Bài tổng quan
Bốc Phệ Chính Tông: Lời Nói Đầu, Lời Tựa, Phàm Lệ Và Cách Ngôn
Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông của Vương Hồng Tự là một trong những bộ sách kinh điển của khoa Lục Hào, và giá trị ấy hiện rõ ngay từ những trang mở cửa. Lời Nói Đầu của dịch giả Vĩnh Cao kể nguồn gốc, lịch sử truyền bản và giá trị của bộ sách. Lời Tựa của Trương Cảnh Tùng, viết đời Khang Hy, thuật giai thoại về Vương Sơn Nhân đoán Dịch như thần và bộ Hoàng Kim Sách. Phàm Lệ nêu nguyên tắc biên soạn, nguồn gốc Thập Bát Luận cùng tâm sự của tác giả khi viết sách. Bốc Phệ Cách Ngôn là những lời răn về lòng thành khi xem quẻ. Lời răn ấy còn thẳng thắn cảnh báo cái hại của thầy bói bất lương, đặt ngang hàng với cái hại của thầy thuốc bất lương.
Mục lục · 4 phần
Lời Nói Đầu
Cuốn "Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông" do Vương Duy Đức, tự Hồng Tự, người ở Tây Sơn thuộc Động Đình viết ra. Gọi là "Tăng bổ" — nghĩa là bổ túc thêm — vì Bốc Dịch vốn là môn học tối cổ, được lưu truyền từ xa xưa. Những phần ghi chép trong sách đều được lấy từ những tư liệu truyền đời; chỉ riêng những phần đính chính, giải thích mới do chính tác giả sáng tác, dựa trên hiểu biết và sự vận dụng Dịch học của mình.
Vương Duy Đức là người sống vào đầu đời nhà Thanh, nghiên cứu Dịch học từ nhỏ. Công danh của ông trắc trở, gia nghiệp bị phá bại, khiến ông phải hành nghề bói toán để độ nhật. Đến cuối đời, ông gom lại những điều hiểu biết cùng kinh nghiệm hành nghề của mình để viết thành sách, để lại cho người sau. Theo ông, cái học của mình có được một phần do tự nghiên cứu từ nhỏ, trải qua nhiều năm; một phần do Dương Quảng Hàm tiên sinh truyền lại. Nhưng phần lớn nội dung sách này vẫn là chú giải, bài bác những điều mà tác giả hiểu khác đi so với những tư liệu truyền lại từ xưa. Chính tác giả cũng nói rõ: trong sách, chỉ có phần Thập Bát Luận ở quyển ba, và phần Thập Bát Vấn Đáp ở quyển mười ba, mười bốn, là do ông tự viết cùng những kinh nghiệm được thầy truyền lại; còn lại đều là những phần đính chính, giải thích, cùng sưu tầm tư liệu cổ.
Vương Duy Đức sống vào đầu đời nhà Thanh, nhưng trước đó, vào đời Minh, môn Bốc Dịch đã khá phổ biến, được nhiều người nghiên cứu, nhiều tác phẩm được khắc in. Theo ông, chính phần Hoàng Kim Sách mà ông ra công chú giải là do Lưu Bá Ôn — người đầu đời Minh giỏi về thuật số — viết ra. Cách vận dụng Ngũ Hành trong Dịch, cùng cách lượng định chính phụ của các hào trong quẻ, có nhiều quan điểm khác nhau giữa các phái. Nhờ hành nghề lâu năm, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nên trong sách, ông bài bác khá nhiều quan điểm cổ cùng những quan điểm nêu ra trong một số sách lưu hành đương thời, cốt để đính chính cho hợp với những nguyên tắc đã được chuẩn định đối với môn học này.
Môn Bói Dịch vốn đã có một bước chuyển biến sâu rộng từ thời Quỷ Cốc Tiên Sinh — một nhân vật sống vào đời Chu — khi ông đổi từ phép xem dùng cỏ thi sang cách dùng đồng tiền, khiến môn học này được phổ biến rộng rãi, không còn là chuyện riêng của giới coi bói toán trong triều đình nữa. Nhờ vậy mà từ đó, môn học được xiển dương. Nhưng trải qua mấy ngàn năm, người nghiên cứu quá nhiều, khiến việc hiểu biết và vận dụng có nhiều sai biệt, rồi từ đó tạo thành nhiều môn phái với những kiến giải riêng rẽ. Việc am hiểu Dịch còn tùy thuộc vào thiên tư của từng người, nên không phải ai cũng đạt đến chỗ thâm sâu, áo diệu — dù có lắm người nổi tiếng lúc hành nghề Bói Dịch, nhưng kiến giải cũng không được sâu sắc, khiến những điều truyền lại cho người sau cũng không đạt được lý lẽ chính xác. Vương Duy Đức vốn là người nghiên cứu, bất đắc dĩ mới phải hành nghề độ nhật, nhưng cũng nhờ đó mà thu thập được nhiều kinh nghiệm thực tế, nên đã cố gắng đính chính, giải thích theo đúng hiểu biết của mình. Chính vì thế mà trong sách có khá đầy đủ những câu phú truyền tụng từ xưa — từ những câu mang tính học thuật, cho đến những câu hết sức bình dân, vẫn được các thầy bói áp dụng khi hành nghề.
Khi đem khắc in, nội dung sách còn có sự góp ý của những nhà khoa bảng, cũng là học giả đương thời: Nhu Tôn Thì, Ngô Tường Chung và Anh Tử Xán. Sách được phân thành mười bốn quyển, mỗi quyển gồm nhiều phần khác nhau nhưng không chia thành chương. Từ quyển bốn đến quyển mười hai đều là những câu phú cổ về tạp sự, kèm chú thích rõ ràng. Phần cơ bản về Dịch học và Ngũ Hành, được trình bày ở quyển một và hai, lại khá đơn giản.
Đọc kỹ nội dung sách sẽ thấy không chỉ do một người viết, mà có những phần được thêm vào bởi người đương thời hoặc người sống sau tác giả — vì cách hành văn nhiều khi quá đơn giản, không phải của người có học cao, cùng những luận giải không được sâu sắc như tinh thần chú thích Hoàng Kim Sách, vốn là phần phú chính yếu chắc chắn do chính tác giả viết. Sách lại ôm đồm quá nhiều phần về tạp sự, nên việc chú thích khó tránh khỏi nhầm lẫn, võ đoán, khiến người đọc khó nắm được đâu là phần chính, đâu là phần phụ, để mà áp dụng cho các quẻ Dịch. Ngoài ra, phần cơ bản lại quá ngắn gọn, trong khi phần lý luận được nâng lên rất cao, nên sách thích hợp hơn cho những người đã từng có nghiên cứu về Bốc Dịch. Dù vậy, đây vẫn là một cuốn sách quan trọng trong việc nghiên cứu, học hỏi về Bốc Dịch — kẻ hậu học muốn tiến xa, không thể không đọc sách này.
Sách được lưu truyền rộng rãi trong giới nghiên cứu Dịch học ở nước ta vào thời nhà Nguyễn. Nhưng ở bước đầu học Dịch, người ta thường phải kết hợp đọc thêm "Tăng San Bốc Dịch" của Dã Hạc Lão Nhân, vì nội dung về những lý thuyết cơ bản trong sách ấy được trình bày cặn kẽ hơn. Hai cuốn "Bốc Phệ Chính Tông" và "Tăng San Bốc Dịch" vì thế đều được phổ biến rộng rãi ở Trung Hoa lẫn nước ta. Cũng như "Tăng San Bốc Dịch", "Bốc Phệ Chính Tông" được khắc in nhiều lần, và những lần về sau cũng có đôi chỗ in nhầm, nhưng không đáng kể. "Bốc Phệ Chính Tông" có quan điểm cho rằng một quẻ Dịch có thể đoán định được nhiều việc — đây cũng chính là điểm tương phản với "Tăng San Bốc Dịch" — nhưng lại được người bói Dịch áp dụng và cho kết quả chính xác.
Sách này trước đây đã từng được dịch vào thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, nhưng chỉ dịch những phần chính yếu, rồi chép tay cho các thân hữu nghiên cứu. Nay có cơ hội nên dịch trọn bộ các phần, kể cả những phần không được lý luận thâm sâu, cốt sao lưu giữ được đầy đủ những tư liệu truyền lại từ xưa. Ngoài ra còn đính kèm chữ Hán ở phần nội dung chính yếu, để người đọc tiện bề tham khảo. Tuy nhiên, vì nguyên bản được sắp xếp không được rành mạch theo tinh thần hiện đại, nên khi dịch, dịch giả đã phân lại thành các chương khác nhau — những chương có nội dung gần gũi thì đặt sát liền nhau. Phần đính chính sai lầm của các sách đương thời được tách riêng, chuyển vào phần Phụ Lục; những phần tạp thư như Hà Tri Chương, Yếu Nghiệt Phú… vốn trình độ không cao, cũng được chuyển vào Phụ Lục. Riêng phần Tân Tăng Gia Trạch, tuy khá lộn xộn và không sâu sắc, lại được chuyển vào ngay sau phần Gia Trạch cho tiện tra cứu. Ngoài phần chú thích của chính tác giả, dịch giả cũng có kèm theo những kiến giải riêng ở phần chú thích cuối trang.
Với một cuốn sách có quá nhiều phần nghiên cứu khác nhau như vậy, khó tránh khỏi những chỗ lầm lẫn khi dịch. Nếu thân hữu cũng như người đọc ở các nơi có điều gì chê trách hay góp ý, đó sẽ là điều may mắn, để dịch giả sửa đổi trong những lần in sau.
Lời Tựa
Từ xưa, nói về Bốc Phệ, người ta bảo chẳng ai thần diệu hơn Tử Dương trong sách Tả Thị Xuân Thu. Chu Tử bảo rằng thời Tam Đại có đặt chức Thái Bốc, Thái Phệ, có quan chuyên trông coi việc Bốc Phệ, nên thuật ấy thật tinh vi mà ứng nghiệm như thần. Đến đời sau, chức quan này bị bỏ, sách chiêm nghiệm về Bốc Phệ cũng không còn được truyền lại đầy đủ, nên ít người thấu rõ được cái thần diệu ấy. Nhưng gần đây, như các thiên trong Hoàng Kim Sách mới đạt được đến chỗ cùng cực áo diệu của âm dương, huyền cơ của biến hóa. Tuy vậy, phần giảng giải cũng chưa chạm đến tận cội nguồn, người xem cũng không tránh khỏi sai lầm, nên chưa truyền lại được trọn vẹn tinh túy của cổ nhân. Nếu có người học rộng, nghĩ sâu, thông tuệ mà được trao sách này, thì mới có thể xiển dương được hết những điều vi diệu, kỳ ảo trong đó.
Vương Sơn Nhân, người đất Lâm Ốc, buông rèm đoán Dịch ở Ngô Quận, ở ngay sát mé đông nhà ta. Hễ ai có điều gì ưu nghi, chỉ cần đến gõ cửa, ắt được ứng nghiệm chẳng sai, chẳng khác nào ánh đèn soi sáng chỗ tối tăm. Bao nhiêu người xa gần đều ca ngợi ông như thần. Nhưng Sơn Nhân lại từ chối, không nhận lời khen ấy về mình, mà bảo rằng: điều ông có được chính là sách chiêm nghiệm do thầy ông — Dương Quảng Hàm tiên sinh — truyền lại, mà những sách khác chưa thể sánh bằng. Mấy năm gần đây, Sơn Nhân càng thêm tiến bộ, bèn chấp nhặt lại mà viết thành một bộ sách, cho khắc in.
Tôi có viết lời tựa rằng:
"Thánh hiền xưa nay chỉ nói cái lý mà không nói cái số. Nhưng Thái Dịch — tức sách Bốc Phệ này — lại thiết lập ra được cả sự hưng thịnh, cát hung, họa phúc lẫn lộn của đời người, có thể biết trước được việc sắp xảy đến. Lấy số để lường thì rất chính xác, mà lấy lý để đoán thì lại càng thấu triệt. Nay bộ sách của Sơn Nhân đã đầy đủ chỗ tinh vi, diệu nghiệm, kể ra cũng là độc nhất vô nhị; nhưng nếu người đọc không quán triệt được lẽ sinh khắc của Ngũ Hành, sự biến hóa của Âm Dương, thì sao có thể gọi là hiểu được cái học về số. Cho nên, sách này tuy là sách nói về số, nhưng thực chất lại là sách nói về lý. Cũng bởi Sơn Nhân đã dày công nghiên cứu thâm sâu, nên mới làm rõ được cái thần diệu của khoa Bốc Dịch từ ngàn xưa — nếu không, thì làm sao mà xiển dương được đến vậy."
Khang Hy, năm Kỷ Sửu, tháng mười, mùa đông.
Trương Cảnh Tùng, ở Ngô Quận, viết tại Dung Giang Thảo Đường.
(Tử Dương trong bài vốn là hiệu mà các bậc thần tiên ngày xưa thường dùng — Lý Bát Bách đời Chu Mục Vương xưng hiệu Tử Dương Chân Quân, đời Hán có Chu Nghĩa Sơn, đời Tống có Trương Bá Đoan đều xưng Tử Dương Chân Nhân; ở đây có lẽ chỉ Lý Bát Bách. Chu Tử tức Chu Hi, một học giả đời Tống, từng chú thích rất nhiều kinh sách. Vương Sơn Nhân chính là tác giả của bộ sách này — Vương Hồng Tự.)
Phàm Lệ
Bốc Phệ vốn để dẫn dắt kẻ ngu muội, giải tỏa nỗi ngờ vực trong lòng, dạy người biết trốn hung tìm cát. Sáu hào đã được lập ra, sự biến hóa của Dịch đã được bày tỏ, lý lẽ trong đó hết sức thích đáng, không hề thay đổi. Chỉ vì người đời không tiêu hóa nổi, không thể cứu xét cho thấu đáo, nên thường mê hoặc lẫn nhau, thật đáng buồn. Sách này lấy chính lý làm cội nguồn, không dám nói càn, nói phỏng mà khiến người sau sai lạc. Vì thế mới gọi là "Chính Tông".
Từ khi Quỷ Cốc Tiên Sinh dùng đồng tiền thay thế cho cỏ thi, đường lối của Dịch cũng theo đó mà biến đổi. Những điểm trọng yếu như Dụng Thần, Nguyên Thần, Kỵ Thần, Cừu Thần, Phi Thần, Phục Thần, Tiến Thần, Thoái Thần, Phản Ngâm, Phục Ngâm, cùng Tuần Không, Nguyệt Phá… đều là những cương lĩnh nằm trong quẻ, không thể sơ suất, cẩu thả được. Vì thế mới quy định thành Thập Bát Luận, và không có điều gì vượt ra ngoài mười tám điều ấy. Người học nên tham khảo cho thật kỹ càng.
Từ xưa, các sách luận về Phi Thần, Phục Thần vẫn nói rằng Càn Khôn qua lại trao đổi lẫn nhau. Sách Dịch Lâm Bổ Di lại nói mọi hào đều có Phục có Phi — đó là một sai lầm; rồi người sau cứ noi theo cái sai ấy mà thành nếp, không hề xem xét lại. Trong sách này, ta phân ra từng quẻ, định rõ đâu là Phi, đâu là Phục, để người học chỉ cần liếc mắt qua là có thể hiểu ngay.
Trong Bốc Dịch, những phần như Thông Huyền Phú đều được các sách Dịch Lâm Bổ Di, Dịch Mạo, Tăng San Bốc Dịch ghi chép lại. Tuy các sách ấy cũng nêu ra được những điểm tinh túy, những chỗ khác biệt, không thiên kiến, nhưng lại có nhiều chỗ mâu thuẫn nhau, khiến người học không khỏi băn khoăn. Chỉ riêng Hoàng Kim Sách, do Lưu Thành Ý viết, mới xiển dương được cái lý thâm sâu của Tiên Thiên, làm cầu nối dẫn lối cho kẻ hậu học. Thiên Thiên Kim Phú Tổng Luận trong đó cũng bao hàm ý nghĩa rất thâm sâu; tiếc thay, phần chú thích của Diêu Tế Long lại có rất nhiều chỗ lầm lẫn, thậm chí đi ngược với ý nghĩa chính xác. Ta đành phải khổ công ra sức đính chính lại. Nếu có ai bảo ta mắc tội vì việc này, ta cũng xin chịu vậy.
Ta từ nhỏ đã nghiên cứu Dịch lý được nhiều năm, về sau may mắn được gặp Dương Quảng Hàm tiên sinh ở Tân An, nhờ đó mà được truyền thụ sở học của thầy. Phần Thập Bát Vấn ở quyển mười ba và mười bốn của sách này đều là những điều thầy ta truyền lại, cộng thêm những chiêm nghiệm của chính ta. Người học phải đọc thật kỹ mới có thể nắm được cách chính yếu để khai mở những điều còn chưa rõ. Rồi kết hợp thêm với Thập Bát Luận, cùng những điểm luận về sai lầm trong các sách khác, thì những lẽ thâm sâu, áo diệu của trời đất mới được bày tỏ trọn vẹn.
Ta từng buông rèm hành nghề nơi chốn thị tứ, ngày ngày qua lại với biết bao người. Nhưng trong lòng vẫn nghĩ đến ngày sau sẽ trở về núi cũ, kết một thảo am nơi rừng sâu, từ tạ với cõi đời, nên mới viết thành sách này, cất giữ nơi thạch thất, không còn muốn giao tiếp với ai nữa. Nhưng chắc hẳn những ghi chép nông cạn này khó tránh khỏi bị chê bai bởi những người sáng suốt, giỏi luận bàn. Dù vậy, nếu bậc quân tử cao minh ở khắp nơi có lòng chỉ bảo thêm, thì đó thật là điều may mắn lớn cho ta.
(Quỷ Cốc Tử, theo một số sách chú thích, tức là Vương Hủ, sống vào thời nhà Chu. Thời cổ, việc bói Dịch vốn dùng cỏ thi; đến Quỷ Cốc Tử mới đổi sang dùng ba đồng tiền, lấy sấp ngửa mà định âm dương. Lưu Thành Ý tức Lưu Cơ, tự Bá Ôn, giỏi cả văn học, thiên văn lẫn binh pháp, từng theo giúp Minh Thái Tổ thống nhất thiên hạ, được phong tước Thành Ý Bá.)
Bốc Phệ Cách Ngôn
Bói là đạo thông với thần minh, để định rõ hung cát, quyết đoán những điều ưu nghi, phân biện âm dương qua hào tượng, xét huyền cơ trong sự biến hóa. Ý nghĩa của nó hết sức tinh vi, mà lại thông suốt vô cùng. Kinh có câu:
"Đạo chí thành thì có thể biết trước."
Cho nên, người đi xem bói mà không thành tâm thì chẳng thể cảm thông được với thần minh; còn người thầy mà vọng đoán bừa thì quẻ cũng chẳng linh nghiệm. Đó là điều cần phải bàn cho rõ.
Người đời có việc cần mới đi bói, nhưng cái chữ "Thành" ấy phần nhiều vẫn chưa được hiểu rõ. Có kẻ vừa uống rượu, ăn chay lẫn ăn mặn hỗn tạp, lại tà dâm, không giữ mình cho trong sạch, thì đến lúc lâm sự muốn cảm thông với thần minh, hỏi làm sao mà cảm được. Lại có kẻ giàu sang, xem nhẹ chuyện bói toán, cậy nhờ thân bằng quyến thuộc, hoặc sai khiến kẻ ăn người ở đi xem hộ mình — mà lòng người đi thay đã chẳng thành, nên quẻ bói không ứng, không linh, rồi lại quay ra kết tội cho ông thầy, mà không hay biết chính mình đã không đạt được lòng thành. Đó là cái lỗi thuộc về người đi xem.
Còn những ông thầy xem bói mà lòng hiếu lợi, dùng việc bói toán để đánh lừa người khác, thì lại càng đáng trách hơn. Có người đến xem về bệnh tật, việc vốn chẳng quan trọng gì, nhưng ông thầy lại nhẫn tâm cấu kết với tăng ni, đạo sĩ, bày đặt ra đủ thứ lễ nợ, đoán bừa để cầu lợi cho mình. Lại còn nhìn vào cảnh giàu nghèo của người đến xem mà định liệu đoán nhiều hay ít. Đoán bậy rồi dẫn dụ người xem đến chùa này, đạo quán nọ, bắt lễ bái bao nhiêu lượt, hay đến am miếu nào đó tụng kinh bao nhiêu ngày. Người đi xem trong lòng hoang mang, việc gì cũng nghe theo. Với người giàu có thì còn dễ mà kham; còn người nghèo thì phải cầm cố áo quần, bán tháo đồ đạc mà mang lấy nợ nần. Nếu người bệnh được lành, thì thầy bảo là nhờ công lễ bái ấy; còn nếu chẳng may người bệnh chết, thì lại đổ cho rằng tụng kinh chưa đủ… Nhưng đến lúc ấy, người đã mất rồi thì trách cứ có ích gì nữa. Đó chính là cái hại của phường tăng đạo giả danh.
Lại có kẻ mới học nghề thuốc, mạch lý còn chưa thông tường, mà đã được người xem bói giới thiệu đi chữa bệnh cho người ta; kẻ ấy sở đắc chẳng qua chỉ là mấy tiết lễ cúng cấp, cuối cùng khiến người bệnh phải chịu cái hại chết người. Đó là cái hại thuộc về hạng lang băm. Cả hai điều tệ hại ấy — tăng đạo giả danh và lang băm nửa mùa — ở chốn kinh thành này, nơi nào cũng có, chẳng thiếu.
Ta buông rèm xem bói cũng chính là để trừ bỏ những mê hoặc như thế. Cứ theo đúng quẻ mà suy đoán, chẳng có gì là không ứng nghiệm; mong dựa vào sự tinh chuyên trong việc học, chứ không dám vọng đoán liều lĩnh. Rồi nhờ có được đôi chút sở đắc, ta mới góp nhặt lại mà soạn thành cuốn Bốc Phệ Chính Tông này, những mong được các bậc cao minh chỉ giáo thêm cho. Chỉ sợ rằng người đến xem không có lòng thành, khiến quẻ xem chẳng ứng; hoặc người đoán lại chiêm nghiệm sai lầm, nên quẻ không được linh ứng. Đó là những điều cần thưa trước, mong người đọc rộng lòng lượng thứ cho.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
