Bài tổng quan
Thổ là cung trung và cách tính trọn vận hạn đời người
Vì sao sao Mộ luôn đứng yên ở bốn góc Thìn Tuất Sửu Mùi, còn sao Tuyệt thì cứ phải đổi chỗ theo Âm Dương? Từ gốc rễ ngũ hành ấy, sách dẫn người đọc đi trọn một vòng tính vận hạn — từ tiểu hạn từng năm, đại hạn mười năm, cho đến...
Sao Mộ đứng yên ở bốn góc Thìn Tuất Sửu Mùi, còn sao Tuyệt thì cứ phải đổi chỗ theo Âm Dương — vì sao lại có sự phân công ấy giữa hai ngôi sao cùng một vòng Tràng-sinh? Câu trả lời nằm ở gốc rễ ngũ hành.
9) Ngũ hành sinh khắc định lệ
Ở các cung thuộc ngũ hành, thì Thổ là cung trung, là nơi sở cứ, đề cho các hành nhập xuất, mà sinh hóa thành các hành cá biệt.
1- Nên Mộ là mộ địa, không thể thay đổi vị trí, cho nên đã lấy sao Mộ của vòng Tràng-sinh làm sở cứ căn bản ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi, mà chỉ thay đổi vị trí Tràng-sinh tùy theo Âm hay Dương.
2- Trái lại sao Tuyệt phải đổi thay, để có tuyệt đi mới có sinh, và sao tuyệt khi thuộc âm, phải ở tứ bại là Tý Ngọ Mão Dần. Vì 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi thuộc thủy khí và 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu là tứ chính thủy nên từ khi biến thành thủy thực trao đổi cho nhau mà Mão Dậu là nơi miếu địa của song Hào nên mới có cách chúng thủy triều đông.
3- Và tại sao 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu lại là tứ bại ở Tử-vi học, nên tứ âm cục, sao Tuyệt đổi vị trí sang các cung Tý Ngọ Mão Dậu để hợp cùng lý khí mà sinh được, nên định luật âm sinh nhi dương trưởng, là hợp với sao Tuyệt, khi thuộc âm là phải tuyệt, rồi mới sinh là thế.
4- Nếu sao Tuyệt dù Âm hay Dương cũng chỉ ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi, thì chữ tứ bại dùng để chỉ cho 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu là lầm lẫn, và vô nghĩa vậy.
15) Sự hiện hành của vòng Tràng-sinh — cách an Tràng-sinh thứ hai
Nếu cách an thứ nhất tách rời Tràng-sinh và Đế-vượng ra hai cung riêng, thì một số ít các cụ lại gộp cả hai vào chung một cung — và hệ quả kéo theo là cả một cung bị bỏ trống, không sao nào trấn giữ.
Một cách an vòng Tràng-sinh thứ hai chiếm phỏng định 5% đa số là các Cụ, đã khởi thuận nghịch cùng tại 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi.
1- Khi an thuận vòng Tràng-sinh, thời mỗi cung một sao, đủ số 12 cung.
2- Nhưng khi an nghịch vòng Tràng-sinh, thời hai sao Tràng-sinh và Đế-vượng cùng an tại 1 cung.
3- Như vậy vòng Tràng-sinh khi an thuận thời đủ 12 cung mà khi khởi nghịch thì thiếu 1 cung không có sao nào và 2 sao Tràng-sinh và Đế-vượng đã đồng cư 1 cung rồi.
Thí dụ: Mộc tam cục.
1) Khi an vòng Tràng-sinh thuận khởi.
An Tràng-sinh tại Hợi cung
Đế-vượng tại Mão.
Sao Mộ tại Mùi cung
Sao Dưỡng tại Tuất cung.
Như vậy là 12 cung mỗi cung có 1 sao của vòng Tràng-sinh.
2) Khi an vòng Tràng-sinh nghịch khởi.
An Tràng-sinh và Đế-vượng đồng cung tại Hợi
Sao Suy cư tại cung Mùi.
Sao Tuyệt tại Mão cung
Và sao Dưỡng tại cung Sửu.
Như vậy là cung Tý không có sao nào của vòng Tràng-sinh.
Hệ luận cách an Tràng-sinh, Đế-vượng đồng cung
4- Việc lập luận cách an Tràng-sinh, Đế-vượng đồng cung đã giải thích là.
1- Khi an Tràng-sinh thuận, thời sao Mộ cư mộ địa, vậy khi an nghịch, phải an 2 sao Tràng-sinh, Đế-vượng đồng cung thì sao Mộ mới cư mộ địa được.
2- Đã cứng rắn tỏ ý nghĩa, sao Mộ là Thổ phải cư Mộ địa là gì, phải chăng là Thổ thì tại sao lại an tại 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu được.
Nhận xét
Như thế là thiếu một cung để an sao Đế-vượng. Mà định pháp trong Âm Dương bố khí đồ (tức là phép Âm Dương chuyển thuận nghịch) đã không đúng, vì thiếu hẳn 1 cung không có Đế-vượng và khi tùy theo Âm Dương để lập hướng.
Thí dụ lập Sinh thu Vượng, hay là lập Vượng thu Sinh pháp. Khi gặp Âm cục thì biết lập gì được và cả 2 sao Tràng-sinh, Đế-vượng đã nhập 1 cung rồi. Và ca quyết: Bối Vượng nghinh Sinh nghịch cục với định lý của Âm cục, đã bị bỏ đi không được chấp nhận nữa.
16) Luận chung Tràng-sinh pháp
Đối chiếu hết mọi cách an, chỉ còn một câu duy nhất: Mộ thì phải đứng yên, còn Tuyệt thì bắt buộc phải xê dịch — hai quy luật ấy mới là căn bản thật của cả vòng sao.
1- Định vị trí sao Mộ.
Qua các dẫn chứng của sao Mộ và sao Tuyệt thì sao Mộ dù Âm hay Dương cũng chỉ cư ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi mới là hợp lý, nếu chuyển sao Mộ sang tứ bại cung Tý Ngọ Mão Dậu thì không còn căn bản nào làm mốc giới cho vòng Tràng-sinh nữa và 4 tam hợp cục, mỗi tam hợp cục có 1 cung thổ định hướng sở cứ đã vô nghĩa.
2- Định vị trí sao Tuyệt.
Cũng như định luật Âm sinh nhi Dương trưởng của vòng Tràng-sinh, khi gặp Âm nam Dương nữ thì sao Tuyệt là bằng chứng hiển nhiên đã cư tại Dần Thân Tỵ Hợi, hoàn toàn lầm sang dương cục, lý khí đang trưởng thành. Nên khi gặp âm cục là khi dương đã trưởng rồi, thời sao tuyệt phải hồi về 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu, để âm kia hợp được lý khí mới có thể sinh được.
Vậy mộ phải cư mộ địa. Mà tuyệt phải đổi thay vị trí. Qua sự phân tích và tìm hiểu trong bài ca quyết, Tràng-sinh tứ thủy pháp, để đối chiếu ngõ hầu xác định được chân thực.
Cách lưu niên vận hạn
An xong hết các sao chính phụ trên lá số, việc còn lại là lấy tuổi mà tính ra từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ tốt xấu — bắt đầu từ tiểu hạn.
An tiểu hạn
Sau khi an xong các sao, bắt đầu an tiểu hạn trên 12 cung để biết vận hạn từng năm một.
1- Muốn tính tiểu hạn từng năm, phải tùy theo năm sinh và là nam hay nữ. Nam khởi tính theo chiều thuận. Nữ khởi tính theo chiều nghịch.
2- Bất kể nam hay nữ đều khởi tại 1 cung nhưng ghi năm sinh ở bên cạnh cung khởi, sinh năm nào ghi năm ấy, chỉ khác nam thuận nữ nghịch.
Phân định như sau
Sinh thuộc năm Thân Tý Thìn — Cung khởi ghi: Tuất
Sinh thuộc năm Dần Ngọ Tuất — Cung khởi ghi: Thìn
Sinh thuộc năm Tỵ Dậu Sửu — Cung khởi ghi: Mùi
Sinh thuộc năm Hợi Mão Mùi — Cung khởi ghi: Sửu
3- Thí dụ nam sinh năm Thân, ghi chữ Thân ở bên cạnh cung Tuất là cung khởi, rồi theo chiều thuận an tiếp các cung khác, ghi chữ Dậu ở bên cung Hợi, chữ Tuất bên cung Tý, ghi Hợi ở cung Sửu, cứ như thế tiếp tục ghi những cung còn lại theo thứ tự 12 chi.
4- Thí dụ nữ sinh năm Thân, cũng khởi ở cung Tuất, ghi chữ Thân ở bên cung Tuất, tiếp tục an nghịch các chi, Dậu bên cung Dậu, ghi Tuất bên cung Thân, và tuần tự ghi nghịch các cung còn lại theo thứ tự 12 chi.
5- Muốn biết vận hạn xấu tốt trong 1 năm nào, căn cứ cung ghi năm ấy, xét ảnh hưởng các sao.
Thơ an tiểu hạn
Tinh hạn tra xét mọi phần.
Nam thuận nữ nghịch phải cần xét suy.
Tuổi Dần Ngọ Tuất Thìn ghi.
Thân Tý Thìn ấy tại vì Tuất cung.
Hợi Mão Mùi trâu ngó trông.
Tỵ dậu sửu dê lông đòi ăn.
Lưu đại hạn
Một Đại Hạn là mười năm.
Cách lưu đại hạn
1- Phải căn cứ vào Cục. Nếu là thủy nhị cục ghi số 2 – 11 vào cung Mệnh.
2- Phải căn cứ Dương nam Âm nữ, chuyển hạn theo chiều thuận. Âm nam Dương nữ, chuyển hạn theo chiều nghịch.
Thí dụ 1: Dương nam thủy nhị cục hay Âm nữ thủy nhị cục. Bắt đầu ghi 2 – 11 vào cung Mệnh, rồi chuyển hạn thuận, ghi 12 – 21 vào cung Phụ Mẫu, 22 – 31 vào cung Phúc-đức, 32 – 41 cung Điền-trạch, 42 – 51 cung Quan-lộc, 52 – 61 cung Nô-bộc, và 62 – 71 cung Thiên-di.
Thí dụ 2: Âm nam thủy nhị cục hay Dương nữ thủy nhị cục. Khởi ghi 2 – 11 vào cung Mệnh, rồi chuyển hạn theo chiều nghịch, ghi 12 – 21 vào cung Huynh-đệ, 22 – 31 vào cung Thê-thiếp (Phu-quân), 32 – 41 cung Tử-tức, 42 – 51 cung Tài-bạch, 52 – 61 cung Tật-ách, và 62 – 71 cung Thiên-di.
Thí dụ 3: Dương nam mộc tam cục hay Âm nữ mộc tam cục. Bắt đầu ghi 3 – 12 vào cung Mệnh, rồi chuyển hạn thuận, ghi 13 – 22 vào cung Phụ Mẫu, 23 – 32 vào cung Phúc-đức, 33 – 42 cung Điền-trạch, 43 – 52 cung Quan-lộc, 53 – 62 cung Nô-bộc, và 63 – 72 cung Thiên-di.
Thí dụ 4: Âm nam mộc tam cục hay Dương nữ mộc tam cục. Khởi ghi 3 – 12 vào cung Mệnh, rồi chuyển hạn theo chiều nghịch, ghi 13 – 22 vào cung Huynh-đệ, 23 – 32 vào cung Thê-thiếp (Phu-quân), 33 – 42 cung Tử-tức, 43 – 52 cung Tài-bạch, 53 – 62 cung Tật-ách, và 63 – 72 cung Thiên-di.
Ghi đại hạn tùy theo Cục
Thủy nhị cục ghi 2 – 11, 12 – 21 và tiếp theo…
Mộc tam cục ghi 3 – 12, 13 – 22 và tiếp theo…
Kim tứ cục ghi 4 – 13, 14 – 23 và tiếp theo…
Thổ ngũ cục ghi 5 – 14, 15 – 24 và tiếp theo…
Hỏa lục cục ghi 6 – 15, 16 – 25 và tiếp theo…
Và tiếp theo ghi cho tới cung Thiên-di là quá đủ, vì nhân sinh thất thập cổ lai hy rồi, đâu còn mong muốn gì thêm. Các số ghi 2 – 11, 3 – 12, 4 – 13, 5 – 14, 6 – 15, là để đánh dấu một đại hạn 10 năm, tứ tuổi nào và đại hạn lâm cung nào thì xét vận hạn theo ảnh hưởng của cung ấy.
Thí dụ đại hạn ghi 44 – 53 ở cung Quan-lộc thì vận hạn xấu tốt ảnh hưởng, cho tới 10 năm từ 44 tuổi đến 53 tuổi, của các sao liên hệ thuộc cung Quan-lộc.
Lưu nguyệt hạn
Để biết vận hạn xấu tốt trong một tháng. Hai cách thường sử dụng.
Cách 1 – Khởi tính Nguyệt hạn từ cung Niên hạn, kể là tháng giêng, tính theo chiều nghịch tới tháng sinh, ngưng tại cung nào kể cung ấy là giờ Tý, tính theo chiều thuận tới giờ sinh ngưng tại cung nào kể cung ấy là tháng giêng, tuần tự tính thuận tháng 2, tháng 3, tháng 4, tới tháng nào muốn biết vận hạn.
Cách 2 – Kể cung ghi niên hạn là tháng giêng, tính thuận tới tháng 2, tháng 3, tháng 4 hay tháng nào muốn biết vận hạn, mỗi cung 1 tháng.
Cách tính nhật hạn
Để biết vận hạn tốt xấu trong một ngày. Biết Nguyệt hạn tại cung nào, kể luôn cung ấy là mồng 1, tuần tự mỗi ngày 1 cung, cho tới ngày muốn biết vận hạn.
Cách tính thời hạn
Để biết vận xấu tốt trong vòng 1 giờ. Biết Nhật hạn tại cung nào, kể cung ấy là giờ Tý, tính thuận mỗi giờ một địa chi theo Tý, Sửu,… tới giờ nào muốn biết xấu tốt.
Một bài ca quyết ngắn về Thất-sát tại cung Mệnh là một thí dụ sống để đối chiếu với vận hạn.
Thất-sát nam mệnh ca
Thất sát tọa Mệnh lạc nhàn cung.
Cự tú Dương Đà cánh chiếu xung.
Nhược bất thương chi tất tổn cốt.
Không môn tăng đạo khả hưng long.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
