Bài tổng quan
Quan Phương Thập Dụ, Cách Cục, Ngũ Hành Sinh Khắc Và Những Bài Phú
Một lá số không thể đọc bằng từng sao riêng lẻ, mà phải cân đo cả thế đứng của các cung. Quan Phương Thập Dụ là mười phương pháp cổ nhân dùng để xét bản phương, đối phương, hợp phương và lân phương. Các cách cục hợp và bất hợp được đặt tên riêng cho cung Mệnh, kèm lời phản biện những chỗ chưa ổn trong cách phân loại ấy. Mười hai cung tuy chia cách nhưng liên hệ mật thiết, điều thấy ở Mệnh có thể tìm lại ở cung khác. Ngũ hành trong Tử Vi chỉ đơn giản là sinh khắc, khác với lối biện chứng phức tạp của Tử Bình. Các bài phú cổ điển cùng hàng chục câu phú lẻ có chú giải giúp nối những nguyên tắc ấy vào thực tế. Đáng lưu ý, có lúc chính sự khắc lại là điều cần thiết.
Quan Phương Thập Dụ
Phương là gì? Phương gồm có bản phương, ngay tại cung Mệnh. Đối phương là cung Thiên Di (đối xung). Hợp phương là cung tam hợp. Lân phương là hai cung giáp Mệnh. Cổ nhân đưa ra mười phương pháp:
1) Bản phương tốt đẹp như sức lực tự mình (do nội tự cường).
2) Đối phương tốt đẹp ví như được gió xuân thổi tới (nghinh diện xuân phong).
3) Hợp phương tốt đẹp ví như những nguồn giúp đỡ kèm bên (Tả Hữu phùng nguyên).
4) Lân phương tốt đẹp như có phe cánh trợ lực (lưỡng lân tương phù).
5) Cung lẫn phương đều tốt đẹp ví như cả ngàn may mắn chầu về (thiên tường vân tụ).
6) Bản phương hung xấu như rễ đã bị cắt (tòng căn tự phạt).
7) Đối phương xấu hung ví như đưa đầu chịu búa (đương đầu ác bổng).
8) Hợp phương xấu, hung ví như bị đánh hai mặt (Tả Hữu thụ dịch).
9) Lân phương xấu, hung ví như nhiều phe thù ghét (lưỡng lân tương vũ).
10) Phương, cung đều hung xấu ví như khắp nơi bị công hãm (tứ diện Sở ca).
"Quan phương thập dụ", cổ nhân muốn nói đến nguyên tắc căn bản để cân đo luận đoán một lá số. Rồi người xưa lại đặt bài thơ như sau:
Cát hung tối yếu tế phân minh
Bản đối hợp lân hữu trọng khinh
Tứ diện Sở ca chung tất bại
Thiên tường vân tập tự nhiên hanh
Tự cường tài thị hào nhân gia
Lân sá duy cung cẩm thượng hoa
Nhược đáo phùng nguyên chân cảnh địa
Xuân phong chi khả cảm tương sai
Lưỡng lân tương vũ khởi vi tai
Tự phạt tài giao đại khả ai
Dị đóa đương đầu nhất côn bổng
Nan phòng Tả Hữu tạp binh lai.
Ý bài thơ nói rằng: khi đã ở vào thế "tứ diện Sở ca" thì thế nào cũng thất bại. Số mà "thiên tường vân tập" sớm muộn nhất định thành công. Sức mạnh của lá số chủ yếu là tự cường (Mệnh cung đầy đủ lực lượng) trước đã, hợp phương có tốt chỉ là gấm thêm hoa. Những sao chiếu theo tam hợp và đối phương là những sức phò trợ đáng kể. Nhưng nếu như sức phò trợ ấy mà gặp Mệnh bị mất rễ cũng vô ích. Các cung giáp Mệnh dù cho xấu chăng nữa mà Mệnh có nội lực tự cường thì chẳng sao. Nhược bằng Mệnh ở tình trạng "tòng căn tự phạt" thì dù có tránh được búa rồi cũng bị tràn ngập, bị vây hãm hủy diệt mà thôi.
"Quan phương thập dụ" đặt trọng tâm luận đoán vào Mệnh cung. Trước nhất Mệnh phải mạnh đã. Mệnh yếu dù các phương khác có hay cũng chỉ bình thường. Như vậy câu: "Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như vận hảo" không hoàn toàn chính xác.
Nếu Mệnh xấu thì vận có thật tốt chăng nữa, mọi sự thành công cũng chỉ là hư hoa. Không ai Mệnh xấu, vận hay mà gây được cơ nghiệp đáng kể bao giờ.
Mệnh cung tự cường, mới hưởng được cái tốt của Quan Lộc và Tài Bạch. Chuyển sang vận thì vận chỉ tốt khi cung đại vận có nội lực tự cường đã, rồi mới tính đến tam hợp, hay đối phương hoặc lân phương. Ví dụ vận đến cung có Cự Đồng, dù tam phương hay xung chiếu được Khoa Quyền Lộc cũng chẳng hay bao nhiêu.
Đến như quan hệ Mệnh với Thân, cũng vẫn tiếp tục phải kể Mệnh làm chủ yếu. Mệnh mà "tòng căn tự phạt" thì dù Thân có "thiên tường vận tập" cũng chẳng nên công trạng to tát.
Những Cách Cục
Cách cổ nhân chia làm hai loại: hợp và bất hợp (hay dở).
Hợp cách gồm có:
Cực hướng ly minh — Tử Vi đóng Ngọ cung, có Tả Hữu và không bị sát tinh.
Tử Phủ đồng độ — Tử Vi, Thiên Phủ tại Dần Thân, không hung sát tinh hay Tuần Triệt.
Tử Vi triều viên — Tử Vi, Thiên Phủ đắc địa chiếu Mệnh.
Vũ Tham đồng độ — Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung hoặc một thủ một chiếu. Cách này cần được Linh Tinh hay Hỏa Tinh mới hay.
Tướng tinh đắc địa — Vũ Khúc tại miếu vượng thủ Mệnh.
Phủ Tướng triều viên — Thiên Phủ, Thiên Tướng đắc địa chiếu Mệnh.
Cơ Lương gia hội — Cơ Lương ở Thìn Tuất gặp Lộc Khoa hay Lộc Quyền hoặc song Lộc.
Nhật chiếu lôi môn — Thái Dương tại Mão thủ Mệnh mà sinh ban ngày.
Cự Cơ đồng lâm — Thiên Cơ ở Ngọ hay Tí, Cự Môn xung chiếu; hoặc Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung ở Mão Dậu.
Nguyệt lãng thiên môn — Thái Âm thủ Mệnh tại Hợi mà sinh ban đêm.
Nhật Nguyệt đồng minh — Mệnh ở Sửu Mùi, Âm Dương ở Hợi Mão hoặc Tị Dậu.
Tam hợp Hóa Tham — Tham Lang đắc địa, tam hợp gặp Hóa Lộc hay Linh Tinh.
Thạch trung ẩn ngọc — Cự Môn ở Tí hay Ngọ, không bị hung sát tinh.
Hóa tinh ngộ quí — Tứ Hóa hợp với sao thủ Mệnh, như Thiên Đồng tại Tuất mà tuổi Đinh; Cự Môn đóng Thìn mà tuổi Tân.
Thọ tinh nhập miếu — Thiên Lương đóng Ngọ, không sát hung.
Thất Sát triều đẩu — Thất Sát đóng cung Thân hay Dần.
Anh tinh nhập miếu — Phá Quân thủ Mệnh tại Tí Ngọ.
Văn Lương chấn kỷ — Thiên Lương, Văn Khúc thủ Mệnh tại vượng địa.
Văn tinh sùng mệnh — Xương Khúc thủ hay chiếu Mệnh.
Tả Hữu đồng lâm — Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung tại Mệnh.
Tam kỳ gia hội — Hội tụ vào Mệnh cung đủ bộ Khoa Quyền Lộc, tức là tam hợp chiếu.
Tả Hữu Khoa viên — Mệnh có Tả Hữu đứng bên Hóa Khoa hoặc Khoa chiếu.
Thiên Ất củng Mệnh — Mệnh có Khôi Việt thủ chiếu.
Văn Quế Văn Hoa — Mệnh ở Sửu Mùi gặp Xương Khúc đồng cung.
Lộc hợp uyên ương — Mệnh có song Lộc thủ hoặc thủ chiếu.
Song Lộc triều viên — Hai sao Lộc chiếu về Mệnh.
Nhị diệu đồng lâm — Mệnh ở Mùi có Nhật Nguyệt từ Sửu chiếu; hoặc Mệnh đóng Sửu có Nhật Nguyệt từ Mùi chiếu.
Đan trì Quế trì — Mệnh có Thái Dương ở Thìn Tỵ, Thái Âm ở Dậu Tuất xung chiếu.
Quyền Lộc tuần phùng — Quyền Lộc thủ Mệnh.
Giáp đệ đăng dung — Hóa Khoa thủ Mệnh cùng các cát tinh khác.
Khoa danh hội Lộc — Hóa Khoa, Hóa Lộc chiếu Mệnh.
Phụ cùng văn tinh — Văn Xương thủ Mệnh có Tả Hữu chiếu.
Quyền Sát Hóa Lộc vinh — Kình Dương đắc địa, Hỏa Tinh Linh Tinh đắc địa, đứng cùng Hóa Lộc.
Bất hợp cách gồm có:
Cực cư Mão Dậu — tức là Tử Vi, Tham Lang ở cung Mão. Mệnh vô chính diệu.
Cự phùng tứ sát — Cự Môn hãm gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh. Kể cả Cự Môn đắc địa cũng không tốt.
Văn tinh ngộ hiếp — Mệnh có Văn Xương, Văn Khúc bị Địa Không, Địa Kiếp.
Mệnh vong Tị Hợi — Thiên Cơ thủ Mệnh tại Tị hay Hợi mà đứng cùng hung sát tinh.
Khoa tinh phùng phá — Mệnh có Hóa Khoa nhưng lại thấy Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh hãm xung phá.
Những cách cục trên đây cổ nhân chỉ nói cung Mệnh thôi. Vậy thì Mệnh cung vẫn là chủ yếu cho việc luận đoán lá số. Cũng như khoa Tử Bình, Can Chi của ngày sinh được xem là trọng tâm cho sự xoay chuyển của ngũ hành từ năm, tháng, giờ.
Qua những cách cục trên, ta thấy một vài điều không được ổn sau đây:
Cách Mệnh vô chính diệu bị liệt vào hàng bất hợp cách; nhưng theo kinh nghiệm, Mệnh vô chính diệu vẫn có thể là một cách hợp, còn là cách tốt, tùy thuộc phụ tinh nào đứng đó. Ví dụ Kình Dương độc thủ, hay Đà La độc thủ, hoặc Linh Tinh, Hỏa Tinh đắc địa độc thủ, đâu phải là cách dở hay bất hợp cách.
Về cách Phủ Tướng triều viên, sách không nói rõ ràng, vì Phủ Tướng đứng một mình thường chầu vào Mệnh vô chính diệu. Phủ Tướng triều viên ở đây hẳn là Thiên Phủ đứng cùng Liêm Trinh, và Thiên Tướng đứng cùng Vũ Khúc.
Phủ Tướng đơn độc chầu Mệnh chỉ là cách bình thường, không đáng kể, tốt với nữ mạng hơn nam mạng. Phủ Tướng đứng riêng chầu Mệnh thì đương nhiên cung Thiên Di là Vũ Tham ở Mùi hay Sửu; nếu có hay là do Vũ Tham có Hỏa Tinh, Linh Tinh đi kèm.
Sự Liên Hệ Của Thập Nhị Cung
Lá số có mười hai cung: Mệnh rồi Bào rồi Thê... rồi đến Phúc Đức và Phụ Mẫu. Tuy chia cách biệt ra nhưng chúng lại có liên hệ khi luận đoán số.
Người ta có thể tìm thấy ở Mệnh cung sự thay vợ đổi chồng hay góa bụa, nhưng những điều này cũng lại tìm thấy cả ở cung Thê nữa. Ví dụ người nữ có Thiên Lương tại Mệnh ở Hợi hay Tị mà gặp Thiên Mã dễ bỏ chồng. Những sao ấy chuyển qua cung Thê tình trạng cũng tương tự.
Câu phú: "Thiên Lương ngộ Mã chẳng bàn / Có chồng lại bỏ theo làng bướm hoa" khả dĩ áp dụng cho cả hai cung. Tuy nhiên nếu chúng đóng Mệnh thì phiền phức hơn đóng vào cung Phối. Ví dụ câu phú "Thất Sát đan cư Phúc Đức" (sao Thất Sát hãm đóng cung Phúc Đức) cũng ảnh hưởng đến thân phận người ta, đưa đến lận đận chồng con.
Ví dụ cung Điền Trạch có thể cho ta được những đoán định rằng con người mang số với cung Điền ấy phải bỏ nhà đi sớm, không cứ phải qua Mệnh cung mới đoán ra điều này.
Ví dụ cung Phụ Mẫu mà có Đào Hoa, Cự Kị thì bố mẹ bất thuận, chia tay. Nhưng nếu Đào Hoa, Cự Kị tại Mệnh cũng có thể đoán như vậy, hoặc cho thấy mình là con tư sinh, hoặc chính mình phải bỏ vợ.
Ngoài ra cũng có thể tìm thấy ở cung Phúc Đức tính tình, đầu óc, thân phận, không nhất định cứ phải Mệnh cung mới thấy; tuy nhiên vẫn đừng nên quên Mệnh vẫn là cái gốc để suy đoán cùng với cung Phúc Đức.
Ngũ Hành Sinh Khắc Chế Hóa
Ngũ hành đặt trên hai cơ sở lý luận. Đơn giản chỉ có sinh khắc. Phức tạp, ngoài sinh khắc phải có chế hóa. Đơn giản là logique. Phức tạp thành biện chứng (dialectique).
Tử Vi khoa có sinh khắc chế hóa. Nhưng khoa Tử Bình thì sinh khắc chế hóa linh động, biến dịch hơn. Đơn giản, sinh khắc là: Kim sinh Thủy - Thủy sinh Mộc - Mộc sinh Hỏa - Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim. Kim khắc Mộc - Mộc khắc Thổ - Thổ khắc Thủy - Thủy khắc Hỏa - Hỏa khắc Kim.
Có câu phú viết: "Tinh lâm miếu vượng tái quan sinh khắc chi cơ" nghĩa là dù sao an được vào cung miếu vượng thì cũng còn phải xem cái lý của sinh khắc nữa. Ví dụ Kim nhập Hỏa hương, sao thuộc Kim đứng cung Hỏa bị khắc không tốt, hoặc Hỏa nhập Thủy hương, sao thuộc Hỏa đóng vào cung Thủy...
Một câu phú khác: "Tuyệt sứ phùng sinh, hoa nhi bất bại" nghĩa là ở tuyệt địa mà gặp sinh thì không đến mức hoàn toàn thất bại. "Tuyệt sứ phùng sinh" là thế nào?
Như Thủy cục tuyệt ở Tỵ cung, nếu an Mệnh ở Tỵ là tuyệt địa, nhưng lại có Kim tinh ở đó, Kim sinh Thủy thành ra Thủy không bị tuyệt.
Ví dụ hai sao Thiên Cơ, Cự Môn của cách Cơ Cự ở Mão hay Dậu, thì Cơ Cự đóng Mão tốt hơn Dậu, vì lẽ Thiên Cơ thuộc Mộc đứng cung Mộc lại có Cự Môn là Thủy nuôi dưỡng; trong khi cung Dậu là Kim khắc Mộc, Thiên Cơ, Cự Môn không đắc lực với sứ mạng nuôi dưỡng bằng ở cung Mão.
Cũng vậy, sao Liêm Trinh đứng Dần tốt hơn đứng Thân, vì Liêm Trinh thuộc Hỏa, cung Dần thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa; trong khi Thân là Kim, Kim với Hỏa tương khắc.
Tác dụng của ngũ hành là vận động, biến dịch và phát triển. Nếu chỉ đơn giản, e tác dụng kia chưa đủ. Ngũ hành trong khoa Bát Tự với vận động biến dịch biện chứng kỹ càng hơn ngũ hành logique của Tử Vi.
Sách Uyên Hải Tử Bình viết: Kim vượng được Hỏa mới thành dụng cụ, như sắt đưa vào lò lửa luyện nên thép. Thủy vượng được Hỏa thành hơi nước mạnh. Thủy vượng nhờ Thổ mà nên hồ ao. Thổ vượng đắc Mộc thì mới nên; thì Thổ mới có chỗ bám...
Như vậy đôi khi khắc lại mang tác dụng rất cần thiết, chứ không phải cứ sinh hay mà khắc dở. Ngũ hành của Tử Vi khoa là ngũ hành đơn giản của sinh khắc.
Sách Uyên Hải Tử Bình viết: Kim nhờ Thổ sinh, nhưng nhiều đất quá thì Kim bị chôn vùi. Thổ nhờ Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều quá lửa bị tắc nghẽn. Mộc nhờ Thủy sinh, nhưng nước lụt thành cây trôi. Thủy nhờ Kim sinh, nhưng kim quặng nhiều quá, nước thành đục vẩn. Kim sinh ra Thủy, nhưng Thủy nhiều Kim chìm. Thủy sinh ra Mộc, Mộc nhiều Thủy cạn. Mộc sinh ra Hỏa, nhưng Hỏa nhiều Mộc bị cháy tiêu...
Như vậy kể cả tình trạng "sinh", nếu theo biện chứng chưa chắc đã là tốt. Lối tính của Tử Vi khoa về ngũ hành chỉ đơn giản thôi, vì cổ nhân đặt định trên căn bản lý luận không phức tạp biện chứng.
Những Bài Phú
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có những bài phú sau đây: Thái Vi phú, Tăng bổ Thái Vi phú, Đẩu Số Cốt Tủy phú, Nữ mệnh cốt tủy phú, Đẩu số phát vi luận, Hình tính phú, Đẩu số chuẩn thằng, Tử Vi đẩu số yếu quyết, Bách tự thiên kim quyết, Tinh viên luận.
Người đời sau còn nghiên cứu thêm và đặt ra phú Ma Thị, phú Huỳnh Kim, và ở Việt Nam có phú nôm Thần Kê Định Số của Lê Quí Đôn. Những câu phú ghi tại những phần trên đều cắt từ những bài phú dẫn thượng. Dưới đây ghi thêm những câu chưa ghi, vì còn cần những lời bàn riêng biệt.
Sinh phùng bại địa phát dã hư hoa.
(Mệnh đóng ở đất bại, có phát cũng chỉ là hư hoa.) Bại địa ở câu phú này không phải chỉ vào đất có sao Đào Hoa chấn đóng. Bại địa ở đây tính theo ngũ hành. Ví dụ năm sinh nạp âm là Thủy thì trường sinh của Thủy ở cung Thân, mà Mệnh lại an ở Dậu, thì Dậu chính là chỗ đất bại của Thổ của Thủy, thành ra có phát nhờ những sao tốt cũng không thật đẹp.
Không vong định yêu đắc dụng, Thiên Không tối vi khẩn yếu.
(Những sao không vong đứng đúng vị khả dĩ đắc dụng, sao Thiên Không quan trọng hơn hết.) Mệnh Thân có Thiên Không mà ở cung Hỏa, cung Kim, hoặc đại tiểu hạn gặp Thiên Không ở các cung Hỏa Kim có thể phát phúc, vì Kim gặp Không thành tiếng vang, Hỏa gặp Không bùng cháy. Nếu vào cung Thủy, cung Thổ, cung Mộc thì Không sẽ tác hại, vì Thủy gặp Không thì tràn ngập, Mộc gặp Không ắt bị gãy, Thổ gặp Không bị chuồi lở.
Nhược phùng bại tuyệt chi địa, chuyên chước phù trì chi diệu khả hữu công.
(Mệnh Thân rơi vào bại tuyệt mà được Lộc Tồn, Hóa Lộc phù trì thì giảm hẳn khó khăn.)
Hình tù hiệp ấn, hình trượng duy ty.
(Thiên Tướng có Liêm Trinh, Kình Dương hay bị vạ quan tụng hoặc dễ mất chức.)
Thái Âm cư Tí thủy trừng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức trung gián chi tài.
(Mệnh lập ở Tí, Thái Âm thủ mà sinh ban đêm, khả dĩ giàu sang, tâm chất chính trực.)
Văn Hao cư Dần Mão, chúng thủy triều Đông.
(Sao Phá Quân gặp Văn Xương ở Dần Mão gọi bằng cách "chúng thủy triều Đông".) Cách này cả đời tân khổ, trong khi khoa Tử Vi Việt lại nói song Hao ở Mão Dậu mới là "chúng thủy triều đông", cách này thường hoạnh phát. Không biết "chúng thủy triều đông" của song Hao Mão Dậu đã căn cứ vào đâu? (Hao ở đây là Đại Hao và Tiểu Hao.)
Hình ngộ Tham Lang hiệu vi phong lưu thái trượng.
(Kình Dương mà đóng Mệnh hay Thân cùng với sao Tham Lang thì con người thông minh và lúc nào cũng phong lưu.) Sách khác lại nói Tham Đà mới phong lưu thái trượng — Đà La hóa khí là Kị, chỉ ở cung Dần, không bao giờ ở Mão.
Dương Linh hợp ư Mệnh cung ngộ Bạch Hổ tu đương hình lục.
(Mệnh có Kình Dương, Linh Tinh gặp cả Bạch Hổ dễ bị tù tội.)
Hình Sát đồng Liêm Trinh ư Quan Lộc, giả nữu nan đào.
(Thất Sát, Liêm Trinh đóng cung Quan Lộc gặp Kình Dương cũng bị hình ngục.)
Sát cư tuyệt địa, thiên niên yểu triết Nhan Hồi.
(Thất Sát ở vào tuyệt địa, tính theo nạp âm của niên sinh đối với một cung nào đó, thì không thọ. Thế nào là tuyệt địa đã dẫn ở phần trên.)
Bệnh phù, Quan phù giai tác họa, Tấu thư, Bác sĩ dữ lưu Lộc tác trinh tường.
(Bệnh Phù, Quan Phù vào vận hạn đều gây họa; Tấu Thư, Bác Sĩ và lưu Lộc vào vận hạn đều mang phúc đến.)
Lực Sĩ Tướng Quân đồng Thanh Long hiến kỳ quyền Lộc.
(Vận được Thanh Long, Bác Sĩ, Tướng Quân thì mưu cầu danh vị thuận lợi.)
Quan phù gia Hình Sát ư Thiên Di ly hương tao phối.
(Sao Quan Phù gặp Kình Dương, Thất Sát ở Thiên Di thì phải ly hương lập nghiệp, lập gia đình.)
Thiện Ấm thủ ư Không vị, Thiên Trúc sinh nhai.
(Mệnh có Cơ Lương bị Triệt hay Thiên Không, nên ẩn dật đỡ mang họa.)
Kỵ Ám đồng cư Tật Ách, trầm khốn khuông doanh.
(Cự Môn Hóa Kị đóng ở Tật Ách thường có bệnh lâu khỏi.)
Quân tử tại Khôi Việt, tiểu nhân tại Dương Linh.
(Mệnh có Khôi Việt là người bao dung, hào sảng; Kình Dương, Linh Tinh tại Mệnh là loại người khó chơi.)
Thân Mệnh tối hiểm Dương Đà Thất Sát ngộ chi vị miễn vi hung.
(Thân Mệnh có Thất Sát gặp Kình Dương, Đà La dễ bị hung họa.)
Mệnh ngộ Khôi Xương đương đắc quí
Hạn phùng Tử Phủ định đa tài.
(Mệnh có Khôi Xương dáng dấp thanh nhã; hạn được Tử Phủ thì có tiền.)
Nhược trị sát tinh định tam giá nhi tâm bất túc
Phùng Dương Đà tu đề khốc nhi lệ bất can.
(Số nữ ở cung Phu nhiều hung sát tinh thì lấy nhiều chồng; gặp Dương Đà dễ thành góa bụa.)
Liêm Lộc lâm thân, nữ đắc thuần âm trinh khiết chi đức.
(Đàn bà có Mệnh Thân với Liêm Trinh và Lộc thì trinh khiết.)
Quân tử Mệnh trung diệc hữu Dương Đà Linh Hỏa
Tiểu nhân mệnh nội khởi vô Khoa Lộc Quyền tinh.
(Mệnh người quân tử cũng có Dương Đà Linh Hỏa vậy; Mệnh kẻ tiểu nhân cũng có Khoa Quyền Lộc vậy. Vấn đề là miếu hay hãm mà thôi.)
Văn Xương Văn Khúc Thiên Khôi tú
Bất độc thi thư dã khả nhân.
(Mệnh có Xương Khúc, Thiên Khôi, dù không được học cũng là người đắc lực.)
Đa học thiểu thành, chỉ vị Kình Dương phùng Kiếp Sát
Vi nhân hiếu tụng, cái nhân Thái Tuế ngộ Quan Phù.
(Học nhiều mà chẳng đỗ đạt chỉ vì Kình Dương gặp Kiếp Sát. Tính người ưa kiện tụng bởi lẽ Thái Tuế gặp Quan Phù.)
Ngụy trá phù hư — Dương Đà hãm địa.
(Kình Dương, Đà La ở đất hãm thủ Mệnh, con người ngụy trá hay khoác lác.)
Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng mộ trung tàng.
(Sao Hóa Lộc đóng ở cung tứ Mộ giảm hẳn khí thế.)
Cự Phá Kình Dương tính tất cương
Phủ Tướng Đồng Lương tính tất hảo.
(Mệnh có Cự Môn hội Kình Dương, hay Phá Quân Kình Dương thì tính tình cương bạo. Có Phủ Tướng Đồng Lương thì hiền lành.)
Xương Khúc Lộc Cơ thanh tú xảo
Âm Dương Tả Hữu tối từ tường.
(Mệnh có Xương Khúc, Lộc, Cơ trông văn nhã và khéo léo. Âm Dương thêm Tả Hữu thì bao dung, đại lượng.)
Thân Mệnh vận hạn Kị tương phùng
Cách kiêm Thái Tuế Quan Phù chí
Quan phi khẩu thiệt tất bất không.
(Vận hạn có Đà Kị thêm Thái Tuế, Quan Phù thì khó tránh họa tranh tụng, khẩu thiệt.)
Tử Vi đế tòa tại Nam cực, bất năng thi công
Thiên Phủ Linh Tinh cư Nam địa, chuyên năng vi phúc.
(Tử Vi đóng Tí dễ thành vô dụng. Thiên Phủ đóng Tí cùng với Linh Tinh thì được phúc.)
Thiên Cơ tứ sát đồng cung dã thiện tam phần
Thái Âm Linh Hỏa đồng vị phản thành thập ác.
(Thiên Cơ dù đứng với tứ sát thì cũng không đến nỗi; nhưng Thái Âm gặp Hỏa Linh lại thành phiền.)
Tham Lang vi ác tú nhập miếu bất hung
Cự Môn vi ác diệu, đắc miếu vưu mỹ.
(Tham Lang, Cự Môn ở chỗ hãm thành ác, được miếu địa thì thành hay.)
Mệnh Thân tương khắc tắc tâm loạn nhi bất nhàn.
(Mệnh và Thân ở hai cung xung chiếu, tương khắc thì đa tư đa lự, khó thành thơi.)
Xương Khúc tại hung hương, lâm tuyền lãnh đạm.
(Xương Khúc vào đất hãm hay bị hung tinh phá hoại, thường có hoài bão ở ẩn, ẩn dật, vì khi vào cuộc phấn đấu luôn luôn bị chèn ép, cản trở.)
Khoa tinh cư hãm địa, đăng hỏa tân cần.
(Hóa Khoa đóng đất hãm, học hành phải cố gắng lắm mới nên.)
Sát lâm tam vị, thê tử bất hòa.
(Sát tinh đóng cung Thê, vợ con bất hòa.)
Cự đáo nhị vị tất huynh đệ vô nghĩa.
(Cự Môn vào cung Bào, anh em không thương nhau.)
Hình Sát thủ Tử cung, tử nan phụng lão.
(Hình Sát vào cung Tử Tức, lúc già xa cách con cái.)
Hung chiếu Tài Bạch tự tán vô thường.
(Gặp hung tinh chiếu cung Tài Bạch, tiền bạc tụ tán vô thường.)
Dương Đà Tật Ách, nhãn mục hôn manh.
(Kình Dương, Đà La đóng Tật Ách, đề phòng bệnh mắt.)
Hỏa tinh đáo Thiên Di, trường đồ tịch mịch.
(Hỏa Tinh đóng cung Thiên Di, vào cuộc phấn đấu ít người trợ giúp.)
Tôn tinh cư tiện vị, chủ nhân đa lao.
(Những sao quý mà đóng ở đất hèn, cuộc đời vất vả.)
Điền Trạch ngộ Phá Quân, tiên phá hậu thành.
(Cung Điền gặp Phá Quân, trước hư hoại sau mới thành.)
Phúc Đức ngộ Kiếp Không, bôn tẩu vô lực.
(Cung Phúc Đức gặp Kiếp Không, bôn tẩu cho lắm cũng bằng vô ích.)
Liêm Trinh Phá Quân Hóa Linh đồng cung, lang tâm cẩu phế.
(Sao Liêm Trinh, Phá Quân đứng cùng với Hỏa Linh là con người phản phúc.)
Thiên Cơ Thái Âm đồng cung Dần Thân, nan miễn bạt thiệp tha hương.
(Thiên Cơ, Thái Âm đóng Dần Thân, thường có khuynh hướng phiêu lưu.)
Nữ mệnh Thiên Cơ nhập miếu, tính cương, cơ xảo, quyền bính, trì gia.
(Mệnh nữ có Thiên Cơ đắc địa, cứng rắn khôn khéo, giỏi tề gia.)
Thái Dương Dậu cung, quí nhi bất hiển, tú nhi bất thực.
(Thái Dương tại Dậu đứng với Thiên Lương có thể làm lớn nhưng ví như cây to mà không có trái.)
Thái Dương thủ Mệnh ư Mão, trú sinh nhân khả phú quí.
(Thái Dương ở Mão, đứng với Thiên Lương, phải sinh ban ngày mới thật đẹp.)
Thái Dương tại Thiên Di, di căn hoán diệp.
(Thái Dương vào cung Thiên Di thường không kế tiếp được tổ nghiệp, phải rời quê hương bản quán mới thành công.)
Thái Dương hãm hội Dương Đà Hỏa Linh, chủ mục tật, hình khắc phụ mẫu.
(Thái Dương đóng hãm địa gặp Dương Đà Hỏa Linh dễ đau mắt, hoặc hình khắc cha mẹ.)
Thiên Phủ thủ Mệnh, Dương Đà Hỏa Linh hội hợp, gian trá.
(Mệnh có Thiên Phủ thủ, đứng cùng Dương Đà Hỏa Linh, người không ngay thẳng.)
Tham Lang Vũ Khúc đồng cung, vô công đức tâm.
(Tham Vũ đi cặp, thủ Mệnh, không có lòng công đức.)
Nữ mệnh Thiên Tướng bất nghi đồng Xương Khúc.
(Số gái có Thiên Tướng thủ, không nên đứng với Xương Khúc.)
Phá Quân Vũ Khúc nhập Tài hương, đồng thành tây bại.
(Vũ Phá đóng vào cung Tài Bạch, bôn ba, thành bên này bại nơi khác.)
Phá Quân Dương Đà Quan Lộc vị, đáo xứ khất cầu.
(Phá Quân vào cung Quan gặp Dương Đà, lận đận công danh.)
Phá Quân Tài Bạch như thang nhiễu tuyết.
(Phá Quân hãm đóng cung Tài, như lấy nước sôi đổ vào tuyết.)
Phá Quân hãm tại Thiên Di, bôn tẩu vô lực.
(Cung Thiên Di có Phá Quân hãm địa, bôn tẩu cũng vô ích.)
Văn Xương Tham Lang đồng cung, chính sự điên đảo.
(Văn Xương, Tham Lang thủ Mệnh làm việc lôi thôi, không đắc lực.)
Văn Xương Liêm Sát Dương Đà, trá ngụy.
(Liêm Trinh, Thất Sát đứng với Văn Xương gặp Kình Đà, con người lắt léo.)
Tả Hữu Trinh Dương vi đạo tặc.
(Liêm Trinh hãm gặp Tả Hữu, Kình Dương có khuynh hướng đạo tặc.)
Hóa Quyền ngộ Dương Đà Không Kiếp, thịnh sảm di lụy.
(Mệnh có Hóa Quyền mà gặp Không Kiếp, Dương Đà thì vì nghe nịnh mà khốn khổ.)
Thủy Mệnh nhân phùng Hóa Kị bất kị.
(Sao Hóa Kị thường xấu, nhưng người mệnh Thủy gặp nó không sao.)
Cự Môn thủ Mệnh kiến Dương Đà, nam nữ tà dâm.
(Thủ Mệnh là sao Cự Môn, đứng với Kình hoặc Đà, nam nữ tà dâm.)
Phá Liêm Mão Dậu ngộ Dương Đà Hỏa Linh, quan phi, tật bệnh.
(Phá Liêm gặp Linh Hỏa, Dương Đà thì bệnh hiểm nghèo, dây dính luật pháp.)
Phá Quân Xương Khúc, hình khắc, lao bác.
(Phá Quân hãm gặp Xương hay Khúc thường hình khắc và bôn ba.)
Tham, Phá, Lộc Mã nam lãng đãng, nữ đa dâm.
(Tham Lang hay Phá Quân thủ Mệnh mà gặp Lộc Mã, số trai phiêu bạt, số gái đa dâm.)
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
