòa thì tiếp được vật, khí rắn thì chế được vật, khí trong thì biểu hiện được vật, khí chính thì lý giải được vật. Khí không rộng thì là kẻ hẹp hòi. Khí không hòa thì tính thô bạo. Khí không rắn thì nhu nhược. Khí không trong thì ác độc. Khí không chính thì thiên lệch. Đó đều là những dáng vẻ khác nhau của nguyên khí. Phải thầm dò lượng khí của người, rồi sau mới biết cách tiến thoái.
Thần giữ khí, khí giữ sắc
Trời sinh Thủy, đất sinh Hỏa; Thủy là tinh của thân người, Hỏa là thần của thân người. Tinh của nam nữ hợp lại rồi mới có thần. Cho nên thần có thể giữ khí mà khí không giữ được thần; khí có thể giữ sắc mà sắc không giữ được khí. Thần sắc loạn thì nhất định có hung họa.
Thần của người mà không sáng khoái thì bị ứ đọng thì kéo dài ba năm. Phải xem khí sắc nơi dịch mã ra sao: nếu thần khí đục mà tiếng nói cũng đục thì dù có phát đạt cũng lâm nguy khốn. Thần khí tản mát thì thời niên thiếu cô độc, nhà cửa tan nát. Nguyên khí tụ hội rồi tán thì làm việc không có chủ ý. Thần khí hợp nhau, thần sâu mà sáng sủa, thì là người hiển quý. Tinh thần ngơ ngẩn thì sống không quá bốn mươi tuổi.
Thần đục mà thịt căng thì làm việc có nguyên tắc. Thần đục mà thịt lỏng thì về già mới thành quý nhân. Khí sắc nên hiện thanh tú, như vậy mới là hình tướng tốt. Muốn biết tướng hình tốt hay không thì xem vị trí học đường có phát thần khí không; có thần khí là tốt, từ đó suy ra giàu sang nghèo hèn. Tinh thần mờ mờ như có như không, trên mắt tụ một chút thần quang, thì người ấy nhất định làm đến công hầu.
Khí ở trong lòng, biểu hiện ra mặt
Khí như khói như sương, nhìn thì thấy hình, sờ lại không có dấu vết.
Khí sắc của người giống sương khói phủ trên tay chân. Lúc phát tán thì như sợi lông tóc, lúc tụ lại thì như hạt gạo, hạt ngô. Nhìn thì có hình, sờ thì không có vết. Cũng như trong núi có đá, ném đá xuống đáy hang thì có tiếng vang vọng lại; người có thực khí thì khí trong. Người đất Hoài và đất Chiết đều có khí phẩm khác nhau: người Hoài khí nặng mà thiếu linh hoạt, người Chiết khí sáng mà không trong, người phương Bắc khí sâu mà thiếu mực thước. Tất cả đều do khí sắc trong lòng mà ra.
Khí sắc mềm mà tan thì người ấy có lộc vị nhưng nhiều tai nạn. Hình thể của người quý có nặng nhẹ, béo gầy, thô mịn, trong đục khác nhau, nhưng đều thanh tú, mà cái thanh tú ấy không chỉ nằm ở hình thể cốt cách. Nếu hoàn toàn không có khí sắc thanh tú thì dù hiển quý cũng không được thanh sạch.
Thịt có mà không có khí, thịt thực mà có khí
Người có nhiều thịt mà tinh khí không đủ giống như gỗ bị mọt đục rỗng bên trong; bên ngoài còn vỏ, nhưng gặp mưa to gió lớn thì không chống đỡ lâu được. Đó là hạng thân to cao mà không có thực chất.
Người gầy mà tinh khí đầy đủ thì giống cây tùng cây bách sống lâu năm: vỏ ngoài trơn bóng, rễ cắm sâu. Người mang tướng này sẽ có ngày nổi danh thiên hạ, như cây gặp đất tốt mà phát triển mạnh mẽ.
Thần sắc sinh ở ngũ tạng: màu sống và màu chết
Thần sắc sinh ở gan thì hiện màu như tấm lụa xanh; sinh ở tim thì như lụa đỏ; sinh ở tỳ thì như quả hồ lô; sinh ở thận thì như lụa tím.
Khí sắc xanh như lông chim thúy thì sống, xanh như màu chàm thì khó giữ mạng. Đỏ như mào gà thì sống, đỏ như máu cá thì khó giữ mạng. Trắng như mỡ lợn thì sống, trắng như xương khô thì khó giữ mạng. Đen như lông chim thì sống, đen như khói muội thì khó giữ mạng. Vàng như xương ba ba thì sống, vàng như vỏ quýt thì khó giữ mạng.
Người xưa bàn: khí sắc không có ánh sáng thì như không hiển lộ ra sắc. Khí sắc có ánh sáng thì tính tình bình tĩnh; khí sắc u ám thì tinh thần rối loạn. Hoa nở sớm tuy tạm thời vinh hoa nhưng không dài lâu. Khí sắc tươi non như cành lá tùng, càng lâu càng trơn bóng, nóng lạnh chẳng đổi. Khí sắc suy thì như cỏ, một ngày đổi thay trăm lần, đẹp mà không ổn định, gọi là sắc tạp. Sắc u ám như mây che mặt trời. Sắc có ánh sáng như vầng trăng mùa thu. Sắc lưu thông như nước sông chảy. Sắc trì trệ như nước ao tù.
Lúc hỗn độn ban đầu, khi mới sinh ra, thần an định, khí có chỗ ký thác, hình khí giao nhau mới thành người. Thần khí tốt như ánh trăng soi qua nước mùa thu; vạn vật và con người đều tươi sáng.
Người có thần khí quý: mắt sáng, giọng vang, cốt cách như hạc bay
Người có thần khí của bậc quý nhân thì hai mắt sáng, trong như dòng sông thu; giọng nói vang dội, khỏe, trong, rõ ràng; cốt cách thanh tú, dáng như hạc bay. Người này có thể trở thành trụ cột của đất nước. Thần khí không trong thì không được quan vị, chỉ có hư danh.
Phân biệt khí sắc như tìm tuyết trên sương
Phân biệt khí sắc cũng giống như tìm tuyết trên sương hoặc tìm sương trên tuyết: chỗ nào là sương, chỗ nào là tuyết, phải chuyên tâm quan sát. Muốn xem tướng cho người, trước hết phải nhìn hình dáng, sau mới xét khí sắc. Chỉ cần một chút sai lầm nhỏ cũng dẫn đến kết luận thiếu chính xác. Quan sát hình và sắc cụ thể của người, từ đó mà suy đoán cát hung.
Nguồn: Trần Đoàn, Thần Tướng Toàn Biên (Chu Tước Nhi dịch).
