Bài tổng quan
Hóa Kị Của Mười Sao Và Những Câu Phú Về Lộc Quyền Khoa Kị
Hóa Kị không đánh đồng mọi chính tinh, và sự khác biệt ấy làm nên cái tinh tế của phép đoán. Thái Dương Hóa Kị hợp với nghề dính líu thị phi quan tụng nhưng không hay cho lục thân. Liêm Trinh Hóa Kị dễ gặp tai nạn đổ máu. Thái Âm lại không ngại Hóa Kị như Thái Dương, vì họa thường do mình khởi lên. Cự Môn Hóa Kị càng thêm khẩu thiệt, nhưng đắc địa thì hợp làm thầy kiện. Có hay không Thiên Đồng Hóa Kị ở tuổi Canh vẫn là chỗ tranh cãi, với cả hai lập luận được nêu ra. Thiên Cơ Hóa Kị mưu càng thâm họa càng sâu, Vũ Khúc Hóa Kị đi kèm phiền lụy, Tham Lang Hóa Kị mang ý tranh đoạt. Văn Xương Hóa Kị dễ thất ước về giấy tờ, còn Văn Khúc thất hứa về lời nói.
Hóa Kị Thái Dương
Thái Dương Hóa Kị làm những nghề dính líu đến thị phi, quan tụng, hoặc gây dư luận ồn ào, thì chính mình mới đỡ trở thành nạn nhân của thị phi, quan tụng và đàm tiếu, phê bình. Ví dụ: thầy kiện, quan tòa, cảnh sát, mật vụ, thông tin báo chí, quảng cáo viên. Làm những nghề thông thường thì dễ bị chiêu oán, đả kích.
Thái Dương Hóa Kị dở hay cũng còn tùy thuộc những sát tinh đi kèm. Thái Dương Hóa Kị không gặp sát tinh, lại được Tả Hữu, thì gian lao phấn đấu mà nên đại nghiệp, như làm chính trị hoặc phấn phát mạnh rồi nhiều kẻ ganh ghét. Còn như gặp nhiều sát tinh kèm vào thì phiền lắm — chẳng những thị phi chiêu oán mà còn bị họa nạn.
Cách Cự Nhật có Hóa Kị không phải là dở nếu được Lộc Tồn đứng cùng — vào ngành ngoại giao, pháp luật, làm quảng cáo, bán hàng, càng cạnh tranh càng thành công.
Trường hợp Thái Dương ở cung Ngọ, dù có Lộc Tồn mà thấy Hóa Kị, thì cao danh vọng lắm mà dẫy gian nan nhiều, bị vận xấu xuống đến đất đen.
Thái Dương Thiên Lương đứng cùng Hóa Kị, nếu có Địa Không Địa Kiếp, Tuần Triệt đi rao giảng đạo lý tôn giáo, sẽ gây thanh vọng. Thái Dương Hóa Kị mà bị Kình Dương, Thiên Hình thì hay bị kiện tụng hoặc chạm trán với luật pháp.
Thái Dương Hóa Kị vào cung lục thân đều không hay, nhất là đối với người sinh vào ban đêm; nếu thấy cả sát tinh nữa thì sinh ly từ biệt. Mệnh nữ mà có Thái Dương Hóa Kị ở cung Phu phải mấy bận dở dang, bị cướp chồng hay đi cướp chồng người; thêm Đào Hoa thì điều trên nặng nữa.
Cung Phụ Mẫu xuất hiện Thái Dương Hóa Kị thì không thuận với bố mẹ, hoặc hay bị kẻ trên nghi ngờ và chèn ép. Thái Dương Hóa Kị vào Tật Ách thì bệnh về thận, về đường tiểu hoặc bệnh mắt. Dương Kị đóng Mệnh mà thấy cả Riêu, Hình, nếu Thái Dương hãm địa, có thể bị mù. Thái Dương Hóa Kị hãm cung vào Tật Ách của số nữ, hoặc đóng cung Tử Tức, thì có trở ngại trong vấn đề sinh sản.
Hóa Kị Liêm Trinh
Liêm Trinh là máu huyết, là tinh thần hưởng thụ. Liêm Trinh là sao của những biến đổi đột ngột. Liêm Trinh Hóa Kị dễ đưa đến một tai nạn có đổ máu, thường thấy như giải phẫu, tai nạn xe cộ, tên bay đạn lạc, nhất là đứng cùng với sao Thất Sát ở Sửu Mùi.
Liêm Trinh Hóa Kị gặp Đào Hoa thì nhiều phiền lụy trên luyến ái. Nữ mạng có Liêm Kị lại có cả Xương hay Khúc ắt phải rơi lệ thương tâm.
Liêm Trinh Hóa Kị đóng Tài Bạch là chứng triệu tiêu hao tiền bạc do một quan hệ tình duyên, ví dụ vợ ly dị phải chia của. Ví dụ: vì lấy vợ mà bị rút một phần của cải gia tài. Như vậy ngay cả ở Tài Bạch, Liêm Trinh vẫn dính líu đến vấn đề huyết duyên. Bởi vậy hễ thấy Liêm Trinh Hóa Kị thì hãy cứ đặt căn bản trên huyết duyên mà luận đoán.
Liêm Kị đóng vào cung lục thân thì luôn luôn bất hòa — với bố mẹ, với anh em, với bạn bè, với vợ con. Liêm Trinh không Hóa Kị mà có Xương Khúc vào vận hạn có thể đoán là một tin vui, như đẻ con, phục hồi sức khỏe, việc lấy vợ lấy chồng của những người thân. Liêm Kị đóng Tật Ách, khi bệnh hoạn dễ đưa đến giải phẫu.
Hóa Kị Thái Âm
Thái Âm không ngại Hóa Kị như Thái Dương. Vì lẽ Thái Âm chủ ẩn tàng, cùng chất với Hóa Kị. Thái Âm gặp Hóa Kị không bị tình cảnh oán ghét như Thái Dương. Có thể mang một tâm trạng đau buồn nào đó, không do áp lực từ bên ngoài. Khi chỉ là chuyện nội tâm thì cũng dễ khắc phục.
Thái Âm đắc địa ở Dậu có Hóa Kị lại biến thành đám mây ngũ sắc. Nhưng Thái Âm ở Mão hãm thì không tốt, nhất là lại bị Kình Dương, Đà La hiệp Kị thì nguy hiểm. Thái Âm Hóa Kị ở hãm cung đóng Tài Bạch thì đầu tư thường thua thiệt do thiếu sáng suốt, tính toán không kỹ.
Riêng Thái Âm ở Hợi mà có Hóa Kị thì ban đầu dù khó khăn nhưng cuối cùng lại hết sức thuận lợi, bởi những đột biến không ngờ. Thái Âm chủ ẩn tàng, có khuynh hướng tinh thần hơn Thái Dương vốn chỉ chú ý đến bộc lộ thực tế.
Thái Âm Hóa Kị nếu thêm sát tinh thì thành ra một khuyết hãm trên tinh thần. Cho nên Âm Kị không nên đóng cung Phúc Đức, nhất là đối với nữ mạng. Âm Kị tại Phúc Đức: người con gái ý chí yếu đuối, dễ bị đường mật dụ dỗ lường gạt mà một lần sa chân thành thiên cổ hận.
Thái Âm Hóa Kị ở cung Phúc lại thấy cả Xương Khúc, Đào Hoa, có thể đoán là số hồng nhan mệnh bạc. Thái Âm tại Tỵ vào đất hãm gặp Cự Đồng cung Sửu, tình tự càng bối rối, có thể vì xung động nhất thời mà ảnh hưởng đến cả một đời.
Âm Kị nếu có họa thì họa thường do mình khởi lên, khác với Dương Kị bị ngoại cảnh, người đời ganh ghét. Thái Âm Hóa Kị ở thế hãm đóng lục thân cung, mà lại là người sinh ban ngày, thì hoàn toàn vô duyên với lục thân.
Các nhà Tử Vi Trung Quốc bảo: Âm Kị đóng cung Thân (Mệnh Thân) là mẹ hay cha mất sớm từ lúc còn nằm nôi, nếu có cả Linh Tinh, Hỏa Tinh càng mau. Âm Kị ở cung Nô Bộc bị hại ngầm bởi bạn bè, người trên, người đồng liêu, thủ hạ. Thái Âm Hóa Kị đóng Tật Ách hay Mệnh ở hãm địa phải đề phòng đôi mắt.
Hóa Kị Cự Môn
Cự Môn chủ khẩu thiệt, gặp Hóa Kị càng tăng thêm cái phiền, cái họa về khẩu thiệt, còn đưa đến kiện tụng cò bót. Cự Môn Hóa Kị ở Mệnh cung thành cặp hung thần, làm cho bị thương, bị giải phẫu.
Cự Kị đóng Mệnh thêm sát tinh, ngay từ lúc nhỏ đã thấy, đã gặp những điều đắng cay như mồ côi, bố mẹ phân ly... Cự Kị, Hồng Đào thì vợ chồng chia lìa. Cự Kị đóng Tài Bạch làm ông giáo, làm người bán hàng, mà có thêm Hóa Lộc thì nhờ nói mà ra tiền.
Mệnh cung Cự Kị không thêm sát tinh, có Lộc Quyền, không nên xuất đầu lộ diện, đừng thích hư danh, sẽ yên ổn mà ngấm ngầm tiến tới thành công. Cự Môn tuy là cái miệng, nhưng hễ thấy Hóa Kị thì đừng nên làm kịch sĩ hay ca sĩ để mà hứng chịu la ó của khán thính giả.
Cự Kị đắc địa được Hình Quyền làm thầy kiện đắc lực, hoặc điều khiển cơ quan mật vụ cũng hay. Tất cả chỉ vì Cự Môn là ám diệu mà Hóa Kị lại chủ ẩn mật, tiềm tàng.
Cự Kị đóng Phụ Mẫu gặp Thiên Hình hay Đà La thì không thể gần gũi, hòa hợp với mẹ cha. Cung Phu Thê rất ngại thấy Cự Môn Hóa Kị, thế nào cũng tan vỡ; có cả Đào Hoa nữa thì thành tình tay ba.
Cung Bào Huynh có Cự Kị thì khó lòng hợp tác với ai mà yên lành. Cự Kị vào cung Tật Ách bị bệnh thần kinh hay xương tủy. Cự Môn cũng là ống thực quản, từ miệng trôi vào dạ dày, cũng đưa đến bệnh về yết hầu.
Hóa Kị Thiên Đồng
Nói đến Thiên Đồng với Hóa Kị lại phải nhắc tới hai chủ trương khác nhau trên tuổi Canh. Một phe chủ trương Đồng là phúc tinh thì không Hóa Kị. Một phe chủ trương Đồng Kị là tình trạng có phúc mà không được hưởng.
Một phe đứng giữa bảo: tuổi Ất, tứ hóa đã an theo Cơ Lương Vi Âm, nghĩa là Hóa Kị đã một lần đứng với Thái Âm rồi; sao qua tuổi Canh lại an theo Nhật Vũ Đồng Âm để Thái Âm đứng với Hóa Kị thêm lần nữa?
Lập luận trên có phần nào ngả theo lập luận Kị phải đứng với Thiên Đồng ở tuổi Canh, nhưng đặt căn bản trên sự hợp lý của an sao. Không hẳn là đã vững, vì tứ Hóa không một Hóa nào được an với Thất Sát, trong khi an bốn lần với Vũ Khúc, một lần với Thiên Phủ, hai lần với Tử Vi..., Xương Khúc đi với tứ hóa hai lần, mà Tả Hữu một bận sánh vai với Hóa Khoa, trong khi Thái Âm có mặt bốn lần bên tứ Hóa, nếu kể thêm cả tuổi Canh là năm. Vậy thì rõ ràng tứ Hóa không an theo lối chia đều. Thật ra thì ta không tìm thấy được lý do tại sao cổ nhân căn cứ vào đâu mà an tứ Hóa cho thập Can như vậy.
Khi Thiên Đồng phải đi với Hóa Kị thì không bao giờ Thiên Đồng còn đi với Hóa Khoa nữa. Ở đây vẫn biên chép những luận cứ về Đồng Kị kèm với Đồng Khoa để độc giả tự phán xét lấy. Ngoài ra, nếu đưa Thiên Đồng đến bên Hóa Kị thì Thái Âm sẽ có hai bận đứng chung với Hóa Khoa, thì sao?
Không có trọng tài đủ thẩm quyền định đoạt. Riêng tác giả cuốn sách này theo chủ trương Đồng không Kị. Với những người chủ trương Thiên Đồng Hóa Kị, lập luận về chúng ra sao?
Đồng Kị đóng Mệnh luôn luôn tâm ý thống khổ. Đồng Kị vào Phúc Đức cung cũng vậy, tâm ý phiền muộn. Nhưng Thiên Đồng Hóa Kị ở Phúc Đức hay Mệnh cung mà có Địa Không, Địa Kiếp lại biến ra cách khác hẳn, có những sáng kiến độc đáo, mưu chước khôn lường. Nếu lại có cả Âm Sát, Thiên Riêu sẽ thành một tay đại gian hùng.
Đồng Kị đóng lục thân không cung nào được xem là tốt đẹp. Đồng Kị vào Tật Ách bệnh kéo dài không khỏi, ảnh hưởng đến sự hưởng thụ cho cuộc sống.
Hóa Kị Thiên Cơ
Thiên Cơ là sao của mưu tính, kế hoạch; Hóa Kị chủ ẩn tàng và âm thầm. Thiên Cơ Hóa Kị kể là thái quá, thành ra "mưu thâm họa diệc thâm". Trong sách Hồng Lâu Mộng có câu:
Cơ quan toán tận thái thông minh
Toán khứ liễu khanh địch mệnh.
Nghĩa là tính toán thâm trầm bằng trí tuệ cao siêu, rút cục đưa đến cái chết cho chính mình. Bởi thế Cơ Kị đóng Mệnh hay Phúc Đức, nếu vào doanh thương, có ngày nhắm chỉ một lần mà mất hết cơ nghiệp.
Người Cơ Kị hãy sống thanh thản bình thường, mọi sự phó thác cho số mệnh, ung dung mà thành công. Nói tóm lại là đừng dùng mưu kế nhiều. Cái ưu điểm của Thiên Cơ là quyền biến, nhưng khuyết điểm lại cũng nằm trong quyền biến ấy. Vì quá thông minh quyền biến nên đôi lúc thành ra kẻ hoạt đầu, khiến người nghi kị. Như Nguyễn Hữu Chỉnh, trong bụng đầy mưu cơ, cuối cùng bị Tây Sơn bỏ rơi mà chết giữa biển.
Kị đứng cùng Cơ khiến Cơ càng bị nghi kị hơn. Cơ Kị thường bị người đời tranh cạnh, nói xấu, nói vu; bất cứ vào lãnh vực nào cũng luôn luôn phải chống đỡ, cuộc sống mệt mỏi.
Nữ mạng Thiên Cơ Hóa Kị mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, các Tử Vi gia Trung Quốc cho là số có khuynh hướng tự sát. Cổ xưa, về làm dâu mà số như thế sẽ bị cả nhà chồng lẫn chồng ghét bỏ, không lối thoát mà tự sát.
Thiên Cơ Hóa Kị đóng lục thân nói lên điều sơ ly, khó thân ái lâu bền, nhưng trước khi sơ ly lại rất đằm thắm, bởi vậy sự sơ ly của Cơ Kị thường đem tới tâm lý tuyệt vọng. Cơ Kị làm cho chuyện bé xé thành chuyện to, chuyện chẳng ra sao mà nên thù hận.
Thiên Cơ Hóa Kị đóng Tật Ách hay bị mất ngủ, thần kinh suy nhược, mất trí nhớ. Thiên Cơ Hóa Kị cũng dễ bị bệnh gan, ưu tư suy nghĩ nhiều ắt gan hư.
Hóa Kị Vũ Khúc
Vũ Khúc là tài tinh. Vũ Khúc đi với nhau làm ăn dung dị, phấn phát, nhưng kèm theo sự phấn phát là những phiền lụy. Ví dụ: sa thải người làm mà bị thù oán; phải cạnh tranh mà mất lòng người; làm việc mà đồng liêu ganh ghét; vùi đầu vào công tác quên cả vợ con khiến vợ con xa cách.
Vũ Kị đóng Mệnh hay Tài Bạch, chỉ có làm chuyên viên giỏi nghề nghiệp là yên ổn. Vũ Kị sợ thấy Địa Không, Địa Kiếp làm cho hao tổn tiền tài qua lừa gạt.
Vũ Khúc Hóa Kị mà gặp Linh Tinh, Văn Xương, Đà La thành ra cách "Linh Xương Đà Vũ", thêm Kị thì xấu gấp bội. Cách này sẽ vì tự cao tự đại mà thất bại nặng, sụp đổ cả một cơ sự nghiệp.
Cách Vũ Kị, Linh Xương, Đà La đóng cung Phúc Đức đưa đến tư tưởng cực đoan, làm hỏng đời mình kiểu Robespierre của cách mạng Pháp.
Vũ Kị vào cung lục thân mà có cả hình sát tinh nữa thì những người thân có ai bị phá sản. Riêng đóng cung Thê, vợ phá của. Vũ Kị đóng Tật Ách thường bị bướu mà phải giải phẫu.
Hóa Kị Tham Lang
Khi Tham Lang đứng cùng Hóa Kị thì đương nhiên Phá Quân đứng cùng Hóa Lộc (cho người tuổi Quí). Nhờ vậy Hóa Kị không tác hại nhiều, vì lẽ Phá Quân rất ăn ý với Hóa Lộc.
Tham Lang Hóa Kị đắc địa lại hội thêm được cát tinh, đôi khi chỉ nói bâng quơ mà ra cơ hội, chỉ làm chơi mà ăn thiệt, chỉ ném hột cam xuống đất không có ý trồng mà nên cây.
Tham Lang Hóa Kị đứng cùng Linh Tinh hay gặp Hỏa Linh dễ hoạnh phát, bạo phát. Không sát tinh thì mọi sự hanh thông như trò rỡn. Có sát tinh thì bạo phát bạo tàn. Sát tinh như Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình.
Tham Lang Hóa Kị ở cung Tí hay Ngọ mà số nữ rất không nên, gái bạc tình. Tham Kị đóng Phu Thê thì hôn nhân thất bại. Tham Lang Hóa Kị trên căn bản mang ý nghĩa là tranh đoạt. Tranh đoạt mang hai hình thế: bị động hoặc chủ động. Gặp hình sát thì ở thế bị động. Gặp nhiều cát tinh thì thành thế chủ động.
Tham Kị đi cùng Đào Hoa, Văn Xương tạo thành tranh đoạt trên tình trường. Nữ mạng mà bị đặt vào sự tranh đoạt ở tình trường thì chẳng có thể nào mà tốt lành được.
Trường hợp Hóa Kị đứng cùng Tham Lang mà bị giáp Kình Đà hoặc tam hợp Kình Đà, thành ra cách "Dương Đà Kiếp Kị" ra đời luôn luôn ở vào bị động; có danh có chức chăng nữa cũng chỉ là hư danh, rồi một ngày nào đó lâm vào cảnh "quyền rơm vạ đá".
Tham Kị đóng Phúc Đức hay Phu Thê, trong lòng ẩn giấu nỗi đau thương mà không nói ra được. Tham Lang Hóa Kị cùng Linh Tinh, Hỏa Tinh vào lục thân cung thì chủ về phân ly trong một thời gian nào đó.
Tham Kị đứng cùng Đà La đóng Tử Tức hay Bào Huynh thì khó hòa hợp, tư tưởng nếp sống hoàn toàn bất đồng. Tham Lang Hóa Kị đóng Nô Bộc hay bị tay chân thủ hạ phản bội hoặc cạnh tranh. Tham Kị đóng Tật Ách, số nữ bệnh về bộ phận sanh đẻ.
Hóa Kị Văn Xương
Với người tuổi Tân, khi Văn Xương gặp Hóa Kị thì Văn Khúc lại đứng cùng Hóa Khoa (an theo Cự Nhật Khúc Xương). Cả hai hội tụ mà vào Mệnh tất gặp Cự Môn; Cự Kị gây cản trở, nên dù có Xương Khúc Hóa Khoa, học vấn cũng không thể thành công đến tuyệt đỉnh mà chuyển thành cách dị lộ công danh. Dị lộ đường đi quanh co, vất vả hơn, cuộc đời lận đận hơn.
Văn Xương Hóa Kị cũng đưa đến tình trạng không tựa được vào khoa danh để dành quyền chức. Hoặc thành tựu một nấc khoa danh nào đó mà chẳng được dùng đến. Đỗ luật, đỗ văn chương rồi động viên làm cai đội. Chẳng đỗ gì, đăng lính rồi lên tướng.
Xương Kị đứng cùng Địa Không, Địa Kiếp hay gặp chúng rất không tốt khi vào cung Tài Bạch — chỗ dung thân thường bị phá, phá sản, hoặc do nhầm lẫn của chính mình mà gây thành sự phiền hà trên tiền bạc.
Người Xương Kị cũng thường bị thất ước: cho người vay mượn thì người không trả; mình vay mượn của ai nhỡ nhàng thì không trả nổi hay không trả được đúng hạn kỳ.
Xương Kị là sự thất ước, đứng cùng Đào Hoa, Hồng Loan thì nam hay nữ hay bị lừa gạt trên tình ái. Xương Kị vào vận hạn, mong ngóng một tin tức, một lời hứa đều bị cuội.
Xương Kị đóng cung lục thân chủ sơ ly; nếu lưu niên vận hạn vào cung Phụ Mẫu mà gặp Xương Kị lại thấy các sát tinh khác nữa thì có tang tóc.
Xương Kị đóng cung Phu Thê thì nên vợ nên chồng tự nhiên, không hôn lễ hoặc không được đồng ý của hai bên cha mẹ. Cung Nô có Xương Kị đứng cùng các sát tinh thường bị liên lụy vì kẻ dưới. Vào cung Bào Huynh, anh em bất hòa.
Xương Kị đóng Tật Ách hay bị loạng, thẹo; đứng cùng Nhật Nguyệt thì có cườm mắt hay mắt kéo màng.
Hóa Kị Văn Khúc
Văn Khúc Hóa Kị cũng như Văn Xương Hóa Kị dễ bị thất hứa, nhưng Văn Khúc vốn chủ về lời nói, không như Văn Xương chủ về tờ chữ.
Khúc Kị ưa ngôn quá kỳ thực; vận hạn gặp Khúc Kị bị gạt gẫm bởi những lời hứa hão, những kế hoạch ba hoa. Khúc Kị đóng cung Phúc Đức thường vì thị tài mà thất bại. Cự Môn gặp Khúc Kị thì đôi khi lại vì tai tiếng mà nổi danh, mà danh tốt chứ không phải danh xấu.
Khúc Kị vào các cung lục thân cũng như Văn Xương Hóa Kị, kể là không tốt. Khúc Kị vào cung Phối hay xa chồng xa vợ, hoặc lúc cưới, chồng hoặc vợ vắng mặt. Khúc Kị cùng đóng cung Tật Ách với Phá Quân, số bị thủy ách. Thủy ách gồm có: đi mưa mà sưng phổi, đắm thuyền, bơi lội đuối sức.
Những lời luận đoán về Tứ Hóa trên đây là căn cứ vào bố trí đồng cung, không phải tính qua tam hợp. Ví dụ Cự Môn đóng Tí mà đứng bên Hóa Kị ở Mệnh cũng tại Tí (hay Phúc Đức hay Quan Lộc) thì Kị không thành hung thần; nhưng nếu Cự Môn ở Tí mà gặp Hóa Kị theo thế tam hợp hoặc xung chiếu thì lại phiền.
Những Câu Phú Về Lộc Quyền Khoa Kị
Sách còn tập hợp riêng một loạt câu phú luận về Lộc, Quyền, Khoa, Kị như sau:
Tam Hóa liên châu phúc tất trùng lai.
(Có ba Hóa đi liền ba cung mà Mệnh hoặc Thân đóng một trong ba cung đó thì phúc đến miên trường.)
Ngọ thượng Khoa Quyền biện cương nhậm trọng.
(Mệnh tại Ngọ hoặc Quan Lộc tại Ngọ mà có Khoa Quyền thì nắm quyền bính nơi biên ải.)
Khoa Quyền cùng bất như lâm viên.
(Khoa Quyền chiếu không bằng đóng tại Mệnh.)
Khoa Quyền Lộc Mã tu phòng Không Kiếp ám xung.
(Mệnh có Khoa Quyền Lộc Mã, hoặc vận hạn có Khoa Quyền Lộc Mã mà bị Không Kiếp xung, thì ảnh hưởng tốt của Khoa Quyền Lộc Mã kém đi nhiều.)
Khoa Quyền nhập Mệnh tuy lạc nhàn diệc hữu hiển danh.
(Ở Mệnh có Khoa Quyền, tuy Khoa Quyền ở nhàn cung thì cũng vẫn có địa vị.)
Hóa Khoa đồng văn diệu để bảng chi vinh.
(Hóa Khoa đứng với Khôi Việt, Xương Khúc thì học hành thành đạt.)
Hóa Khoa tối vi kỵ; vật hướng Thiên Thương nhi ám hối.
(Hóa Khoa rất tốt, nhưng kị đóng vào cung Nô, việc học hành lận đận.)
Khoa Quyền nhân Khôi Việt dĩ thành công.
(Khoa Quyền cần Khôi Việt để thành công.)
Khoa Quyền Lộc hợp phú quí.
(Có Khoa Quyền Lộc thủ chiếu Mệnh, không bị hung sát tinh, tất giàu sang.)
Khoa Mệnh, Quyền triều đáng dung giáp đệ.
(Khoa đóng Mệnh, Quyền xung chiếu, dễ đỗ đạt cao.)
Khoa danh hãm ư hung thần miêu nhi bất tú.
(Hóa Khoa bị Không Kiếp, Kình Đà, thông minh tài cán mà lận đận.)
Khoa Quyền Lộc vọng, danh dự chiêu chương.
(Thủ chiếu có Khoa Quyền Lộc thì nên danh nên giá.)
Khoa Minh Lộc ám vị liệt tam đài.
(Mệnh có Hóa Khoa, cung nhị hợp có Lộc, là người có chức vị.)
Quyền Khốc đồng cung minh danh vu thế.
(Mệnh có Hóa Quyền đứng cùng Thiên Khốc tại Tí hay Ngọ thì danh vọng hơn người.)
Quyền Lộc đồng cung định tác cơ thương chi nghiệp.
(Quyền Lộc tụ vào Mệnh cung thì buôn bán làm giàu.)
Quyền Lộc thủ Tài Phúc chi vị sử thế vinh hoa.
(Quyền Lộc đóng cung Tài, cung Phúc thì cuộc đời vinh hoa.)
Quyền Lộc cát tinh Nô bộc vị, túng nhiên quan quí dã bôn ba.
(Quyền Lộc đóng cung Nô, có làm quan cũng thăng trầm.)
Xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ Tài Quan chi vị.
(Quyền Lộc đóng Tài Bạch, Quan Lộc thì cuộc đời vinh hiển.)
Mệnh phùng Hóa Lộc vô hung tinh, tài lộc phong dinh.
(Mệnh có Hóa Lộc mà không gặp hung sát tinh thì tiền tài sung túc.)
Lộc Quyền Mệnh phùng, kiêm hợp cát oai quyền yểm chúng tướng vương triều.
(Mệnh có Lộc Quyền lại hội tụ các sao tốt khác thì chức cao quyền trọng.)
Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng mộ trung tàng.
(Hóa Lộc là tốt, nhưng đóng vào Thìn Tuất Sửu Mùi thì giảm tốt đi, vì Lộc đóng những cung này ví như kho tàng còn chôn trong lòng đất.)
Hóa Lộc cư Dần Mão cố thủ tham tài.
(Hóa Lộc đóng Dần hay Mão thì yêu tiền, tham của và giữ của kỹ càng.)
Hóa Kị văn nhân bất nại.
(Xương Khúc gặp Hóa Kị thì học giỏi nhưng lận đận công danh.)
Hóa Kị Điền Tài phản vi giai luận.
(Hóa Kị đóng cung Tài Bạch, Điền Trạch lại được xem là tốt.)
Mệnh cung Hóa Kị gia Thiên Không chung nhật hư tư hiền phụ.
(Mệnh có Hóa Kị đứng cùng Thiên Không thì lòng không ngớt nghi ngờ vợ hiền.)
Hóa Kị ngộ Phục binh ư Thê thiếp hốt oán hốt thân.
(Cung Phu Thê có Hóa Kị, Phục Binh thì nay giận mai hòa.)
Kị ngộ Khoa tinh ư Hợi Tí ngôn hành danh thuận.
(Hóa Kị gặp Hóa Khoa ở hai cung Hợi, Tí là người cẩn thận lời nói.)
Hóa Kị Tí cung, Khoa Lương thủ chiếu quân dân sủng ái.
(Mệnh có Hóa Kị đứng cùng Hóa Khoa hội chiếu Thiên Lương là người đức độ, liêm chính, dễ được mến mộ.)
Tam Kỳ giao hội mạc ngộ Kị Kình giáng lộ thanh vân.
(Mệnh hay Thân có Khoa Quyền Lộc mà gặp luôn cả Hóa Kị, Kình Dương thì lại thăng giáng vô thường.)
Song Lộc cư nhị ngộ Cơ Lương phú gia dịch quốc.
(Mệnh có Thiên Cơ, Thiên Lương cùng song Lộc thì giàu có lớn.)
Mệnh vô chính diệu hoan ngộ Tam Không hưu song Lộc phú quí khả kỳ.
(Mệnh không có chính tinh, được ba sao Không mà có cả hai sao Lộc, là số phú quý.)
Hóa Lộc Tí Ngọ vị Thiên Di, Phu Tử văn chương cái thế.
(Thiên Di đóng Tí Ngọ mà có song Lộc là người nổi tiếng về tài học.)
Hóa Lộc hoàn vi hảo, nhược cư Mộ địa dị tăng bi.
(Hóa Lộc đóng ở các cung tứ Mộ thì kém hay.)
Lộc triền ư nhược địa, Mệnh bất chủ tài.
(Hóa Lộc đóng cùng các chủ tinh trong thế hãm thì "hoa nhi bất thực, trong đóm đóm ngoài bó đuốc".)
Song Lộc lưỡng ngộ, Thái công vũ lược siêu quần.
(Mệnh có song Lộc là người tài giỏi bất cứ vào lãnh vực nào.)
Số muôn màng gái trai ôm ấm
Vì Kị Đà len lỏi cung con.
Kị Đà Thái Tuế Thân cung
Khỏi nạn nào được ung dung mấy người.
Mệnh Hóa Kị, Tật Mộc thần?
Âm nang sa thấp một phân chẳng nhầm.
Đà Kị Tật Ách trùng gia
Âm hư chứng ấy tất là hiếm con.
(Nói về cung Tật Ách có Đà La, Hóa Kị.)
Cự Kị Mộ cung nhị giao Đà Hổ xa mã hạn hành.
(Hạn đến Cự Môn ở Thìn Tuất Sửu Mùi mà gặp luôn cả Hóa Kị, Bạch Hổ, Đà La thì bị tai nạn xe cộ, té ngã.)
Quyền Lộc trùng phùng, sát tấu hư dự chi long.
(Mệnh có Quyền Lộc mà bị sát tinh kèm thì hữu danh vô thực.)
Hóa Quyền ngộ Dương Đà Không Kiếp, thịnh sảm di hủy, quan tài biếm trích.
(Hóa Quyền mà gặp Kình Dương, Đà La, Không Kiếp thì bị mất chức vì hay nghe lời nói nịnh hót, vu oan giá họa.)
Hóa Khoa hiềm phùng Triệt Không, Tuần Không, Thiên Không.
(Hóa Khoa không nên gặp Tuần Triệt, Thiên Không.)
Khoa Quyền đối cùng dược tam cấp ư vũ môn.
(Khoa Quyền một thủ một xung chiếu, như cá hóa rồng, công danh đằng đạt.)
Hóa Kị tại Mệnh Thân cung nhất sinh bất thuận.
(Hóa Kị đóng Mệnh hay Thân thì cả đời khó toại chí.)
Chư tinh tại miếu, vượng địa Hóa Kị bất kị.
(Các sao đóng miếu vượng mà gặp Hóa Kị ở vượng địa thì Hóa Kị không tác hại.)
Thủy mệnh nhân phùng Hóa Kị bất kị.
(Người mạng Thủy mà Hóa Kị thủ Mệnh hay hạn gặp Hóa Kị thì không đáng ngại.)
Thiên Đồng tại Tuất, Hóa Kị Đinh nhân hóa cát.
(Thiên Đồng đóng Tuất, gặp Hóa Kị mà là người tuổi Đinh, lại hay.)
Cự Môn tại Thìn Hóa Kị, Tân nhân phản vi giai.
(Cự Môn thủ Mệnh tại Thìn có Hóa Kị, người tuổi Tân lại thành hay.)
Nhật Nguyệt miếu, Hóa Kị vi phúc.
(Nhật Nguyệt đắc địa mà có Hóa Kị lại chuyển tốt.)
Nhật Nguyệt hãm, Hóa Kị đại hung.
(Thái Âm, Thái Dương đóng cung hãm mà có Hóa Kị thì rất hung.)
Chư tinh tại hãm địa Hóa Kị, thậm kị.
(Các sao chủ ở hãm địa mà gặp Hóa Kị thì càng kị.)
Liêm Trinh tại hãm địa, Hóa Kị cánh kị.
(Liêm Trinh ở đất hãm bị Hóa Kị thì càng đáng ngại hơn.)
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
