Bài tổng quan
Âm dương, Thái Cực, Vô Cực: gốc vũ trụ theo Kinh Dịch
Muốn biết vũ trụ bắt đầu từ đâu, người đọc Dịch thời Xuân Thu chỉ có hai vạch âm dương chồng lên nhau mà thành tám quẻ, tưởng thế là đủ. Nhưng qua tay các tác giả Thoán Truyện, Hệ Từ Truyện, cái gốc ấy dần lùi sâu hơn: trước bát quái còn có tứ tượng, trước tứ tượng còn có lưỡng nghi, và đằng sau cả âm lẫn dương, người ta còn tìm ra một cái gốc chung duy nhất. Đến đời Tống, ngay cả cái gốc chung ấy cũng bị lùi thêm một bậc nữa...
Mục lục · 1 phần
Nguồn gốc vũ trụ: từ nhị nguyên tiến tới nhất nguyên
Chu Dịch hoàn toàn xây dựng trên quan niệm âm dương, sáu mươi bốn quẻ chỉ do hai vạch âm và dương (đứt và liền) chồng lên nhau, thay đổi cho nhau mà thành.
Quan niệm âm dương là quan niệm đặc biệt của dân tộc Trung Hoa. Nó rất quan trọng, làm căn bản cho triết học, khoa học Trung Hoa, có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống dân tộc Trung Hoa trong mấy ngàn năm nay.
Chúng ta không biết nó xuất hiện từ thời nào, trễ lắm là đời Ân, vì nó phải có từ trước khi có hình bát quái.
Theo một số nhà ngữ nguyên học Trung Hoa thì mới đầu hai chữ dương, âm có hình thức khác hẳn ngày nay. Chữ dương (ngày nay: 陽) gồm hai phần: bên trái là sườn núi (hoặc bức tường); bên phải trên là mặt trời lên khỏi chân trời, dưới là những tia sáng mặt trời chiếu xuống. Do đó, dương trỏ phía có ánh sáng, phía sáng. Chữ âm (ngày nay: 陰), bên trái cũng là sườn núi, bên phải, trên có nóc nhà, dưới có đám mây. Do đó, âm trỏ phía mặt trời bị che khuất, không có ánh nắng, phía tối.
Phía có ánh nắng thì ấm áp, cây cối tươi tốt, phía không có ánh nắng thì lạnh lẽo, cây cối không phát triển, do đó âm dương từ cái nghĩa tối sáng chuyển qua nghĩa lạnh nóng, đêm ngày, mùa đông mùa hè, mặt trăng, mặt trời, chết, sống, yếu mạnh, mềm, cứng, giống cái, giống đực, suy, thịnh, xấu, tốt, hư, thực, tiểu nhân, quân tử, đóng mở, đục trong...
Sau khi có Dịch Kinh và trước khi có Dịch Truyện, âm dương đã chỉ hai cái khí trong vũ trụ rồi. Sách Quốc ngữ chép:
"Bá Dương Phủ nói rằng: Khí dương nén không thoát ra được, khí âm bị nén không bốc ra được, thế là sinh ra động đất."
Bá Dương Phủ đời Tây Chu giải thích vụ động đất xảy ra năm thứ ba đời Chu Vương (-779) như vậy và cho âm dương là hai cái "khí", hai động lực thiên nhiên.
Trước Bá Dương Phủ, có thể là từ đầu thời Tây Chu, khi Văn Vương rồi Chu Công viết Thoán Từ và Hào Từ, người Trung Hoa đã cho âm dương là hai nguyên lí của vũ trụ. Chúng ta đã biết hai nét âm dương (lưỡng nghi) chồng lên nhau, thay đổi cho nhau mà thành tứ tượng, rồi thành bát quái. Có thể Văn Vương hoặc Chu Công đã cho bát quái ý nghĩa: Càn: trời, Khôn: đất, Đoài: chằm, Cấn: núi, Tốn: gió, Chấn: sấm sét, Li: lửa, Khảm: nước, nghĩa là đã dùng hai nét âm dương để tượng trưng, để diễn hai cái lớn nhất trong vũ trụ: trời đất, hai cái khiến người ta chú ý nhất ở trên đất: núi, chằm; hai cái khiến người ta chú ý nhất ở trên trời: gió, sấm sét, và hai cái cần thiết nhất cho đời sống là nước, lửa; tám cái mà người thời đó cho là tám yếu tố, hiện tượng căn bản trong vũ trụ.
Điều chắc chắn là sách Tả truyện và Quốc ngữ chép rằng thời Xuân Thu đã có nhiều người chấp nhận ý nghĩa đó của bát quái rồi (Phùng Hữu Lan dẫn trong Trung Quốc triết học sử - Chương 15 - Tiết 2); và tới thời Chiến Quốc, trước hoặc sau Mạnh Tử, tác giả Thoán Truyện đã cho Càn và Khôn, tức, dương và âm là nguồn gốc của vũ trụ:
"Lớn thay đức đầu tiên của Càn, muôn vật nhờ đó mà bắt đầu, đức đầu tiên của Càn thống ngự phần trời. Mây đi mưa tới, sắp đặt các vật, lưu chuyển các hình."
"Rất mực thay, đức đầu tiên của Khôn, muôn vật nhờ đó mà sinh; đức đầu tiên của Khôn thuận theo trời. Sức dày của Khôn chở được mọi vật, đức của Khôn đúng là không giới hạn. Nó bao dung, rộng rãi, sáng láng, lớn lao. Các phẩm vật đều nhờ nó mà hanh thông."
Xét hai đoạn đó thì tác giả Thoán Truyện cho Càn tạo ra vạn vật ở vô hình, thuộc phần khí; nhưng phải nhờ Khôn, vạn vật mới hữu hình, mới sinh trưởng, cho nên công của Khôn cũng lớn như công của Càn, chỉ khác Khôn phải ở sau Càn, tùy theo Càn, bổ túc cho Càn.
Chúng ta thấy quan niệm đó giống với quan niệm của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, Chương 51:
"Đạo sinh ra vạn vật, Đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục (...) che chở mỗi vật."
Tác giả Thoán Truyện đã chịu ảnh hưởng của Lão Tử chăng? Mà Càn của Dịch tức là Đạo của Đạo đức kinh, Khôn của Dịch tức là Đức của Đạo Đức Kinh chăng?
Không hẳn vậy, vì theo Lão Tử thì những biểu hiện của Đức đều tùy theo Đạo (Không Đức chi dung, duy Đạo thị tòng - Chương 21 - Đạo Đức kinh), nghĩa là Đức là một phần của Đạo: khi chưa hiển hiện trong mọi vật thì là Đạo, khi đã hiển hiện rồi thì phần hiển hiện đó trong mỗi vật là Đức. Mỗi vật đều có Đức mà Đức của bất kì vật nào cũng từ Đạo mà ra, cho nên nó nuôi lớn mỗi vật mà tùy theo Đạo.
Âm đối với Dương thì khác hẳn: hai cái đó độc lập, trái ngược nhau mặc dầu vẫn bổ túc nhau; mà Càn với Khôn cũng độc lập, không thể nói Khôn là một phần của Càn, như Đức là một phần của Đạo được. Hệ từ hạ truyện, chương 6 nói rõ như vậy:
"Càn đại biểu những vật thuộc về dương, Khôn đại biểu những vật thuộc về âm. Đức của âm dương hợp với nhau mà hào cương và hào nhu mới có thực thể..."
Hệ từ thượng truyện, Chương I cũng có nói: "Càn làm chủ, tác động, lúc mới đầu, Khôn làm ngưng kết và thành vật." (Chữ Tri ở đây nghĩa là làm chủ).
Hệ từ hạ truyện, Chương 6 lại bảo: "Càn và Khôn là cửa của Dịch, tức sự biến hóa chăng?" (Càn, Khôn kì Dịch chi môn dã?).
Càn và Khôn trong những câu đó đều có nghĩa là dương và âm.
Lấy Càn và Khôn, tức Dương và Âm làm bản căn của vũ trụ vạn vật, tác giả Thoán Truyện và Hệ từ truyện chủ trương một vũ trụ nhị nguyên chăng?
Nhưng Hệ từ thượng truyện Chương 11, đưa thêm một quan điểm mới mẻ mà trong phần Kinh cũng như trong Thoán Truyện, Tượng Truyện không có, tức quan niệm Thái Cực:
"Dịch có Thái Cực, sinh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái."
Chữ Dịch ở đây có nghĩa là lịch trình biến hóa trong vũ trụ. Lịch trình đó có khởi điểm là Thái Cực. Từ Thái Cực mới sinh ra Lưỡng Nghi (Âm Dương), rồi Tứ Tượng, rồi Bát Quái, tám yếu tố, hiện tượng căn bản trong vũ trụ, như trên đã nói.
Vậy thì nguồn gốc vũ trụ là Thái Cực, chứ không phải âm dương. Suốt Dịch Truyện chúng ta chỉ gặp chữ Thái Cực mỗi một lần đó, Dịch Học phái không cho biết gì thêm. Thái Cực có nghĩa là lớn hơn hết, cao hơn hết, hoặc trước hết cả. Và đa số các học giả đời sau cho nó là cái khí tiên thiên, một thứ linh căn bất sinh bất diệt, huyền diệu trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất, Âm và Dương. Quan niệm đó thật tiến bộ so với quan niệm Thượng Đế làm chủ vũ trụ của các đời trước.
Âm Dương được thống nhất thành Thái Cực rồi, vũ trụ luận của Dịch mới thành nhất nguyên, và Dịch học phái xích gần lại Lão Tử thêm nữa: Thái Cực trong hệ Từ Truyện có thể so sánh với Đạo trong Đạo Đức Kinh.
Thái Cực cũng như Đạo, là nguồn gốc của vạn vật. Nó sinh ra Lưỡng Nghi rồi Tứ Tượng, Bát Quái tức vũ trụ; thì "Đạo cũng sinh ra một, một sinh hai, hai sinh ra ba, ba sinh vạn vật" (Chương 42 - Đạo Đức Kinh); chỉ khác nhau ở chỗ: Thái Cực sinh ra hai (âm dương) ngay, còn Đạo sinh ra một rồi mới sinh ra hai (cũng là âm, dương).
Cái một đó là gì? Không ai biết rõ. Có người đoán rằng một đó là có, mà Đạo của Lão Tử là không. Nếu đúng vậy thì Lão Tử chủ trương từ không sinh ra có rồi từ có mới sinh ra âm dương, sau cùng là vạn vật; còn Dịch học phái không chấp nhận cái không mà bắt đầu ngay từ có, từ Thái Cực.
Mãi khoảng 1.300 năm sau, Chu Đôn Di đời Tống, sửa lại quan niệm của Dịch học phái, cho rằng trước Thái Cực còn có Vô Cực; nghĩa là khởi thủy không có gì cả, rồi mới có Thái Cực, có âm dương, tứ tượng, bát quái. Cho Thái Cực bắt nguồn từ Vô Cực, tức là Lão cho hữu bắt nguồn từ vô. Thế là đời Tống, đạo Nho đã hoàn toàn chấp nhận vũ trụ luận của đạo Lão.
Tới đây ta có thể kết luận bằng bốn hình vẽ nối nhau: hình đầu là tám quẻ đơn sắp thành một vòng tròn, gọi là Bát Quái; hình thứ nhì là một bảng chia làm ba tầng - trên cùng ghi Bát Quái, tầng giữa ghi Tứ Tượng, tầng dưới ghi Lưỡng Nghi - cho thấy từng vạch chia đôi ra sao mà thành tám quẻ; hình thứ ba là Thái Cực đồ quen thuộc, nửa đen nửa trắng ôm lấy nhau, mỗi nửa lại mang một chấm nhỏ của màu đối nghịch; hình thứ tư chỉ là một vòng tròn để trống, gọi là Vô Cực.
Từ Xuân Thu trở về trước, còn là quan niệm nhị nguyên: lưỡng nghi (âm dương) sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái (hai hình đầu). Qua Chiến Quốc hoặc Hán, thêm Thái Cực (hình thứ ba) thành nhất nguyên. Thái Cực gồm âm và dương, cho nên có người gọi là nhất nguyên lưỡng cực (một gốc, một nguyên lí mà hai cái đối lập: âm dương). Tới đời Tống, thêm Vô Cực nữa (hình thứ tư), thành Vô Cực đồ. Như vậy, khởi thủy là Vô Cực rồi mới có Thái Cực, có Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái: hoàn toàn thành nhất nguyên.
Nếu bỏ hình cuối cùng, giữ lại ba hình trên thì gọi là Thái cực đồ.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương V.
