Bài tổng quan
Sao Thiên Không Và Tuần Triệt: Chướng Ngại Đột Nhiên Trong Lá Số
Thiên Không mang hai mặt đối nghịch: một bên là sự đại lượng, một bên là thủ đoạn. Sao này cần được phân biệt rõ với Địa Không, và có mối quan hệ đặc biệt với Hồng Loan, Đào Hoa trong chuyện tình duyên. Tuần và Triệt lại là hai dạng chướng ngại xuất hiện đột ngột trên lá số, cùng mang tính ngăn trở nhưng cần được phân biệt rõ. Quan hệ của Tuần Triệt với Thiên Tướng và với Lộc Mã được bàn kỹ, vì chính những sao này chịu ảnh hưởng rõ nhất khi bị chặn. Mỗi cung vị lại có những câu phú luận riêng về Tuần Triệt, nên sức chặn của chúng không thể đoán theo một công thức cố định.
Mục lục · 2 phần
Sao Thiên Không
Thiên Không bị kể vào hàng tạp diệu (sao cấp ba) nhưng tác dụng của nó vào số lại mang nhiều kỳ bí. So với Địa Không cùng một tính chất "Không" nhưng nhu hòa và mềm dẻo, uyển chuyển, thủ đoạn hơn.
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có ghi một câu ở mục Thái Vi phú chú giải: "Không vong định yếu đắc dụng, Thiên Không tối vi khẩn yếu" — nghĩa là tác dụng không vong mạnh hơn hết là Thiên Không. Nhưng trong Bí kinh lại ghi mấy câu:
Giá tiền nhất vị thị Thiên Không
Thân Mệnh nguyên thị bất khả phùng
Nhị chủ Lộc Tồn nhược phùng thủ
Diêm Vương bất phạ, hưu anh hùng.
Nghĩa là: trước Thái Tuế một cung là Thiên Không, Thân với Mệnh không nên gặp nó; Tử Vi, Thiên Phủ hay Lộc Tồn mà gặp Thiên Không thì kể như đi vào đất chết. "Thân Mệnh nhược phùng tứ Không, phi tăng tất đạo — tứ Không giả: Thiên Không, Triệt Không, Địa Không, Tuần Không" nghĩa là: Thân với Mệnh không nên hội bốn Không (Thiên Không, Triệt Không, Tuần Không và Địa Không) — nếu gặp chúng thì chẳng đi tu cũng cô đơn, khốn cùng.
Những lời phê trên về tứ Không là võ đoán, không đúng, và mang tính cách trói voi bỏ rọ. Các sao trong Tử Vi khoa không nông cạn, sốc nổi như thế — qua những luận về Không Kiếp đã chứng minh rồi. Bây giờ ta đi vào ý nghĩa biến ảo của Thiên Không.
Thiên Không là "mục không nhất thiết", theo lời giải của Vương Đình Chi. "Mục không nhất thiết" nghĩa là không màng chuyện đời, hoặc không coi chuyện đời ra gì, nhưng khi đảo ngược lại thật tha thiết với chuyện đời để chuyển thành thủ đoạn, mưu chước.
Hai mặt của Thiên Không: đại lượng và thủ đoạn
Thiên Không có lúc đại lượng vô cùng, với tấm lòng mở rộng như hang núi; lại có lúc chặt chẽ, chu mật, đáng sợ như hai mặt của đồng tiền. Thiên Không cũng mang căn bệnh nặng là ưa thiên về ảo tưởng. Đại lượng, mưu chước hay ảo tưởng tùy thuộc khi nó đi cặp với sao nào.
Khi Thiên Không đứng cùng với Hồng Loan thì tính chất không màng chuyện đời tăng đến mức tuyệt đỉnh — muốn tìm nơi vắng vẻ mà tu ẩn, hoặc mình sống với nội tâm mình, đóng cửa đọc sách, thích sống cô quạnh, hoặc cũng tự đặt mình vào tình cảnh cô quạnh ấy.
Nhưng lúc Thiên Không đứng với Đào Hoa thì khác hẳn, có nhiều suy tính, kế mưu. Trường hợp Thiên Không hội hợp cả Đào lẫn Hồng thì sao? Thì cuộc đời sau khi phấn đấu hăng say rồi chán mà quy ẩn, hoặc ngay cả đang khi làm việc mà tâm tư vẫn u uất, quạnh hiu. Thiên Không đứng với Hồng Đào mang cả Nho lẫn Đạo ở trong người.
Thiên Không gặp Thiên Tướng đắc địa là kẻ có quyền uy trên võ nghiệp, với khả năng quân sự hơn người.
Câu phú: "Thiên Không thủ ư Thân Mệnh, chủ nhân tác sự hư không, bất thành chính đạo, thành bại đa đoan, bất tụ tài" — nghĩa là sao Thiên Không đóng tại Mệnh, Thân cung, con người làm việc khó hiểu, không theo chánh đạo, nên thành bại nhiều lần, tiền tài không tụ.
Căn cứ nghĩa của câu phú trên, thấy rõ bản chất mưu lược, kế sách của Thiên Không — vậy thì chất "mục không nhất thiết" phải có hai mặt chính phản, không chỉ phiến diện. Gặp Thiên Tướng thành mưu lược; đứng cùng Đào Hoa thành thủ đoạn.
Thiên Không không ồn ào như Không Kiếp, và biết tiến thoái hơn Không Kiếp ở điểm "tác sự hư không, bất thành chính đạo". Người Mệnh có Thiên Không khó hiểu hơn Mệnh có Không Kiếp.
Chuyện Hạng Vũ và sự phân biệt Thiên Không với Địa Không
Có câu phú thường thấy ở bất cứ sách Tử Vi nào là: "Kiếp Không hạn lâm Sở Vương táng quốc Lục Châu vong" và "Hạng Vũ anh hùng, hạn chí Thiên Không nhi táng quốc". Hai câu nói về lý do Hạng Vũ thất bại vì hạn gặp Không — câu trên nói Kiếp Không, câu dưới nói rõ Thiên Không. Vậy thì Kiếp Không có thể là Địa Không chứ không phải Thiên Không. Tuy hai câu khác nhau, nhưng khả dĩ kết luận: hễ vận hạn gặp Không thì Không nào cũng gây khó khăn cả.
Vài điểm cần chú ý
Thiên Cơ, Cự Môn thủ Mệnh, hay Thiên Đồng, Thiên Lương đóng Mệnh gặp Hóa Kỵ (Cơ Cự) hay gặp Thiên Mã (Đồng Lương), không nên có Thiên Không — Thiên Không ở các trường hợp trên thêm chất phù động, thiếu thực tế.
Mệnh Xương Khúc, Hoa Cái mà gặp Thiên Không thì tính chất ảo tưởng trở thành tư tưởng triết lý.
Tham Lang đóng Tí gặp Thiên Không, số nữ tình duyên rắc rối vì thiếu chuyên nhất. Cự Môn đóng Sửu, Hợi gặp Thiên Không lận đận công danh.
Những câu phú liên quan đến Thiên Không
Thiên Không liệt ư Mệnh viên chung thân phong hoa ách.
Mệnh gặp Thiên Không suốt đời vướng tai ách về trai gái — phải chăng là Thiên Không đứng cùng Hồng Loan thì vậy?
Mệnh Không hạn Không vô cát tấu công danh tắng đằng.
Mệnh Không lại đến hạn Không mà thiếu hẳn các sao tốt, ắt công danh lận đận.
Thiên Không, Hóa Kỵ tối kỵ Quan cung, nhi phùng Âm Dương phản bối công danh vãn tuế tất thành.
Thiên Không, Hóa Kỵ gây phiền khi vào cung Quan Lộc, nhưng nếu chúng gặp Nhật Nguyệt hãm thì về già lại thành công, thành danh — Không Kỵ ở đây đã làm đảo lộn tình trạng phản bối của Thái Âm, Thái Dương.
Thìn Tuất Tướng ngộ Thiên Không
Cát tinh gia hội uy trọng quyền ngoài.
Việt Đà tiếng nói khoan thai
Đồng Không Hư Nhẫn lắm lời thị phi.
Mệnh vô chính diệu tam Không
Nhật Nguyệt giao chiếu dự phần công khanh.
Sinh lai đoán hãy khắc xung
Hễ là Địa Kiếp Thiên Không chẳng nhiều.
(Cung Bào Huynh thấy Địa Kiếp, Thiên Không thì ít anh em.)
Tứ Không ngộ Mã chẳng bàn
Có chồng còn bỏ theo làng bướm hoa.
(Một trong bốn sao Không xuất hiện ở cung Phối mà gặp Thiên Mã.)
Tuần Triệt
Tuần với Triệt đều có chung một tác động gọi bằng không vong, gọi tắt là Triệt Không và Tuần Không — nguyên tên là Triệt lộ không vong và Tuần trung không vong. Tuần và Triệt khi trấn đóng đều đứng liền hai cung.
Với Triệt Không thì cung dương là chính và cung âm là phụ, với người tuổi dương can; với người tuổi âm can thì cung âm là chính và cung dương là phụ. Chính thì tác động mạnh hơn, phụ tác động yếu hơn.
Bản chất Triệt Không gồm có không hư và ảo tưởng, giống như Thiên Không, Địa Không. Nhưng nó còn mang đến những chướng ngại đột nhiên, điểm này mới là chủ yếu — gọi bằng Triệt lộ, ví như người đang đi đường mà đường bị sụt xuống, hoặc có núi lở ngăn chặn, Triệt mất đường đi lối về.
Triệt gây hại nhất đối với Lộc Mã — Mệnh có Lộc Mã hoặc vận có Lộc Mã mà gặp Triệt thì kể như không có Lộc Mã. Triệt có thêm lưu niên Triệt nữa, chứ không chỉ có Triệt đóng chết trên lá số.
Thường thấy phổ biến lý luận rằng sau ba mươi tuổi thì ảnh hưởng Triệt không còn. Chẳng có gì để chứng minh điều này là đúng. Qua kinh nghiệm thì bất cứ lúc nào Triệt cũng gây hại, hoặc làm cho đỡ hại, trước hay sau ba mươi gì như nhau. Có thể suy ra rằng sau ba mươi tuổi tác đã chín chắn, có phần nào kinh lịch thì sự tai hại bớt đi chăng?
Luận cứ "Triệt đáo kim cung sẽ giúp cho những sao của hai cung này tốt đẹp hơn" là không đúng. Cung Thân (kim) mà có Lộc Mã bị Triệt vẫn bị hỏng như thường.
Triệt kỵ nhất với Thiên Tướng
Triệt kỵ nhất đối với sao Thiên Tướng, rồi mới đến Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Lương — nói chung thì Triệt hãm hại cát tinh nhiều hơn hung tinh. Mệnh Thiên Tướng gặp Triệt dễ bị tai nạn lớn, nguy hại cho tính mạng, càng ở đắc địa càng nặng. Có câu ca rằng:
Thiên Tướng miếu địa gặp ngay
Triệt không án ngữ thân nay khó toàn
Hoặc vì súng đạn đao gươm
Tứ chi đầu mặt tật thương đó mà.
Triệt chỉ đem lại lợi ích khi nó gặp Thái Âm, Thái Dương hãm — như Âm ở Dần, Mão, Thìn, Tị; Dương ở Dậu, Tuất, Hợi, Tí; hoặc nó gặp các hung sát tinh bất lợi cho Mệnh, cho vận.
Sách Tử Vi Đẩu Số Tinh Diệu Tổng Đàm viết: Mệnh Thiên Đồng, Thiên Lương đứng cùng Hóa Kỵ mà gặp Triệt án ngữ, thành ra người tuyệt đối chủ quan.
Trường hợp Mệnh vô chính diệu
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không nói gì đến cách Mệnh vô chính diệu gặp Triệt, Tuần, Thiên Không, Địa Không (tức tam hoặc tứ Không), nhưng tập Thần Kế Định Số của Lê Quý Đôn thì có đề cập đến ảnh hưởng tốt của Triệt khi vào cung Mệnh vô chính diệu, qua các câu phú:
Mệnh vô chính diệu hoan ngộ tam không hữu song Lộc phú quý khả kỳ.
Mệnh không có chính tinh rất mừng có tam Không, giàu sang khi có cả song Lộc.
Mệnh Triệt Thân Tuần tu cần vô hữu chính tinh vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.
Mệnh bị Tuần, Thân gặp Triệt, được Mệnh không chính tinh thì lúc vào luống tuổi đời mọi sự tốt đẹp.
Trở lại sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, ta thấy lời chú ghi bên dưới câu phú về Thiên Không như sau: "Mệnh cung kim không tắc phát, nhị hạn gặp nên phúc; nếu thủy không sẽ lan tràn ngập lụt, mộc không ắt là gãy đổ, thổ không thì đất sụt." Phải chăng "Triệt đáo Kim cung" và "Tuần cư Hỏa địa" căn cứ vào câu phú trên đây? Nó đòi hỏi phải Mệnh vô chính diệu mới thật toàn bích? Nếu vậy thì Mệnh vô chính diệu chỉ ở cung Kim, cung Hỏa mới hay?
Phân biệt Tuần với Triệt
Nói sang Tuần Không, toàn danh của nó là Tuần trung không vong. Tuần cũng phân ra chính với phụ như Triệt. Tuần sức công phá của tính chất "triệt lộ" không bằng Triệt — bởi vậy Thiên Tướng sợ Triệt gây nguy hại hơn Tuần. Triệt phá hoại đột nhiên từ hoàn cảnh; Tuần lại trễ nải tự nơi mình. Cho nên mới có cái cách "Thìn Tuất Phá ngộ Tuần Khoa lại nên hay" — nhờ Tuần khiến tự mình sửa lại cho ngay ngắn bản chất xông xáo, bừa bãi của Phá Quân. Sự khác biệt căn bản giữa Tuần với Triệt là thế.
Nói tóm lại, Tuần công phá nhẹ hơn Triệt, chứ không phải Tuần kéo dài sự phá hoại còn Triệt thì sau ba chục tuổi hà hơi đi.
Về tính không tưởng, ảo tưởng, Tuần Triệt kém Thiên Không ở điểm: Thiên Không khi thành tư tưởng triết lý có thể hệ thống, tổ chức hơn Tuần Triệt — Tuần Triệt tư tưởng triết chỉ đột nhiên thôi. Bởi vậy Thiên Không gặp Xương Khúc hay hơn Xương Khúc bị Tuần Triệt.
Sao rất kỵ với Triệt khác là Thiên Mã. Thiên Mã ngộ Triệt gọi bằng "Triệt túc mã", ngựa gãy chân. Mã đứng với Lộc bị Triệt làm ăn thất bại. Mã đứng một mình không cùng Lộc dễ bị té ngã, thương tích.
Tìm hiểu thêm về Tuần Triệt qua các câu phú
Tam Không độc thủ phú quý nan toàn.
Mệnh vô chính diệu chỉ có tam Không mà thiếu Khoa Quyền Lộc, Lộc Tồn thì giàu sang không lâu bền.
Tuần Triệt ngộ Thiên Hình tha hương cách lý.
Mệnh có Tuần Triệt gặp sao Thiên Hình thường xa quê hương bản quán.
Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại.
Tuần Triệt không nên gặp Lộc Tồn, cơ nghiệp không giữ được.
Tuần Triệt án ngữ trạch điền
Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.
Tam Không hội Văn Xương ư Thê cung thiềm cung triết quế.
Cung Thê không chính tinh có Văn Xương với tam Không thì lấy vợ con nhà danh giá.
Triệt Tuần ngộ Mã hành Thê vị
Vợ bỏ chồng đào tị tha hương.
Cung Huynh Đệ Triệt Tuần xung củng
Chim đầu đàn bay bổng xa khơi.
Tam Không chiếu hội tao cát diệu
Lại dưỡng tinh có đạo con nuôi.
(Cung Tử Tức không chính tinh, gặp tam Không và sao Dưỡng.)
Không phùng Phá Tử phối vào
Vợ chồng trắc trở ba tao mới thành.
(Cung Phu Thê có Tử Phá bị Tuần Triệt.)
Triệt Tuần xung khắc chẳng sai
Thiên hư bất chính cả hai vợ chồng.
Phúc hữu chính tinh kỵ ngộ Triệt Tuần hoặc gia sát diệu lai ngộ Kiếp Cự thủy nịch tử.
Cung Phúc sao chính sợ gặp Triệt Tuần, lại thêm Địa Kiếp, Cự Môn dễ chết đuối.
Tam Không xung sát hạnh Triệt khả bằng; tứ chính giao phùng kỵ Tuần trực đối.
Vận hạn bị các hung sát chiếu mà cung vận hạn có Triệt sẽ đỡ; vận hạn có nhiều sao tốt chiếu mà cung vận hạn có Tuần trở thành vô ích.
Thân cư Thê vị, Triệt Tuần lai xâm thiếu niên ai lệ nãi thất tình; gia lâm cát tú lương duyên mãn kiếp.
Thân đóng cung Thê bị Tuần Triệt, tuổi trẻ thất tình; có cát tinh phò trợ thì luống tuổi được duyên lành.
Thân cư Quan Lộc nhược kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu vũ lộ thừa ân khả đãi quá trung tuần dĩ hậu.
Thân đóng cung Quan Lộc bị Triệt Tuần, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, tuổi trẻ danh phận bôn ba; có cát tinh hội tụ thì ngoài tuổi năm mươi mới được hưởng ơn mưa móc.
Thân tại Quan cung gia sát diệu Triệt Tuần, nữ mệnh nan bảo thân danh; gia kiến Bạch Tang thân cô trích ảnh, nghi gia văn tuế tất thành.
Thân đóng Quan Lộc gặp sát tinh và Triệt Tuần, số gái khó bảo toàn danh tiết; lại thêm Bạch Hổ, Tang Môn thì cô đơn, phải muộn tuổi mới lấy chồng.
Triết túc Đà Mã sum vầy
Tử mã Tuần Triệt đêm ngày khảm kha.
(Mã bị Tuần Triệt là ngựa chết, cuộc đời khảm kha.)
Mệnh vô chính diệu tam không
Nhật Nguyệt giao chiếu dự phần công khanh.
Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính
Mã gặp Không thì tính phiêu bồng.
(Triệt Không và Địa Kiếp.)
Tam Không ngộ Dưỡng đinh ninh
Nuôi con nghĩa tử giúp mình yên vui.
Dưỡng, Thai Triệt Vượng thấu vào
Trong anh em có dị bào chẳng không.
Tang Môn Hư Khốc chẳng hay
Tuần Triệt viễn phối hoa may mới thành.
(Đây là những sao đóng ở cung Phu, Thê.)
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
