Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hà Đồ, Lạc Thư và gốc rễ ngũ hành sinh khắc

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202612 phút đọc2 lượt đọc
Hà Đồ, Lạc Thư và gốc rễ ngũ hành sinh khắc

Trước khi trở lại với những vì sao, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dừng chân thật lâu ở một câu hỏi gốc rễ hơn cả lá số: ngũ hành từ đâu mà có? Con long mã hiện ra trên sông Hoàng Hà mang theo mười con số, con rùa thần nổi trên sông Lạc mang theo chín ô hình — từ đó dựng nên cả một vũ trụ quan…


Trước khi trở lại với những vì sao, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử dừng chân thật lâu ở một câu hỏi gốc rễ hơn cả lá số: ngũ hành từ đâu mà có? Con long mã hiện ra trên sông Hoàng Hà mang theo mười con số, con rùa thần nổi trên sông Lạc mang theo chín ô hình — từ hai truyền thuyết ấy, người xưa dựng nên cả một vũ trụ quan để cắt nghĩa vì sao nước sinh ra gỗ, gỗ sinh ra lửa, và vì sao khoa Tử Vi lại tin vào những con số 1, 2, 3…

Nguyên tắc 4: biết số tuổi, tìm lại can chi

Thí dụ một người chỉ biết số tuổi là 47, mà không biết hàng can chi là gì. Áp dụng: tìm lại các hàng can, ấn vào các cung địa chi trên tay, thấy can Bính là số 7 tức là Bính Ngọ 7 tuổi (nhớ là can Bính). Bắt đầu tính thuận, bỏ cách 1 cung cộng thêm 10 tuổi: sẽ thấy cung Thân là 17 tuổi, cung Tuất là 27 tuổi, cung Tý là 37 tuổi, cung Dần là 47 tuổi. Lúc đầu lấy can Bính là 7 tuổi, vậy nay nhập Bính vào cung Dần, nói là Bính Dần. Người 47 tuổi là Bính Dần. Khi tập tính các tuổi khác cũng đồng một nguyên tắc này mà áp dụng.

Thiên Lương Nam Mạnh ca

Thiên-lương chi diệu số trung cường.
Hình thần ổn trọng tính ôn lương.
Tả Hữu Khúc Xương lai hội hợp.
Quản giao phú quý liệt triều cương.

Một thí dụ khác để đối chiếu: có người hỏi tôi 47 tuổi, can chi là gì? Lấy năm Nhâm Tý là năm hiện hành, ấn ngược hàng can tới khi thấy can nào có số 7, tức là can Bính ở cung Ngọ, nhớ lấy can Bính. Rồi bắt đầu tính thuận, bỏ cách một cung, cộng thêm 10 tuổi, sẽ thấy tại Thân 17, tại Tuất 27, tại Tý 37, tại Dần 47, tức là tuổi của đương số. Nhập chung can Bính ở cung Ngọ lúc trước vào Dần, là Bính Dần.

Hà Đồ và Lạc Thư

Văn minh Đông phương ta đã có cả một bộ môn văn hóa tối diệu, từ khoa âm dương siêu việt nhất (Dịch lý học) bao hàm cả một quy luật biến dịch của vũ trụ muôn loài, tới thiên văn, địa lý, tử vi, tướng số, cả môn y học đến con người cũng cùng chịu chung một nguyên lý ngũ hành. Vậy ngũ hành sinh khắc là chìa khóa tối trọng, để mở đường cho tất cả — nếu không tạm hiểu được ngũ hành, thì không thể nào đi sâu vào các môn học vi diệu này được. Muốn hiểu được ngũ hành sinh khắc ra sao, phải nghiên cứu Hà Đồ và Lạc Thư, vì là tượng trưng thiên địa bao hàm, biểu lý sự tạo thành ra vũ trụ này.

Chuyện chép về Hà Đồ: vua Phục Hy thấy con long mã hiện ra ở sông Hoàng Hà, trên lưng nó có từ số 1 tới số 10, xếp đặt như một bản họa, cho nên gọi là Hà Đồ. Nhân bản họa ấy mà ghi ra thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập. Thiên số cũng ngũ, mà địa số cũng ngũ, tương đắc mà thành thiên số 25, địa số 30, hợp chung thiên địa số thành là 55, biến hóa mà thành ra quỷ thần, ấy là số của Hà Đồ.

Chuyện chép về Lạc Thư: lời xưa ghi lại rằng vua Hạ Vũ đi trị thủy, có con rùa nổi lên ở trên sông Lạc, trên mai nó có 45 chấm tròn, nhân đó mà ra Cửu Trù. Trên lưng con rùa các chấm tròn được xếp đặt: trên chín, dưới một, bên tả ba, bên hữu bảy, số 7 và 4 làm vai, số 6 và 8 làm chân, cho nên đặt là Lạc Thư (Lạc Thư là kim quy). Khi nghiên cứu về Hà Đồ Lạc Thư thì thấy giống như một, nên nói Hà Đồ Lạc Thư tương vi biểu lý vậy.

Và ta thường nghe nói Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái là chứng triệu của Hà Đồ Lạc Thư. Thái Cực khi chưa thành hình bao gồm 1 cơ, 1 ngẫu, mà số thì dương 1, âm 2, là cơ ngẫu của Đồ Thư đó; tới Lưỡng Nghi thì sinh 1 cơ 1 ngẫu làm 2 thành 4 là Tứ Tượng, nói về ngôi thì Thái Dương 1, Thiếu Âm 2, Thiếu Dương 3, Thái Âm 4, mà số thì Thái Dương 9, Thiếu Âm 8, Thiếu Dương 7, Thái Âm 6.

Sinh hóa ngũ hành và phương vị

Lấy ở Hà Đồ mà nói thì trong trời đất, chỉ có một khí mà thôi, chia ra làm 2, tức là âm dương, mà ngũ hành tạo hóa ra làm vạn vật đều có ở đó, cho nên vị ở Hà Đồ thì một hoàn bị với 6 ở phương Bắc, 2 với 7 kết hợp mà ở phương Nam, 3 với 8 làm bạn mà ở phương Đông, 4 với 9 đồng đạo mà ở phương Tây, 5 với 10 cùng quy tụ giữ nhau chặt chẽ mà ở giữa.

Thụ căn của chính ngũ hành: ta thấy khí dương trong nhẹ ở trên là cơ, cho nên số 1-3-5-7-9 là thuộc trời; khí âm đục nặng ở dưới là ngẫu, cho nên số 2-4-6-8-10 thuộc về đất. Cho nên 5 vị thiên, 5 vị địa tương đắc, để rồi trời lấy một sinh thủy, địa lấy 6 mà thành; địa lấy hai sinh hỏa, thiên lấy 7 mà thành; thiên lấy 3 sinh mộc, địa lấy 8 mà thành; địa lấy 4 sinh kim, thiên lấy 9 mà thành; thiên lấy 5 sinh thổ, địa lấy 10 mà thành. Ấy là luật hợp, cho nên chứa 5 cơ mà làm thành 25, chứa 5 ngẫu mà làm 30, hợp chung lại mà làm thành 55, đó là số của Hà Đồ.

Hình thành của Thiên Can và Địa Chi

Sau khi đã nhận chân được biểu tượng hình thành và phương vị của Hà Đồ và Lạc Thư, tiền bối chúng ta mới nhân đó, mà đặt ra được quy luật vô cùng tài tình là thập niên can: Giáp Ất mộc, Bính Đinh hỏa, Mậu Kỷ thổ, Canh Tân kim, Nhâm Quý thủy, mà tương đắc như: Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, và Mậu hợp Quý — bẩm thụ ở trời (thập niên can) mà ra Mạnh con người, rồi con người chịu thêm sự phát sinh của cảnh vật, biểu tượng bằng thập nhị địa chi: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, mà Tý Hợi là con chuột, con heo, con rắn rồi nào con khỉ, con trâu, con chó, con cọp, mà thành tính tình xấu tốt, được phú quý hay bần tiện, thọ yểu của người ta, là do quy luật địa chi sở tàng, thiên can sở thuộc, đã sinh hóa ra ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Tượng và ứng của Tiên Thiên

Chú trọng và quan sát các hình vẽ, là biểu tượng của quy luật hình thành, từ Thái Cực hay Thái Vi, hay Thiên Đình hay là Tử Vi Đẩu Số của ta, đã biến hóa thăng giáng, nhập xuất, vãng phản, thuận nghịch, mà ra ngũ hành muôn vật. Vậy tiên thiên ngũ hành là vật thiên thanh tương, thuộc thời gian chưa thành hình, mà tượng thì giác quan ta chưa thấy được, vì còn trong chu kỳ đồng nhất thể, để sau mới thụ căn, mà trùng trùng duyên khởi, sinh sinh hóa hóa cái nhất thể thành ngũ hành: một, nên trước hết cái Nhất Thể (gọi là Thái Cực); hai, chứa cả âm lẫn dương; ba, rồi âm dương tương thôi, tương thác mà mới thành ra Tam Tài; bốn, tiếp đến là Tứ Tượng; năm, để sau hết là vòng sinh là ngũ hành.

(Hình vẽ biểu lý Tiên Thiên ngũ hành trong sách nguyên bản là một vòng tròn chấm các con số, nay ảnh scan đã mờ không còn đọc rõ được các vị trí, nên chỉ thuật lại phần chữ.)

Tiếp đến ngũ hành thì ra ngoài, cũng một quy luật theo Tiên Thiên có 4 chu kỳ, từ 6 đến 9, mà ta gọi là cá biệt ngũ hành, tức là chiều hướng đường đi: xuống 6 thành thủy, lên 7 thành hỏa, qua 8 thành mộc, sang 9 thành kim, nhập 10 thành thổ, tức là lại trở về cung trung. Bốn số thành (hình) giao hợp với 4 số sinh (tượng) qua thời gian sinh hóa để thành cá biệt ngũ hành. Vậy tượng thuộc Tiên Thiên hay thể, và hình thuộc Hậu Thiên hay dụng. Tiên Thiên hay thể, Hậu Thiên hay dụng, biến hóa theo quy luật ngược chiều nhau, nên Tiên Thiên theo chiều trái, mà Hậu Thiên theo chiều nghịch, để rồi hình thành vạn vật mà ta gọi là ngũ hành. Tiên Thiên (thể) và Hậu Thiên (dụng) đã theo quy luật thuận nghịch, nên nước chảy xuống, lửa bốc lên, mộc uốn khúc, kim chiều theo, mà thổ ở giữa thu vào và phát ra. Nên Tiên Thiên ngũ hành được biểu lý bằng đường đi.

Do cơ cấu thời gian, Tiên Thiên ngũ hành và Hậu Thiên ngũ hành, qua quy luật biến dịch, biểu lý bằng đường đi bẻ thành góc. Do đó có vãng và có hồi, để xuất ra và nhập nội. Ta sẽ thấy đường đi 4-9 và 2-7, nên để 4-9 và 2-7 đi cùng chiều với 3-8 và 1, dấu mũi tên dùng để chỉ ta từ sinh tới thành. Đối lại thời 9-4 và 7-2 ngược chiều với 3-8 và 1-8, hình vẽ biểu lý cho ta thấy một ra và một vào.

Biểu lý thành: 5 trong ra gặp 1 thành 9; 5 trong ra gặp 1 thành 8; 4 sinh vào gặp 3 thành 8; 2 sinh vào gặp 3 thành 7. Nên suy ra được: 6, 8 là số ra của dương tản mát, hướng theo tay trái; 9, 7 là số vào của âm tụ lại, hướng theo tay mặt. Cho nên sự hòa hợp của trời đất thật chặt chẽ, tương trợ cho nhau đến tận cùng, mà cứ số đất chẵn đi với số lẻ trời, ví như 1 với 9, 2 với 7, 3 với 8: Thiên, Địa, Nhân, Vật tương quan ngũ hành.

Phát minh thập thiên can (10) và thập nhị địa chi (12) cùng theo một cơ cấu thời gian, và quy luật Tiên Thiên Hậu Thiên sinh hóa, để tạo thành ngũ hành, ta có cả thiên lẫn địa, mà thiên làm căn bản gốc, gọi là thiên can như Giáp Ất… Nhâm Quý; và đất là ngọn ngành, gọi là địa chi như Tý Sửu… Tuất Hợi. Phối hợp với nhau làm lịch số của thời gian. Con người hoàn toàn thu bẩm, do can chi năm tháng ngày giờ sinh mà biểu lý ngũ hành. Cho nên vì ảnh hưởng của cả thiên lẫn địa, được hưởng ngũ phúc để sinh ra tưởng rồng xanh, rồng vàng, làm vua làm tổng thống, hay phải chịu kiếp lục cực mà nghèo hèn, đôi khi là quái thai ghê sợ. Cả đến các vật thể cũng chịu chung một quy luật như dưới đây.

Bảng Nguyệt Lệnh

ThủyHỏaMộcKimThổ
Thời tiếtĐôngHạXuânThuTứ quý
Ngũ tạngThậnTâmCanPhếTỳ
Ngũ quanThính giácThị giácHành độngNgôn ngữTư duy
Màu sắcĐenĐỏXanhTrắngVàng
Mùi vịMặnĐắngChuaCayNgọt
Ngũ cung (nhạc)VũChủyGiốcThươngCung
Số67895
PhươngBắcNamĐôngTâyTrung ương
Thiên canNhâm, QuýBính, ĐinhGiáp, ẤtCanh, TânMậu, Kỷ

Đây là một liệt kê, hoặc vật thể, hoặc phương vị theo ngũ hành, nên quan sát và tìm hiểu thêm ra, từ lục phủ ngũ tạng, tới mọi bộ phận của con người, đều thể hiện qua ngũ hành, tượng bằng các sao của môn Tử Vi, thời tính linh tật bệnh, hạnh phúc, tai nguy, sẽ giúp cho việc phân luận được nhiều lợi ích chân xác trong 1 lá số.

Thí dụ thuộc bảng Nguyệt Lệnh, áp dụng với hành Hỏa: thời mùa hạ thuộc Hỏa, hướng Nam thuộc Hỏa, quả tim con người thuộc Hỏa, con mắt con người thuộc Hỏa, màu đỏ thuộc Hỏa, chất đắng thuộc Hỏa, nhạc lý cung Chủy thuộc Hỏa, và thiên can Bính Đinh cũng thuộc Hỏa. Trên đây là thí dụ một hàng của bảng Nguyệt Lệnh, nên đối chiếu các hành khác mà tìm hiểu.

Ngũ hành tương sinh, tương khắc

Sơ đồ ngũ hành tương sinh và tương khắc
Vòng tròn ngoài: tương sinh. Ngôi sao trong: tương khắc.

Ta thấy: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Ta thấy: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.

Qua các hình biểu lý đã hiện ra: các số 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh; và các số 6, 7, 8, 9 là số thành. Nên người xưa đã theo quy luật vận hành trong Hà Đồ và Lạc Thư, mà biết căn cứ vào phương vị, để xây cất cung điện đền chùa theo hướng Tý Ngọ.

Cũng như Đông Tây đã gặp nhau về khoa toán học, cùng chung một biểu lý từ số 1 tới số 9 bất di dịch, và cũng một công thức mà tôn giáo Đông phương thì Tam Thế Âm Bồ Tát, dấu hiệu chữ Vạn, và Tây phương thì Tam Vị Nhất Thể Thiên Chúa, cũng dấu Thánh Giá — phải chăng Hà Đồ, Lạc Thư đã ẩn sẵn trong tâm thức sâu kia của con người, và nếu muốn đi sâu vào đường lý học, không thể bỏ qua bộ sách Ngũ Kinh độc bản hoặc Thư Kinh tập chuyên, trên đây chỉ là khái niệm mà thôi.

Áp dụng sang Tử Vi — từ nền tảng ngũ hành sinh khắc này, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử trở lại với lá số, để soi từng chính tinh, phụ tinh qua đúng cái lý đã trình bày.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn