Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Từ truyền thuyết Phục Hi đến bí ẩn Hà Đồ, Lạc Thư

Bói Dịch26/09/202614 phút đọc4 lượt đọc
Từ truyền thuyết Phục Hi đến bí ẩn Hà Đồ, Lạc Thư

Người ta kể rằng một con long mã đội bức đồ hiện lên giữa sông Hoàng Hà, một con rùa thần mang chín nét đếm nổi lên ở sông Lạc, và vua Phục Hi từ đó vạch ra tám quẻ đầu tiên của Kinh Dịch. Nhưng ngay trong chính bộ kinh ấy, hai đoạn kể về nguồn gốc bát quái lại mâu thuẫn nhau, còn hai bức đồ mà đời sau vẫn tin là điềm trời ban thì mãi hơn nghìn năm sau mới được vẽ lại trên giấy. Càng lần tìm về gốc gác, Nguyễn Hiến Lê càng thấy rõ một điều...


Một sách bói trở thành một sách triết

Khắp thế giới có lẽ không có bộ sách nào kì dị như bộ Kinh Dịch.

Nó là một trong ba bộ kinh cổ nhất của Trung Hoa, sau kinh Thi và kinh Thư, nhưng nguồn gốc của nó – tức bát quái – thì có thể sớm hơn, vào cuối đời Ân, 1.200 năm trước Tây lịch.

Nó không do một người viết mà do nhiều người góp sức trong một ngàn năm, từ Văn Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán mới có hình thức gần như hình thức ngày nay chúng ta được biết. Từ Tây Hán đến nay, trên 2.000 năm nữa, thời nào cũng có người tìm hiểu nó thêm, đem ý riêng của mình và tư tưởng của thời đại giọi vào nó, khiến cho ý nghĩa và công dụng của nó mỗi ngày một nhiều và một xa nguồn gốc.

Do đó, không thể gọi nó là tác phẩm của một nhà nào cả, không phải của Khổng gia cũng không phải của Lão gia. Vũ Đồng, tác giả bộ Trung Quốc triết học đại cương (Thương vụ ấn thư quán) gọi nó là tác phẩm chung của một phái, phái Dịch học, mà những người trong phái này gồm nhiều triết gia xu hướng khác nhau.

Mới đầu nó chỉ là sách bói, tới cuối đời Chu thành một sách triết lí tổng hợp những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần; qua đời Hán nó bắt đầu có màu sắc tượng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tượng và số mục, tới đời Ngũ Đại nó được dùng trong môn lí số, đời Tống nó thành lí học; ngày nay một số nhà bác học phương Tây như C. G. Jung – tâm lí gia nổi danh của Đức – và Raymond de Becker (Pháp) muốn dùng nó để phân tích tiềm thức con người, coi nó là một phương pháp phân tâm học.

Điều kì dị nhất là cả môn "dịch học" đó chỉ dựng trên thuyết âm dương: một vạch liền tượng trưng cho dương, một vạch đứt tượng trưng cho âm, hai vạch đó chồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bát quái này lại chồng lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: lục thập tứ quái. Dùng sáu mươi bốn hình này, người Trung Hoa diễn được tất cả các quan niệm của họ về vũ trụ, về nhân sinh, từ những hiện tượng trên trời dưới đất, những luật thiên nhiên tới những đồ dùng, những công việc thường ngày như trị nước, ra quân, trị nhà, cưới hỏi, ăn uống, xử thế...

Các ông "thánh" Trung Hoa đó quả thực có một sáng kiến mới mẻ, một sức tưởng tượng, suy luận lạ lùng, khiến người phương Tây ngạc nhiên; có người Âu (J. Lavier) đã dùng một vài quẻ để giải thích một vài hiện tượng khoa học, sự tiến triển của khoa học.

Sự kiện dùng hai vạch để giảng vũ trụ, xã hội đó thật ít ai quan niệm nổi, cho nên ngay người Trung Hoa cũng đã tạo ra nhiều truyền thuyết để giải thích nguồn gốc Kinh Dịch.

Những truyền thuyết đó nhiều khi mâu thuẫn, vô lí, như huyền thoại, nhưng vì có nhiều người tin chắc hoặc "đành phải chấp nhận vì không có thuyết nào hơn" nên vẫn đáng biết qua.

Truyền thuyết vua Phục Hi tạo ra bát quái

Theo Từ Hải thì Phục Hi còn có tên là Bào Hi, Thái Hạo..., là một trong ba ông vua thời Thái cổ, hai ông kia là Toại Nhân, Thần Nông. Phục Hi dạy dân săn bắn, đánh cá, nuôi súc vật, tạo ra bát quái và thư khế (văn tự, khế ước).

Không hiểu Phục Hi ở thế kỉ nào, có sách nói là thế kỉ 43, có sách nói là thế kỉ 34 trước Tây lịch; ông làm vua 115 năm, truyền được 15 đời, rồi tới Toại Nhân dạy dân dùi cây lao hay cọ hai miếng gỗ với nhau mà lấy lửa, Thần Nông dạy dân làm ruộng.

Theo W. Eberhard trong Histoire de la Chine, tr. 38 (Payot, 1952) thì vào khoảng 450 năm trước Tây lịch, Hoàng Đế còn là một vị thần trong một miền ở tỉnh Sơn Tây; sau có một nhà nho nào đó đưa vị thần đó làm ông vua đầu tiên của dân tộc Trung Hoa, và một vài lãnh chúa tự nhận mình là dòng dõi của Hoàng Đế để tỏ rằng tổ tiên mình còn cao quý hơn tổ tiên nhà Chu, mình cũng xứng đáng làm thiên tử. Do đó, lần lần Hoàng Đế được hầu hết các quý tộc Trung Hoa, kể cả nhà Chu, thờ làm thủy tổ. Đã có ông thủy tổ rồi thì phải kiếm thêm hoặc tạo thêm vài ba vị vua khác như Toại Nhân, Thần Nông, Phục Hi... thành hệ thống tam hoàng, ngũ đế. Nhưng mỗi nhà sắp đặt một khác, cho nên hiện nay có hai thuyết về tam hoàng: Thiên hoàng – Địa hoàng – Nhân hoàng; hoặc Phục Hi – Thần Nông – Hoàng Đế. Và hai thuyết về ngũ đế: Thái Hiệu – Hoàng Đế – Thần Nông – Thiếu Hiệu – Chuyên Húc; hoặc Phục Hi – Thần Nông – Hoàng Đế – Thiếu Hiệu – Chuyên Húc. Đó chỉ là một giả thuyết của Eberhard, nhưng cho ta hiểu được tại sao Khổng Tử (551-479) không nói đến Hoàng Đế: ở thời ông, Hoàng Đế chỉ là một vị thần nhỏ ở miền Sơn Tây thôi.

Như vậy thì Phục Hi không phải là tên một người (cũng như Sào Thị, Toại Nhân Thị, Thần Nông Thị), chỉ là một tên người đời sau đặt ra để tượng trưng một thời đại, thời đại dân tộc Trung Hoa còn ăn lông ở lỗ, sống bằng săn bắn, hái lượm, chưa thể có văn tự, muốn ghi chép việc gì thì dùng cách buộc nút (kết thằng) hoặc lấy đá nhọn gạch những vạch lên một khúc cây, như một số dân tộc lạc hậu hiện nay còn sống thưa thớt ở giữa Phi Châu, Úc Châu, Nam Mĩ Châu.

Nói bát quái có từ thời đó, cách thời chúng ta năm, sáu ngàn năm, thì nó chỉ có thể là những vạch để đánh dấu cho dễ nhớ, như những con số thôi, chứ không có gì khác.

Hà Đồ, Lạc Thư – hai bức đồ bí ẩn

Nhưng Phục Hi phỏng theo cái gì mà vẽ ra bát quái, và vẽ để làm gì? Bộ sách đầu tiên nói đến điểm này chính là Kinh Dịch. Có hai chỗ nói tới.

Thiên Hệ từ thượng truyện, chương 11, viết:

"…Ở sông Hà hiện ra bức đồ, ở sông Lạc hiện ra trang chữ, thánh nhân phỏng theo" (Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi).

Tuy đoạn đó không nói rõ, nhưng đặt nó vào toàn thiên thì phải hiểu rằng Phục Hi phỏng theo bức đồ hiện ở sông Hà, trang chữ hiện ra ở sông Lạc để vạch ra bát quái.

Thiên Hệ từ hạ truyện, chương 2, chép rõ hơn:

"Ngày xưa họ Bào Hi (tức Phục Hi) cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem các hình tượng trên trời, cúi xuống thì xem các phép tắc ở dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi với trời đất của từng miền, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái, để thông suốt cái đức thần minh và điều hòa cái tình của vạn vật."

Như vậy là ngay trong Kinh Dịch đã có hai thuyết mâu thuẫn nhau rồi. Âu Dương Tu, một văn hào đời Bắc Tống, đã vạch ra chỗ mâu thuẫn đó trong tập Dịch đồng tử vấn. Đại ý ông bảo: đoạn trên (chương 11 thượng truyện) nói rằng bát quái là do trời sai long mã ở sông Hà đội lên mà giao cho Phục Hi, không phải do người làm ra; đoạn dưới (chương 2 hạ truyện) lại bảo bát quái là do người làm – Phục Hi xem các hiện tượng trên trời dưới đất mà vạch ra – bức đồ hiện trên sông Hà không dự gì tới. Vậy thì biết tin thuyết nào?

Câu "Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi" dẫn trên lại mù mờ nữa, vì chữ thánh nhân đó không chỉ rõ là ai, một ông thánh hay nhiều ông thánh? Có người hiểu là hai ông thánh: Phục Hi và vua Vũ nhà Hạ (2205-2197 trước Tây lịch).

Do đó phát sinh ra tới bốn thuyết: Phục Hi xem xét các hiện tượng trên trời mà vạch ra bát quái (người đời sau gọi là Tiên thiên bát quái); Phục Hi phỏng theo Hà Đồ mà vạch ra bát quái; Phục Hi phỏng theo cả Hà Đồ lẫn Lạc Thư mà vạch ra bát quái – Hà Đồ và Lạc Thư vậy là cùng xuất hiện trong đời Phục Hi (thuyết này của Du Diễm đời Tống); và Lạc Thư không xuất hiện ở đời Phục Hi mà xuất hiện trong đời vua Vũ nhà Hạ, nghĩa là khoảng một hai ngàn năm sau, vua Vũ phỏng theo nó để vạch ra bát quái (người đời sau gọi là Hậu thiên bát quái). Bát quái này cũng y hệt bát quái trên, chỉ có vị trí các hình là khác thôi, và để đặt ra Cửu trù hồng phạm – tức chín loại về quy phạm lớn của trời đất, nói cho dễ hiểu là chín phương pháp để cai trị thiên hạ. Nhưng Cửu trù hồng phạm chẳng liên quan gì tới Kinh Dịch cả.

Về Hà Đồ, truyền thuyết bảo rằng đời Phục Hi cưỡi một con long mã (loài ngựa thần, hình thù như con rồng mình xanh lục có vằn đỏ) xuất hiện trên sông Hoàng Hà, đội một bản đồ – bản đồ đó là sách mệnh trời ban cho Phục Hi để trị thiên hạ. Những đời sau, mỗi khi có thánh vương xuất hiện như đời vua Nghiêu, vua Thuấn... đều được trời ban cho Hà Đồ.

Còn về Lạc Thư thì trong khi vua Vũ trị thủy, thấy một con rùa thần cũng do trời sai xuống hiện lên ở sông Lạc – một chi nhánh của sông Hoàng Hà – trên lưng có những nét đếm từ 1 đến 9.

Thuyết Hà Đồ chắc khá phổ biến ở đời Chu, chính Khổng Tử cũng tin. Luận ngữ, thiên Tử Hãn, bài 8, ông than thở với môn đồ:

"Chim phượng chẳng đến, bức đồ chẳng hiện trên sông Hoàng Hà, ta hết hy vọng rồi" (Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ, ngô dĩ hĩ phù!).

Chim phượng và Hà Đồ mà xuất hiện là điềm thánh vương ra đời; Khổng Tử không thấy hai vật đó nên cho rằng thánh vương không ra đời thì đạo của ông không sao thi hành được. Có thể ông cũng tin rằng đời Phục Hi có Hà Đồ xuất hiện, còn như ông có cho rằng Phục Hi phỏng theo Hà Đồ mà vạch ra bát quái hay không thì không có gì làm chắc.

Hình Hà Đồ và Lạc Thư hồi mới xuất hiện ra sao, không ai biết. Người ta bảo nó mất từ thế kỉ thứ VII trước Tây lịch – nghĩa là trước thời Khổng Tử hơn 100 năm – mãi tới thời Hán Vũ Đế (140-86 trước Tây lịch), một người cháu đời thứ mười hai của Khổng Tử là Khổng An Quốc, một học giả, đại thần của Vũ Đế, không hiểu căn cứ vào đâu để lập hai hình đó, truyền lại đời sau, rồi lại mãi đến đời Tống Huy Tông (1101-1125) – khoảng mười hai thế kỉ sau Khổng An Quốc – hai hình đó mới được in trên sách như sau:

Hình Hà Đồ và Lạc Thư
Hà Đồ (trái) và Lạc Thư (phải), theo bản in Nguyễn Hiến Lê dẫn lại từ The I Ching của James Legge.

Cả trên hai hình đó (gọi chung và tắt là đồ thư), những vòng tròn trắng đều là số dương (lẻ), những vòng tròn đen đều là số âm (chẵn).

Trên hình Hà Đồ, hai hàng trên và dưới mỗi hàng có 5 vòng đen, cộng với nhau thành 10, 10 là số âm. Chúng ta nhận thấy có những số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9 cộng lại là 25, và những số chẵn: 2, 4, 6, 8, 10 cộng lại là 30. Cộng 25 (lẻ) với 30 (chẵn) được 55.

Trên hình Lạc Thư, có những số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9, cộng cả lại là 25, y như trên Hà Đồ, còn số chẵn chỉ có 2, 4, 6, 8, cộng là 20. Cộng 25 (lẻ) với 20 (chẵn) được 45.

Những vòng tròn trên Lạc Thư được bố trí trên mình con rùa thần như sau: đầu đội chín, đuôi một, hai vai (hay hai chân trước) 2 và 4, hai chân sau 6 và 8, giữa lưng 5.

Chúng tôi xin độc giả để ý: long mã là một con vật trong huyền thoại, con rùa thần mà mang trên lưng những vòng tròn đen trắng như vậy cũng là một huyền thoại nữa! Sao hai hình đó giống nhau thế: số dương (lẻ) đều là 25, ở giữa đều có số 5, những vòng tròn y hệt nhau, mà sao hình bên phải không gọi là đồ như hình bên trái, lại gọi là thư; nhất là so sánh những hình đó với hình bát quái thì dù giàu tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng bát quái phỏng theo hai hình đó được.

Điều này cũng rất đáng để ý nữa. Trên hình Lạc Thư, đếm từ trái qua phải ta thấy: hàng trên có những số 4 (vòng đen), 9 (vòng trắng), 2 (vòng đen); hàng giữa có những số 3 (vòng trắng), 5 (vòng trắng), 7 (vòng trắng); hàng dưới có những số 8 (vòng đen), 1 (vòng trắng), 6 (vòng đen).

Ta thử sắp những con số đó thành một hình vuông rồi cộng theo hàng ngang: hàng trên 4+9+2=15, hàng giữa 3+5+7=15, hàng dưới 8+1+6=15. Cộng theo hàng dọc: hàng bên trái 4+3+8=15, hàng giữa 9+5+1=15, hàng bên phải 2+7+6=15. Cộng theo hai đường chéo của hình vuông cũng được 4+5+6=15 và 2+5+8=15.

Hình vuông kì dị đó, người phương Tây cũng đã tìm thấy từ thời cổ, dùng nó làm bùa, cho nên gọi nó là Carré magique: ma phương.

Trong thiên nhiên đâu có hình như vậy, phải là do óc sáng tạo của loài người. Rõ ràng là Khổng An Quốc hay một người nào khác đã bịa ra để cố giảng vũ trụ bằng những con số, tạo nên môn tượng số học cực kì huyền bí.

Do đó mà đời sau có người lớn tiếng mắng Khổng An Quốc là kẻ có tội nặng nhất với thánh nhân (ám chỉ Khổng Tử, cụ tổ 12 đời của Khổng An Quốc), đã làm cho Kinh Dịch mất ý nghĩa triết lí sâu xa đi mà biến nó thành một tác phẩm vô nghĩa lí. Thực ra người đầu tiên có tội là kẻ viết chương 9 Hệ từ thượng truyện kia; Khổng An Quốc đã căn cứ vào đó chứ không hoàn toàn bịa ra hết.

Nhưng bị người này mắng thì lại được người khác khen là có công với Dịch học, làm cho ý nghĩa Kinh Dịch thêm phong phú, và Kinh Dịch nhờ đó một phần đã thành một kì thư.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương I.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch