Bài tổng quan
Cái Lý Ngũ Hành Trong Tử Vi: Nạp Âm, Hành Sao Và Vòng Tràng Sinh
Ngũ hành là nền lý luận của Tử Vi, nhưng Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư chỉ để lại dấu vết rời rạc về cái lý ấy. Ba mươi tượng nạp âm như Hải trung kim, Đại lâm mộc, Thiên hà thủy được giảng theo Tam Mệnh Thông Hội, song Vũ Tài Lục cho rằng nạp âm trong lá số chỉ ghi để mà ghi. Bảng ngũ hành của các sao đặt ra ba vấn đề, trong đó có việc Cự Cơ ở Mão Dậu vẫn tốt dù Thiên Cơ hành Mộc nhập đất Kim, và việc sách chỉ bàn tới thụ chế mà bỏ qua vận động sinh khắc chế hóa. Vòng Tràng Sinh là mười hai giai đoạn của một hành, và Lâm Quan trùng chỗ an Lộc Tồn. Đoạn Tinh Luận Viên là dấu tích hiếm hoi còn lại của biện chứng ngũ hành.
Ba Mươi Tượng Nạp Âm Ngũ Hành
Mở lá số ra, người ta thấy mỗi tuổi ứng với một tượng nạp âm Ngũ Hành, ví dụ "hải trung kim," "lộ bàng thổ," "thiên thượng hỏa"... Hành Kim có sáu tượng khác nhau: Hải trung kim, Sa trung kim, Bạch lạp kim, Thoa xuyến kim, Kiếm phong kim, Kim bá kim. Hành Mộc có sáu tượng: Đại lâm mộc, Bình địa mộc, Tùng bách mộc, Thạch lựu mộc, Dương liễu mộc, Tang đố mộc. Hành Thủy có sáu tượng: Tuyền trung thủy, Đại khê thủy, Giản hạ thủy, Thiên hà thủy, Trường lưu thủy, Đại hải thủy. Hành Hỏa có sáu tượng: Sơn đầu hỏa, Phúc đăng hỏa, Lư trung hỏa, Sơn hạ hỏa, Tích lịch hỏa, Thiên thượng hỏa. Hành Thổ có sáu tượng: Ốc thượng thổ, Sa trung thổ, Thành đầu thổ, Đại dịch thổ, Lộ bàng thổ, Bích thượng thổ.
Ý nghĩa của ba mươi tượng, theo sách "Tam Mệnh Thông Hội"
1. Hải trung kim, tượng nạp âm của Giáp Tí, Ất Sửu, là những báu vật dấu dưới Long cung, cần phải mượn xung phá để mà phát hiện, chứ hỏa lực chẳng giúp ích gì cho nó.
2. Kim bá kim, tượng nạp âm của Nhâm Dần, Quý Mão, là thứ kim đã hóa thành chất lỏng để đánh bóng những cột trụ, đồ dùng trong cung thất. Kim bá kim cần dựa vào Mộc, nhất là thứ Bình địa mộc; rất sợ Lư trung hỏa vì nó thể chất bạc nhược, không thể hoàn nguyên; nếu Hỏa đốt nó sẽ thành than, nhưng lại ưa mặt trời làm cho nó sáng bóng, chói lọi.
3. Bạch lạp kim, tượng nạp âm của Canh Thìn, Tân Tị, vốn là Côn Sơn phiến ngọc — ngọc quý ở đất Lạc Phố — ngưng tụ nhật nguyệt chi tinh, âm dương chi khí cho nên hình nó sáng, thể nó sạch, sắc rất đẹp. Bạch lạp kim cần Lư trung hỏa, nhưng với điều kiện phải có Thủy trợ; nếu chỉ có Lư trung hỏa mà thiếu Thủy tất nó sẽ yếu, tiết bần hàn.
4. Sa trung kim, tượng nạp âm của Giáp Ngọ, Ất Mùi, là chất kim quý dấu dưới cát, cần phải đãi rửa rồi dùng lửa lò nung luyện. Nếu cát khô quá tức là Thổ táo, chất kim không tốt, lại nhờ Mộc để đất rắn nuôi dưỡng kim chất cho hoàn hảo, rồi tìm thanh thủy mà lọc. Được như thế thì thiếu niên đã vinh quý.
5. Kiếm phong kim, tượng nạp âm của Nhâm Thân, Quý Dậu, là chất kim cực quý, cực rắn chắc, đã từng qua trăm luyện nên hồng quang của nó ánh lên đến ngưu đấu, có thể ngưng đọng sương tuyết. Nó cần Thủy để nhuận sắc nhưng phải là loại Đại khê thủy; nó cần Hỏa để tôi luyện nhưng phải là loại Tích lịch hỏa — lửa sấm sét để tạo linh khí.
6. Thoa xuyến kim, tượng nạp âm của Canh Tuất, Tân Hợi, là bảo vật để điểm trang cho mặt thêm đẹp, thêm xinh, đem hồng quang cho da dẻ. Nó được cất dấu nơi khuê các nên cần tĩnh thủy, nước trong u tịch, để trau chuốt như loại nước khe suối, giếng khơi tốt nhất; nếu bị nước mưa nguồn, nước biển sẽ làm nó yếu, chiết bần, hàn chìm, rơi mất tích; bị Hỏa liệt sẽ tàn thương.
7. Tang đố mộc, tượng nạp âm của Nhâm Tí, Quý Sửu, là cây dâu nuôi dưỡng loài tằm cho tằm nhả tơ óng chuốt để may quần áo dân gian thánh hiền. Nó cần Sa trung thổ mà xanh tốt, ưa Thiên hà thủy đem mưa ngọt, sương trong thấm nhuần gốc rễ; các loại thổ và thủy khác giảm hiệu lực đi nhiều.
8. Tùng bách mộc, tượng nạp âm của Canh Dần, Tân Mão, là cây tùng cây bách, chịu đựng được tuyết sương giá lạnh, cao vòi vọi, cành lá rộng mở che đất, gió thổi nghe rì rào như muôn ngàn ống sáo. Tùng bách mộc rất sợ Lư trung hỏa đốt cháy nó; thiếu thủy nó sẽ yếu chiết.
9. Đại lâm mộc, tượng nạp âm của Mậu Thìn, Kỷ Tị, là cây lớn trong rừng, ngọn lên đến từng mây, lá che cả ánh mặt trời. Nó cần Thổ nhiều và ưa Kiếm phong kim cưa xẻ, đẽo gọt thành dụng cụ. Nó cần lửa Thái dương nuôi nắng. Nó cần Thủy nhưng nếu gặp Đại khê thủy hay Đại hải thủy sẽ bị úng rễ mà chết yểu.
10. Dương liễu mộc, tượng nạp âm của Nhâm Ngọ, Quý Mùi, là loại cây yếu đuối, lả lướt trước gió như cây liễu bên đê. Nó cần Sa trung thổ; nếu gặp Đại dịch thổ thì khó sống mà gặp Lộ bàng thổ tất mất về cao sang. Nước nuôi dưỡng nó phải là thứ nước toàn Trung thủy, nhẹ nhàng, thấm xuống như nước suối mát.
11. Thạch lựu mộc, tượng nạp âm của Canh Thân, Tân Dậu, vị nồng cay như gừng, hoa đỏ chót, trái đầy những hạt tượng trưng cho đa tử (lắm con). Nó chính là cây thạch lựu, can chi thuần Kim mà lại thành Mộc, ấy bởi tại nó là Mộc biến ra vậy. Cho nên Thạch lựu mộc ưa Thổ đã thành khí như Thành đầu thổ hay Ốc thượng thổ.
12. Bình địa mộc, tượng nạp âm của Mậu Tuất, Kỷ Hợi, là cây non mới đâm cành trổ lá, cần đến công trình của thủy mưa móc, rất sợ tuyết sương tác hại, cần Hỏa thái dương làm ấm áp. Nếu đa Hỏa vô thủy tất yếu chiết, lại ngại kiếm phong sát phạt. Kim bá kim rất hợp với Bình địa mộc, vì thứ kim này khiến cho màu lá non thêm sáng đẹp, nõn nà.
13. Bích thượng thổ, tượng nạp âm của Canh Tí, Tân Sửu, là đất che nắng mưa, rét nóng, phòng sương ngự tuyết, chuyên nhờ cây vào kèo cột và vữa. Bích thượng thổ rất mừng được gặp Mộc, nhất là Đại lâm mộc hay Ốc thượng thổ; sợ hỏa thiêu đốt biến nó thành bần tiện; sợ Đại hải thủy chan hòa lụt lội gây đổ nát.
14. Thành đầu thổ, tượng nạp âm của Mậu Dần, Kỷ Mão, là thiên kinh ngọc lũy của vua, có cái hình rồng nằm dài thiên lý, hổ ngồi theo thế tứ duy. Nó đã xong rồi thì cần Lộ bàng thổ bao quanh, phù trợ cho địa thế rộng lớn mà không cần Hỏa nữa; nhưng nếu không có Lộ bàng thổ tất phải cần Hỏa để khai phá. Sơn và Thủy làm cho Thành đầu thổ mang vẻ oai nghiêm.
15. Sa trung thổ, tượng nạp âm của Bính Thìn, Đinh Tị, là đất bồi do sông biển, do chiều nước, do lớp lớp sóng dội, chỗ trú ngụ của long xà, nơi biến thiên của hang hốc. Sa trung thổ tinh chất thanh tú, cần tất cả các loại Kim nuôi dưỡng cho nó thành đất tốt. Nó cần Thiên thượng hỏa chiếu xuống thêm màu, thêm mỡ, và Thủy làm cho nó quyện dẻo.
16. Lộ bàng thổ, tượng nạp âm của Canh Ngọ, Tân Mùi, rộng rãi bao la, bình điền vạn khoảnh, đại địa liên đồ. Giống ngũ cốc sống nhờ trên đó, thảo mộc nhờ nó mà xanh tươi nơi có lửa trời sưởi ấm, chất đất ôn hòa để nuôi dưỡng vạn vật. Lộ bàng thổ cần nhất là Thủy, nước phải có nguồn tưới đều đều rồi đến nước Thiên hà thủy nhưng không ưa Đại hải thủy vì Đại hải thủy không có khả năng tưới thấm mà chỉ phá phách, kéo trôi đi tất cả màu mỡ.
17. Đại dịch thổ, tượng nạp âm của Mậu Thân, Kỷ Dậu, là đường đường đại đạo, đất bằng phẳng nối liền chín châu, giao thông vạn quốc. Nó cần Lộ bàng thổ phù trì, cần Thủy sông nước bao quanh và núi cao để tạo quý.
18. Ốc thượng thổ, tượng nạp âm của Bính Tuất, Đinh Hợi, là thứ thổ gạch ngói, nhờ Hỏa nung đốt để thành tác dụng che tuyết, che sương, ngăn mưa, ngăn gió. Ốc thượng thổ tối kỵ Mộc, vì nếu không có Mộc làm cái giá chống thì gạch ngói đứng đâu; cần Bình địa mộc cho thêm về phong phú, trang nhã.
19. Giản hạ thủy, tượng nạp âm của Bính Tí, Đinh Sửu, là nước nguồn chảy thành thác vòng ngàn núi, băng vạn dặm rừng. Nước thác rất trong sạch, tinh khiết, cần Kim dưỡng như Sa trung kim tốt nhất, cần Đất làm thành thác nhưng chỉ đất Sa trung thổ mới hay, chứ đất Lộ bàng và Đại dịch sẽ làm cho nó bị đục.
20. Đại khê thủy, tượng nạp âm của Giáp Dần, Ất Mão, nước dòng sông lớn cuồn cuộn, sóng cả nhấp nhô, quang ánh vạn lý, tối hỷ hữu quy — có nơi để nó chảy về — hữu dưỡng có nguồn nuôi dưỡng, sợ sự xung động khiến nó thành phiêu lãng kỵ Tích lịch hỏa, Sơn hạ hỏa.
21. Trường lưu thủy, tượng nạp âm của Nhâm Thìn, Quý Tị, nước chảy thao thao, vô cùng bất tận, xuôi về biển đông. Nó cần Kim nuôi nguồn, cần Thổ dựng đê thành lòng sông.
22. Thiên hà thủy, tượng nạp âm của Bính Ngọ, Đinh Mùi, là nước trên trời, thành mưa đổ xuống chan hòa khắp nơi, tưới cho vạn vật tốt tươi; Thổ không khắc được nó nên Thiên hà thủy không sợ Thổ, Thiên thượng thổ chẳng làm cho địa Kim sinh cho nên gặp Kim vô ích. Thiên hà thủy thường đi với Tích lịch hỏa mà hóa ra vân vũ.
23. Toàn trung thủy, tượng nạp âm của Giáp Thân, Ất Dậu, là nước suối, nước mạch, mát lạnh trong vắt, trăm vạn nhà đào giếng múc nước suối mà uống. Thứ nước này do khí tiết và nhờ Mộc phát xuất nên hỷ gặp Kim Mộc. Tuy nhiên Kim chất phải ôn hòa, chớ sát phạt như Kiếm phong kim; nó cần gặp Bình địa mộc chứ Tang đố mộc hay Thạch lựu mộc vô ích.
24. Đại hải thủy, tượng nạp âm của Nhâm Tuất, Quý Hợi, là biển rộng mênh mông, dung nạp tất cả các sông ngòi đổ về, cần Thiên thượng hỏa ánh chiếu dương chiếu xuống làm thành cách thủy hỏa ký tế — nước lửa cùng thành công dụng.
25. Tích lịch hỏa, tượng nạp âm của Mậu Tí, Kỷ Sửu, đó là lửa hiệu lệnh của chín tầng trời, chớp nhoáng như con kim xà nhanh như ngựa sắt phi bôn. Tích lịch hỏa là sấm sét cho nên cần Thiên hà thủy. Tích lịch hỏa có khả năng dưỡng Mộc — theo khoa học bây giờ, sấm sét làm chất Azote thấm xuống lòng đất, tạo màu mỡ, nhờ vậy cây cối mới đủ chất bổ dưỡng.
26. Lư trung hỏa, tượng nạp âm của Bính Dần, Đinh Mão. Sách có câu: "trời đất là cái lò, âm dương là than." Lư trung hỏa để nung nấu càn khôn, rất ưa Mộc sinh Hỏa và lấy Kim làm chỗ ứng dụng, có Kim thì Hỏa mới tỏ uy quyền; nhưng nếu vô Mộc mà gặp Kim đa tất Hỏa lao khổ.
27. Phú đăng hỏa, tượng nạp âm của Giáp Thìn, Ất Tị, là ánh lửa đèn đựng trong kim khí để tỏa chiếu ngọc quang vào những nơi mà nhật nguyệt không soi vào, thường gọi là nhân gian dạ minh chi hỏa. Nó lấy Mộc làm tâm, lấy Thủy làm dầu, gặp âm thì tốt, gặp dương bất lợi, rất sợ xung phá vì xung phá là gió táp thổi tắt ngọn đèn. Thủy của Phú đăng hỏa là thứ Thủy đào lên chứ chẳng phải Đại khê hay Đại hải thủy hoặc Thiên hà thủy.
28. Thiên thượng hỏa, tượng nạp âm của Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, là thứ Hỏa ấm áp khiến sông núi sáng sủa bởi dương đức thiên chiếu xuống và âm đức xuất hải sáng ra. Thiên thượng hỏa cầu phong và mộc nhất là Đại lâm mộc.
29. Sơn đầu hỏa, tượng nạp âm của Giáp Thìn, Tuất, Ất Hợi, là thứ lửa khai hoang hay lửa rừng đốt cháy thành biển lửa thiêu rụi cỏ cây một vùng. Gọi là Sơn đầu hỏa vì sắc của nó đỏ rực, chan hòa như lúc mặt trời lặn, còn đang lấp ló đầu ngọn núi. Thiêu xong, Sơn đầu hỏa cần Thủy để đất khỏi khô; Hỏa này phải nhờ Mộc đa mới cháy, nếu chỉ có Thổ mà không có Mộc thì Sơn đầu hỏa thành vô dụng.
30. Sơn hạ hỏa, tượng nạp âm của Bính Thân, Đinh Dậu, là thứ Hỏa lập lòe của đom đóm, cho nên "Lan đài diện tuyển" có đưa ra cách gọi là hùynh hỏa chiếu mộc, gặp mùa thu càng quý. Sơn hạ hỏa hỷ Thủy để nhờ Thủy phản chiếu hào quang, nhưng rất sợ gặp Tích lịch hỏa làm tiêu diệt ánh sáng của nó.
Lời bình của Vũ Tài Lục về giá trị thực dụng của nạp âm đối với khoa Tử Vi
Những lời giảng giải về mỗi tượng còn dài, nhưng ở đây chỉ dịch lại ít thôi vì lẽ không ăn nhập gì đến khoa Tử Vi của chúng ta, mà ứng dụng nhiều cho khoa Tử Bình, dịch hết rườm rà, vô ích.
Qua lời giảng sơ của "Tam Mệnh Thông Hội," ta thấy nạp âm thủ tượng những gì?
a) Quá văn vẻ, hệt như một lối bí ngữ cốt để cao thân giá của khoa mệnh học, thật ra nó không đi ra ngoài biện chứng vận động Ngũ Hành.
b) Tượng nạp âm ghi trong lá số Tử Vi chỉ ghi để mà ghi thôi, chứ chẳng dùng để mà đoán được, bởi lẽ không hề tìm thấy liên lạc Ngũ Hành của nó với các hệ thống sao hay Cục — bởi lẽ đã gọi là nạp âm tất phải đủ cả hai hàng can chi trộn lại, trong khi ở Tử Vi của chúng ta không thấy có sự phân định rõ ràng Ngũ Hành theo can chi. Có thể vì thất truyền mà mất đi chăng?
c) Không nên ngụy biện gán ghép tượng nạp âm của mệnh tính theo niên chủ với ảnh hưởng của các sao trong lá số nếu không biết chắc và biết rõ. Như vậy chỉ gây rối thêm.
Ngũ Hành Của Các Sao Trong Tử Vi
Bây giờ bàn đến Ngũ Hành và các sao. Tử Vi đẩu số toàn thư ghi ở cuối chương chỉ cách an sao mấy dòng chữ sau đây: "Luận tinh thần sinh khắc chế hóa."
Xem tinh diệu, trước hết phải biết rõ cái cơ của sự sinh khắc chế hóa: thứ đến an vị tại cung nào. Ví dụ Liêm Trinh thuộc Hỏa mà an tại cung Dần, cung Dần là Mộc, vậy Mộc có thể sinh ra Hỏa của Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc đồng cung với Liêm Trinh; Vũ Khúc thuộc Kim, Mộc với Kim khắc, tài tinh Vũ Khúc thành vô dụng. Các sao khác cũng cứ thế mà đoán.
"Kim nhập Hỏa hương, Hỏa nhập Thủy hương, Thủy nhập Thổ hương, Thổ nhập Mộc hương, câu vi thụ chế" — nghĩa là Kim vào vùng Hỏa, Hỏa vào vùng Thủy, Thủy vào vùng Thổ, Thổ vào vùng Mộc, đều là bị chế cả.
Bảng ngũ hành của các sao
Tiếp đến là bảng kê tổng quát các sao thuộc hành gì. Trong mười tám ngôi sao chính diệu: Tử Vi thuộc Thổ, Thiên Cơ thuộc Mộc, Lộc Tồn thuộc Thổ, Thái Dương thuộc Hỏa, Thiên Đồng thuộc Thủy Kim, Liêm Trinh thuộc Hỏa, Vũ Khúc thuộc Kim, Thiên Phủ thuộc Thổ, Thái Âm thuộc Thủy, Tham Lang thuộc Thủy Mộc, Cự Môn thuộc Thủy, Thiên Tướng thuộc Thủy, Văn Khúc thuộc Kim, Phụ Bật thuộc Thổ, Thiên Lương thuộc Thổ, Thất Sát thuộc Hỏa, Phá Quân thuộc Thủy, Văn Xương thuộc Kim, Tả Phụ thuộc Thổ.
Các sao khác không kể làm chính diệu: Khôi Việt thuộc Hỏa, Kình Dương thuộc Kim, Đà La thuộc Kim, Hỏa Tinh thuộc Hỏa, Linh Tinh thuộc Hỏa, Không Kiếp thuộc Hỏa, Thiên Sứ thuộc Thủy, Hóa Lộc thuộc Thổ, Hóa Quyền thuộc Mộc, Hóa Khoa thuộc Thủy, Hóa Kỵ thuộc Thủy, Hồng Loan Thiên Hỷ thuộc Thủy, Thái Tuế thuộc Hỏa, Bác Sĩ thuộc Thủy, Lực Sĩ thuộc Hỏa, Thanh Long thuộc Thủy, Đại Tiểu Hao thuộc Hỏa, Tướng Quân thuộc Mộc, Tấu Thư thuộc Kim, Phi Liêm thuộc Hỏa, Hỷ Thần thuộc Hỏa, Phục Binh thuộc Hỏa, Tang Môn thuộc Mộc, Bạch Hổ thuộc Kim, Quan Phù thuộc Hỏa, Điếu Khách thuộc Hỏa, Thiên Mã thuộc Hỏa, Riêu Y thuộc Thủy.
Ngoài ra, còn một số sao khác không thấy ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư nhưng các sách Tử Vi của người Việt đều có, như: Long Trì thuộc Thủy, Phượng Các thuộc Mộc Kim, Tam Thai thuộc Thổ, Bát Tọa thuộc Thổ, Ân Quang thuộc Hỏa, Thiên Quý thuộc Thổ, Thai Phụ thuộc Thổ, Phong Cáo thuộc Thổ, Thiên Quan quý nhân thuộc Hỏa, Thiên Phúc quý nhân thuộc Thổ, Đào Hoa thuộc Mộc, Thiên Khốc thuộc Kim, Thiên Hư thuộc Thủy, Cô Quả thuộc Hỏa.
Ba vấn đề tự đặt ra khi xét ngũ hành của các sao
Chúng ta hãy gạt ra ngoài vấn đề có nhiều sách chép khác nhau về hành của mỗi sao — sách này bảo sao X thuộc Thủy, sách khác bảo sao đó thuộc Mộc — chúng ta cứ kể là vấn đề "hành" của các sao đã được hoàn toàn thống nhất, sự khác biệt chẳng qua là do chép sai của tác giả nào đó mà thôi. Ở đây chỉ bàn thuần túy vấn đề tác dụng ngũ hành của các sao như thế nào.
Thứ nhất là nguyên tắc thụ chế mà Tử Vi đẩu số toàn thư nêu trên: "Kim nhập Hỏa hương, Hỏa nhập Thủy hương..." Vậy tại sao Cự Cơ ở Mão Dậu lại tốt? Đành rằng sao Cự Môn thuộc Thủy vào cung Mão tạm được, vì nó chỉ tiết khí chứ không thụ chế; vào cung Dậu thì được Kim sinh nó. Nhưng sao Thiên Cơ thuộc Mộc đóng Dậu cung rõ ràng Mộc nhập Kim hương thụ chế mà không vô dụng. Rồi hai sao Liêm Tham Tị Hợi cũng ở trường hợp tương tự. Liêm Trinh thuộc Hỏa cư Tị là Hỏa địa, vẫn bị vào Hãm địa. Tham Lang thuộc Thủy Mộc cư Hợi là Thủy địa vẫn bị vào Hãm địa. Hỏi rằng hãm với miếu còn căn cứ trên nguyên tắc thụ chế hay không, hay là căn cứ trên một nguyên tắc nào khác nữa?
Chúng ta sẽ giảng ra sao câu sau đây: "Liêm Trinh Thất Sát đồng viên, ở cung Tị Hợi chiếu miền Thiên Thương, Đặng Thông đói suốt năm trường, hạn hành phải sợ tai ương đến mình." Cả Liêm Trinh, Thất Sát đều là Hỏa, lại lâm nguy tại cung Tị là Hỏa hương?
Thứ hai, mỗi cung trong tất cả mười hai cung của lá số, cung nào cũng có đủ Ngũ Hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ kể chung chính diệu với phụ tinh. Theo thói thường, chỉ thấy căn cứ vào tính chất hung cát của các vị sao đồng thời căn cứ vào sự kết hợp thành từng bộ để giảng đoán, chứ không thấy căn cứ vào cái lý vận động của Ngũ Hành. Đôi khi cũng có các vị về sau tự nói sang chuyện Ngũ Hành thì cũng chỉ nói sơ sài, nếu không muốn bảo là gượng, là ngụy biện.
Thứ ba, Ngũ Hành nếu theo Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy nói đến mặt thụ chế mà không lưu ý đến toàn bộ vận động biện chứng sinh khắc chế hóa biến ảo vô cùng sau đây:
Kim vượng được Hỏa mới thành khí cụ; Hỏa vượng được Thủy thành sức mạnh của hơi nước, tức là Thủy Hỏa tương tế, Thủy giúp Hỏa; Thủy vượng được Thổ mới thành ao hồ, Thổ vượng được Mộc mới sơ thông, Thổ không bị bí; Mộc vượng được Kim mới ra kèo cột chống đỡ.
Kim nhờ Thổ sinh nhưng Thổ đa thì Kim bị chôn vùi; Thổ nhờ Hỏa sinh nhưng Hỏa nhiều Thổ cháy. Hỏa do Mộc sinh nhưng Mộc nhiều Hỏa bị ngạt; Mộc nhờ Thủy sinh nhưng Thủy trận thì Mộc trôi; Thủy nhờ Kim sinh nhưng Kim đa Thủy trọc (đục dơ bẩn).
Kim có thể sinh Thủy nhưng Thủy đa tất Kim chìm. Thủy có thể sinh Mộc nhưng Mộc đa thì Thủy kiệt. Mộc có thể sinh Hỏa nhưng Hỏa nhiều Mộc cháy tiêu. Hỏa có thể sinh Thổ nhưng Thổ đa làm Hỏa ngạt. Thổ có thể sinh Kim nhưng Kim đa Thổ biến.
Kim khả dĩ khắc Mộc nếu Mộc cứng Kim sẽ sứt mẻ. Mộc khả dĩ khắc Thổ, nếu Thổ chắc rắn Mộc gầy. Thổ khả dĩ khắc Thủy nếu Thủy nhiều quá Thổ sẽ trôi. Thủy khả dĩ khắc Hỏa nếu Hỏa nhiều sẽ làm sôi Thủy. Hỏa khả dĩ khắc Kim nếu Kim nhiều Hỏa tắt.
Kim suy gặp Hỏa bị cháy tan. Hỏa nhược gặp Thủy Hỏa tất diệt. Thủy yếu gặp Thổ, Thủy ứ tắc. Thổ suy gặp Mộc, Thổ bị nát vụn. Mộc nhược gặp Kim, Mộc bị sát phạt.
Cường Kim được Thủy mới tiết bớt sức mạnh; cường Thủy được Mộc mới tiết bớt thế mạnh; cường Mộc được Hỏa mới bớt ngang ngạnh; cường Hỏa được Thổ mới ngừng hoành hành; cường Thổ được Kim mới chế được hại.
Mộc sinh Hỏa, tuy nhiên Hỏa cũng có thể sinh Mộc — Thủy sinh Mộc là tưới cho đất bớt khô, còn Hỏa sinh Mộc là làm cho trời nóng ấm, cây khỏi cóng rét.
Hỏa sinh Thổ, tuy nhiên Thổ cũng có thể sinh Hỏa — Mộc sinh Hỏa nhờ cái khô của cây vào mùa đông, còn Thổ sinh Hỏa là do đất nóng trong tháng hạ.
Thổ sinh Kim, tuy nhiên Kim cũng có thể sinh Thổ — Hỏa sinh Thổ bằng cách đốt bớt chất ẩm, còn Kim sinh Thổ bằng cách làm chắc đất lại.
Kim sinh Thủy, tuy nhiên Thủy cũng có thể sinh Kim — Thủy sinh Kim còn Thủy sinh Kim bằng sự thấm bớt nước, còn Thủy sinh Kim bằng sự chế ngự tính khốc liệt của Hỏa.
Thủy sinh Mộc, tuy nhiên Mộc cũng có thể sinh Thủy — Kim sinh Thủy bằng cách ngăn chặn sự tiết lậu, còn Mộc sinh Thủy bằng cách khơi thông ứ tắc.
Nói tới vận động biện chứng của Ngũ Hành thật hết sức miên man, bao la, không phải chỉ có thụ chế mà thôi. Chắc hẳn Hi Di Trần Đoàn tiên sinh cũng đặt Tử Vi vào trong vận động biện chứng đó, nay chỉ vì thất truyền nên không có giảng giải chính xác vậy. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt toẹt ra rằng Liêm Tham Tị Hợi mệnh đóng dấy thì dễ bị tù tội, nhưng nếu gặp Triệt hay Tuần lại trở thành tốt. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt câu phú: "Mão cung Cự Vũ Khúc phùng, Tân Ất sinh nhân phúc khi long." Chúng ta hy vọng một ngày nào đó sẽ có một sở học uyên thâm giảng được lý do tại sao, hoặc sẽ tìm thấy cổ thư có lời giảng ấy.
Vòng Tràng Sinh Và Lộc Tồn Trong Tử Vi
Vòng Tràng Sinh còn có một vấn đề Ngũ Hành khác biệt hẳn như trắng với đen giữa sách Tử Vi đẩu số toàn thư với sách Tử Vi của người Việt. Theo Tử Vi đẩu số toàn thư cũng như theo toàn thể các sách khác về khoa âm dương học thì vòng Tràng Sinh là sự thành trưởng, vượng thịnh và hủy diệt của một hành trong Ngũ Hành. Không có chỗ nào trong Tử Vi đẩu số toàn thư gọi Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng là một vị sao. Trong khi thói quen từ trước tới giờ của khoa Tử Vi lại gọi mười hai giai đoạn trưởng thành hủy diệt của vòng Tràng Sinh là sao. Đặc biệt hơn nữa là mỗi sao ấy lại đại biểu cho một hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, ấy mới là lạ.
Ngũ hành của mười hai giai đoạn vòng Tràng Sinh
Tràng Sinh thuộc Thủy, Mộc Dục thuộc Thủy, Quan Đới thuộc Kim, Lâm Quan (Làm Quan) thuộc Mộc, Đế Vượng thuộc Kim, Suy thuộc Kim, Bệnh thuộc Hỏa, Tử thuộc Hỏa, Mộ thuộc Thổ, Tuyệt thuộc Thổ, Thai thuộc Thổ, Dưỡng thuộc Mộc. Ở một chỗ khác, sách lại ghi Suy thuộc Thủy và Tử thuộc Thủy — hai cách ghi này khác nhau ngay trong chính Tử Vi đẩu số toàn thư, chưa thấy chỗ nào giải quyết sự khác biệt ấy.
Ý nghĩa mười hai giai đoạn theo quan niệm âm dương học
Số Tử Bình giảng thập nhị vận ấy như sau: Tràng Sinh là đất sống của Ngũ Hành, gặp Tràng Sinh là người nhiều tài cán, sớm thành công, hạnh phúc vô cùng. Mộc Dục là giai đoạn của sự tắm rửa, đứa trẻ vào đất sống đang được tắm ở chuồng còn non nớt, yếu đuối, cho nên gặp Mộc Dục thì số đàn ông cô độc, khắc cha mẹ, con cái; số đàn bà phá bại nhà mình cũng như nhà chồng, đẻ con khó nuôi.
Quan Đới là giai đoạn biết đội nón, chít khăn để hưng gia lập nghiệp. Ban đầu bần hàn về sau càng quý hiển; nếu lại ở ngôi bản vị quý nhân thì tuổi trẻ đã đắc lộ thanh vân. Lâm Quan, Đế Vượng là giai đoạn ví như con người vào tuổi bốn năm mươi, công đã thành danh đã toại, đang hưởng vinh hoa. Mệnh được gặp Lâm Quan, Đế Vượng thì gia nghiệp hưng long, dục vọng công danh thỏa chí, dù cho có thất vị thì danh cũng đã nhiều người biết đến.
Suy, Bệnh, Tử là giai đoạn già nua, suy yếu của Ngũ Hành, lực không còn theo tâm nữa, cần phải có sự phù giúp mới có thể hanh thông. Mộ là giai đoạn đem chôn vùi, đòi hỏi một sự xung phá thì uất kết của sự chôn vùi mới vỡ bung ra để chuyển thành một sự nghiệp mới. Tuyệt là giai đoạn đi sau Mộ, nếu không có sự xung phá kia để phục hồi thì sẽ diệt hẳn. Thai là giai đoạn trứng nước nảy nở, lúc này còn ở tình trạng ngu si, dễ bị bóp chết. Dưỡng là giai đoạn đã thành hình, bây giờ phải dựng dục nuôi nấng; giai đoạn này hung cát thường đi đôi.
Vòng Tràng Sinh đầy đủ mười can
Mỗi hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đều phải có một cuộc đời trải qua mười hai giai đoạn kể trên theo nguyên tắc sinh diệt mà thành một vòng tròn bất tận, gọi là Vòng Tràng Sinh. Nó được phân định như sau:
Giáp can: Tràng Sinh tại Ngọ, Mộc Dục tại Tị, Lâm Quan tại Sửu, Lâm Quan tại Dần, Đế Vượng tại Mão, Suy tại Thìn, Bệnh tại Tị, Tử tại Ngọ, Mộ tại Mùi, Tuyệt tại Thân, Thai tại Dậu.
Ất can: Tràng Sinh tại Ngọ, Mộc Dục tại Tị, Quan Đới tại Thìn, Lâm Quan tại Mão, Đế Vượng tại Dần, Suy tại Sửu, Bệnh tại Tí, Tử tại Hợi, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Dậu, Thai tại Thân, Dưỡng tại Mùi.
Bính, Mậu can: Tràng Sinh tại Dần, Mộc Dục tại Mão, Quan Đới tại Thìn, Lâm Quan tại Tị, Đế Vượng tại Ngọ, Suy tại Mùi, Bệnh tại Thân, Tử tại Dậu, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Hợi, Thai tại Tí, Dưỡng tại Sửu.
Đinh, Kỷ can: Tràng Sinh tại Dậu, Mộc Dục tại Thân, Quan Đới tại Mùi, Lâm Quan tại Ngọ, Đế Vượng tại Ngọ (?), Suy tại Thìn, Bệnh tại Mão, Tử tại Dần, Mộ tại Sửu, Tuyệt tại Tí, Thai tại Hợi, Dưỡng tại Tuất.
Canh can: Tràng Sinh tại Tị, Mộc Dục tại Ngọ, Quan Đới tại Mùi, Lâm Quan tại Thân, Đế Vượng tại Dậu, Suy tại Tuất, Bệnh tại Hợi, Tử tại Tí, Mộ tại Sửu, Tuyệt tại Dần, Thai tại Mão, Dưỡng tại Thìn.
Tân can: Tràng Sinh tại Tí, Mộc Dục tại Hợi, Quan Đới tại Tuất, Lâm Quan tại Dậu, Đế Vượng tại Thân, Suy tại Mùi, Bệnh tại Ngọ, Tử tại Tị, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Mão, Thai tại Dần, Dưỡng tại Sửu.
Nhâm can: Tràng Sinh tại Thân, Mộc Dục tại Dậu, Quan Đới tại Tuất, Lâm Quan tại Hợi, Đế Vượng tại Tí, Suy tại Sửu, Bệnh tại Dần, Tử tại Mão, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Tị, Thai tại Ngọ, Dưỡng tại Mùi.
Quý can: Tràng Sinh tại Mão, Mộc Dục tại Dần, Quan Đới tại Sửu, Lâm Quan tại Tí, Đế Vượng tại Hợi, Suy tại Tuất, Bệnh tại Dậu, Tử tại Thân, Mộ tại Mùi, Tuyệt tại Ngọ, Thai tại Tị, Dưỡng tại Thìn.
Như vậy, trừ Bính Mậu can đi cùng một vòng và Đinh Kỷ can đi cùng vòng, thành ra có tám vòng cho bốn dương can và bốn âm can. Dương đi thuận, Âm đi nghịch.
So sánh với cách tính Cục của Tử Vi
Trong khi khoa Tử Vi tính theo năm Cục là: Thủy nhị Cục, Mộc tam Cục, Kim tứ Cục, Thổ ngũ Cục, Hỏa lục Cục. Thủy và Thổ Cục đi cùng một vòng, còn Hỏa lục Cục, Kim tứ Cục, Mộc tam Cục mỗi Cục một vòng, tổng cộng chỉ có bốn vòng.
Nếu đem so sánh thì thấy vòng Tràng Sinh của Tử Vi thuần là tính theo Dương can chứ không có Âm can, như: Thủy và Thổ Cục Tràng Sinh ở Thân (Nhâm can); Hỏa lục Cục Tràng Sinh ở Dần (Bính Mậu can); Kim tứ Cục Tràng Sinh ở Tị (Canh can); Mộc tam Cục Tràng Sinh ở Hợi (Giáp can). Chỉ thấy nói thêm Dương can tính thuận, Âm can tính nghịch.
Tính Dương thuận, Âm nghịch qua Cục Ngũ Hành của Tử Vi, đem so với Tử Bình thì Âm can hoàn toàn không thấy có vị trí đúng cho mười hai giai đoạn của vòng Tràng Sinh. Bởi vì Tràng Sinh của Giáp can khởi từ cung Hợi còn Tràng Sinh của Ất can khởi từ cung Ngọ. Vậy không thể dùng danh từ Âm Dương Can Cục mới chính xác. Còn như hỏi tại sao thì chúng ta chỉ biết Tử Vi dạy rằng: "Gọi cung Dần là tháng Giêng, tính thuận đến tháng sinh rồi lại từ cung đó tính nghịch đến giờ sinh an mệnh vị. Xong đâu đó tìm hành Can của năm sinh kết hợp với vị trí thập nhị chi của mệnh vị mà thành ra Cục."
Tại sao tính thế? Căn cứ trên nguyên tắc nào của Ngũ Hành? Thì lời giảng đã theo Hi Di Trần Đoàn tiên sinh nằm dưới lòng đất cả ngàn năm rồi. Có một vài vị trên một vài cuốn sách đã định giảng, nhưng người đọc chẳng thấy gì cả. Chúng ta phải tiếp tục chờ.
Có điều bảo Tràng Sinh thuộc Thủy, Mộc Dục thuộc Thủy, Quan Đới thuộc Kim... Tuyệt thuộc Hỏa... Bệnh và Tử thuộc Hỏa... thì quả là chướng, là ngang, đối với nguyên lý Ngũ Hành.
Vòng Tràng Sinh và sao Lộc Tồn
Vòng Tràng Sinh còn có một liên hệ khá quan trọng là liên hệ với sao Lộc Tồn. Lộc Tồn là gì? Là giai đoạn phát triển cực thịnh của hàng can Ngũ Hành, tức là giai đoạn Lâm Quan trong vòng Tràng Sinh; Lâm Quan còn có tên gọi khác là Lộc Kiến.
Tử Vi an sao Lộc Tồn căn cứ vào hàng can của năm sinh như sau: Giáp Lộc tại Dần, Ất Lộc tại Mão, Bính Lộc tại Tị, Đinh Lộc tại Ngọ, Mậu Lộc tại Tị, Kỷ Lộc tại Ngọ, Canh Lộc tại Thân, Tân Lộc tại Dậu, Nhâm Lộc tại Hợi, Quý Lộc tại Tí. Chú ý: Bính Mậu Lộc cùng ở một chỗ và Đinh Kỷ Lộc cùng ở một chỗ.
Lật trở lại trang trên, tìm những chỗ Lâm Quan của các vòng Tràng Sinh của thập can trong khoa Tử Bình, đều là chỗ an Lộc Tồn trong khoa Tử Vi. Điều trên đây chứng tỏ rằng:
a) Vòng Tràng Sinh rất quan trọng đối với lá số mà nay chúng ta chỉ có rất ít mấu cứ để nói chuyện về nó.
b) Sao chỉ là một cách nói, tên mỗi sao chỉ là những ký hiệu, tất cả số mệnh con người đều xuất phát từ vận động biện chứng của Ngũ Hành. Nhưng nay bởi lẽ nguyên lý đã bị mất từ lâu đời nên chúng ta chỉ có thể giải đoán qua một số những công thức làm sẵn chứ không thể giải đoán bằng lý Ngũ Hành. Đấy là sự thiệt thòi lớn cho Tử Vi học, khiến cho nhiều lúc chúng ta cứ nghĩ nó như một thuật không phải là một khoa học. Những lời giảng của các thuật sĩ nghe khó chịu chẳng hạn: Thanh Long như Thìn là Long cư Long vị, Bạch Hổ cư Dần là Hổ cư Hổ vị.
"Tinh Luận Viên" — dấu tích còn sót lại của biện chứng Ngũ Hành trong Toàn Thư
Trong Tử Vi đẩu số toàn thư, người ta chỉ thấy có một đoạn nói đến vận động Ngũ Hành, đoạn ấy lấy tựa đề là "Tinh Luận Viên," viết như sau:
"Tử Vi đế tòa lấy Phụ Bật làm tướng là chủ tinh, là nguyên lưu; là tất cả qui tụ nam bắc đẩu tinh mà thành vạn vật chi linh. Dùng Thủy để tẩy rửa, tất cả âm dương ký tế. Thủy thịnh khiến dương thương, Hỏa thịnh thì âm diệt. Cả hai phải dung hòa, không được thiên lệch."
"Cho nên đắc kỳ trung mới thật là mỹ mãn. Dần là viên địa của Mộc, lúc tam dương giao thái nên cây cỏ mầm mống nảy sinh, sang Mão vi mộc càng vượng làm thành miếu địa cho Thiên Cơ, Tham Lang, Thiên Tướng, là thủy đến cung Dần gọi là vượng tướng. Cự Môn thủy được Mão mộc sơ thông rất hay, cần Thổ để nuôi mộc, lại cần thủy để tưới cho mộc tươi tốt nên tam phương gặp Vũ Khúc, Phá Quân thủy nữa càng hay, có Lộc Tồn thổ càng đẹp. Cự Môn thủy đến cung Sửu, Thiên Lương thổ đến cung Mùi, Đà La kim vào tứ mộ địa nếu gặp Kình Dương lấy thổ làm kim mô, tất kim thông không bị ngưng trệ; có Thiên Phủ thổ, Thiên Đồng kim sinh, tức gọi là cách kim quý thổ màu mỡ, thuận đức mà sinh. Mùi Tị Ngọ là hỏa vị nơi tuyệt địa của thủy, hỏa viên nơi cung Ngọ có dư khí lưu tại Tị thủy..."
Bài này cứ thế kéo dài thêm hai trang nữa, nhưng cũng tiếp tục rắc rối khiến người đọc chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, "Tinh Viên Luận" cho ta thấy những dấu tích chứng tỏ khoa Tử Vi có đặt trên nguyên tắc vận động biện chứng Ngũ Hành.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục
